Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn đực lai ly và l19 nuôi tại tỉnh bắc giang - Pdf 89


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TH ÂN VĂN HIỀN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG
SẢN XUẤT CỦA LỢN ĐỰC LAI LY VÀ
L19 NUÔI TẠI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


L19 NUÔI TẠI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Văn Phùng

Th¸i nguyªn, N¨m 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN - Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả


Nhân dịp hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, cho phép tôi được
bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến PGS. TS. Trần Văn Phùng người hướng dẫn khoa
học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi tới các thầy cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi thú y và các
thầy cô ở trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành về sự
giúp đỡ trong thời gian học tập tại trường.
Cho phép tôi được bày tỏ lời cám ơn tới Công ty cổ phần giống chăn nuôi Bắc
Giang và các hộ chăn nuôi lợn nái giống Móng cái trên địa bàn 4 xã và Thị trấn Đồi Ngô -
huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang về sự hợp tác, tạo điều kiện hoàn thành các thí nghiệm
của luận văn.
Tôi xin cám ơn gia đình, cơ quan và bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập. Thái Nguyên, ngày 29 tháng 11 năm 2008
Tác giả
Thân Văn Hiển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
Môc lôc
Nội dung Trang
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii

2.3.3. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của đàn lợn con sinh ra khi cho phối
giống bằng tinh dịch của lợn đực giống kiểm tra với lợn cái giống Móng Cái
44

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
2.4. Phương pháp nghiên cứu 44
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của lợn đực
giống kiểm tra
44
2.4.2. Phương pháp đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 49
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của
đàn lợn con từ sơ sinh đến khi cai sữa và từ khi cai sữa đến 56 ngày
51
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 52
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Kết quả đánh giá khả năng sản xuất tinh dịch của lợn đực giống nuôi
tại Bắc Giang
53
3.1.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về chất lượng tinh dịch của lợn đực
giống kiểm tra
53
3.1.2 Tổng hợp chất lượng tinh dịch của 3 giống lợn đực giống kiểm tra 58
3.1.3 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến các chỉ tiêu thể tích, hoạt lực,
nồng độ và VAC của lợn đực giống nuôi tại Bắc Giang
61
3.1.4. Sức sống và thời gian sống của tinh trùng lợn trong môi trường TH5 66
3.2. Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu khả năng sinh sản của nái giống
Móng Cái khi phối giống với các lợn đực giống kiểm tra
67

58
Bảng 3.5 Đặc điểm khí hậu tỉnh Bắc Giang vụ đông xuân và hè thu 62
Bảng 3.6 Chất lượng tinh dịch của lợn Landrace, lợn đực lai LY và lợn
đực lai L19 trong vụ đông xuân và hè thu
63
Bảng 3.7 Sức sống và thời gian sống của tinh trùng lợn trong môi trường
TH5 (giờ)
66
Bảng 3.8 Kết quả theo dõi về tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra và sản l ượng sữa
của lợn nái giống Móng Cái khi phối giống với các lợn đực
giống kiểm tra
68
Bảng 3.9 Sinh trưởng tích luỹ của lợn qua các giai đoạn tuổi (kg) 73
Bảng 3.10 Sinh trưởng tương đối của lợn qua các giai đoạn tuổi (%) 76
Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn qua các giai đoạn tuổi (g/con/ngày) 77
Bảng 3.12 Tiêu tốn thức ăn / kg lợn con lúc cai sữa 79
Bảng 3.13 Tiêu tốn thức ăn/kg TKL lợn con từ cai sữa đến 56 ngày tuổi 80
Bảng 3.14 Chi phí thức ăn/ kg lợn con lúc cai sữa 82
Bảng 3.15 Chi phí thức ăn / kg lợn con từ cai sữa đến 56 ngày tuổi 83

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Biểu đồ và đồ thị Trang
Đồ thị 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của lợn (kg)
75
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn (g/con/ngày)
78

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi
tăng bình quân 8,5%/năm. Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản
xuất nông nghiệp tăng từ mức 22,4% (năm 2003) lên 24,1% (năm 2007) và
chăn nuôi đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá đặc biệt quan trọng trong
nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi lợn hiện đang đóng vai trò rất lớn
trong việc cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu. Theo số
liệu thống kê, năm 2007 cả nước có khoảng 26,56 triệu con lợn, sản phẩm thịt
lợn là 2,55 triệu tấn tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2006, chiếm khoảng 76 -
77% tổng sản lượng thịt các loại. Trong đó có khoảng 3,8 triệu con lợn nái
(chiếm 14,3% tổng đàn), lợn nái ngoại có 425,8 ngàn con, nái lai 2.881,6
ngàn con và nái nội khoảng 494,2 ngàn con (Bộ NN & PTNT (2008)[7].
Để có được đàn lợn thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh và đạt tỷ lệ nạc ở
mức độ tối đa của phẩm giống. Bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc,
cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại…việc tạo ra
những tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm của mỗi giống, mỗi
dòng và đặc biệt việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn là rất cần thiết.
Nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước cũng như trong thực tiễn
của sản xuất đã khẳng định, những tổ hợp lai nhiều dòng giống khác nhau đều
làm tăng số con sơ sinh/ổ, nâng cao tốc độ sinh trưởng, giảm chi phí thức
ăn/1kg thể trọng, nâng cao tỷ lệ và chất lượng thịt nạc, rút ngắn thời gian chăn
nuôi… Vì vậy, hầu hết các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển trên thế giới
đều sử dụng tổ hợp lai để sản xuất lợn thịt thương phẩm, đã mang lại năng
suất và hiệu quả kinh tế cao, giảm chi phí thức ăn và thời gian nuôi. Ở nước
ta, bên cạnh các giống lợn thuần cao sản đã được sử dụng như: Yorkshire (Y),

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2

đực lai, trên thực tế đã chứng minh là một trong những biện pháp để tạo ra
con lai thương phẩm có tỷ lệ lai của nhiều giống, góp phần nâng cao tỷ lệ nạc.
Tuy nhiên những nghiên cứu về khả năng sản xuất của các dòng lợn đực này
trên địa bàn tỉnh chưa được tiến hành. Việc theo dõi đánh giá khả năng sản
xuất tinh dịch của lợn đực lai ngoại, ảnh hưởng của nó đến đàn con khi được
phối giống với đàn nái Móng cái là những vấn đề hết sức cần thiết, nhằm đáp
ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc sản xuất hàng hoá cho tỉnh
Bắc Giang trong những năm tiếp theo.
Xuất phát từ những yêu cầu và tầm quan trọng đó, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn đực lai LY và
L19 nuôi tại tỉnh Bắc Giang".
2. Mục tiêu của đề tài
Đánh giá khả năng sản xuất của một số dòng lợn đực lai nuôi tại tỉnh
Bắc Giang và ảnh hưởng của nó tới sức sản xuất của đàn nái giống Móng C¸i.
Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi lợn đực giống nói riêng và
chăn nuôi lợn hướng nạc sản xuất hàng hoá nói chung của tỉnh Bắc Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Theo di truyền học, kiểu hình là kết quả tác dụng của kiểu gen với điều
kiện ngoại cảnh.
P = G + E
Trong đó: P: Giá trị kiểu hình
G: Giá trị kiểu gen
E: Điều kiện ngoại cảnh
Ngày nay, công tác nghiên cứu đều cho thấy, các tính trạng số lượng
mà phần lớn là các tính trạng có ý nghĩa kinh tế như: mức tiêu tốn thức ăn,
khả năng tăng trọng… đều phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh. Điều
này có thể là các biến dị di truyền như biến dị di truyền cộng gộp, tương tác
gen. Những tính trạng di truyền thấp chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện
ngoại cảnh (Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1998) [51].
Đối với các tính trạng số lượng như khả năng tích luỹ nạc, các gen
đồng hợp tử quyết định tính trạng này tăng lên thì khả năng tích luỹ nạc cũng
tăng lên. Theo lý thuyết, ở đàn lợn thuần chủng (chủ yếu ở lợn ngoại), hầu hết
có các gen quyết định khả năng tích luỹ nạc. Khi ta chọn các dòng, giống lợn
có khả năng tích luỹ nạc cao cho giao phối với nhau qua nhiều thế hệ sẽ dẫn
đến tăng số gen tương đồng trong dòng. Đây chính là phương pháp mà các
nhà chọn giống sử dụng để cải tiến nâng cao tỷ lệ nạc ở lợn.
* Cơ sở khoa học của ƣu thế lai
Ưu thế lai đã được Shull, nhà di truyền học người Mỹ đề cập đến từ
năm 1914. Sau đó vấn đề ưu thế lai được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng
rãi ở động vật và thực vật. Theo ông, ưu thế lai là tập hợp của những hiện
tượng liên quan đến sức phát triển nhanh hơn, khả năng chống chịu bệnh tốt
hơn và năng suất cao hơn ở thế hệ đời con so với bố mẹ. Hiện nay ở nhiều
nước chăn nuôi lợn phát triển, 70 - 90% lợn nuôi thịt là lợn lai. Tại đó, ưu thế
lai được coi là một nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạ giá thành sản


7
* Đối với đàn lợn đực giống
Người ta đã cho phối giống tạp giao giữa các giống lợn. Đây là phương
thức chính để sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, tạp giao pha máu thường áp
dụng trong các trường hợp khi đã có một giống vật nuôi mà tính năng sản
xuất của nó tương đối tốt, nhưng nó vẫn còn một số nhược điểm nào đó. Nếu
áp dụng biện pháp chọn lọc nhân thuần để cải tiến nhược điểm này thì mất rất
nhiều thời gian. Khi đó, chúng ta có thể dùng giống vật nuôi này (bị pha máu)
và giống vật nuôi khác có các ưu điểm mà giống kia không có để làm giống
(đi pha máu). Đem con giống này tạp giao pha máu với nhau tạo thành con lai
để làm giống luôn có sức sống cao hơn, sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.
Trong công tác giống, dùng hai hoặc trên hai giống để tiến hành tạp
giao, sau đó chọn lọc các đời lai tốt để tạo thành giống mới gọi là tạp giao gây
thành. Sau khi phối giống tạp giao để có được đời con lai đạt các yêu cầu đề
ra, cần tiến hành chọn lọc, bồi dục con giống, có thể sử dụng con đực lai này
phối giống với con cái giống khác để sản xuất ra con lai sử dụng nuôi thương
phẩm mà không để làm giống.
* Đối với lợn lai thuộc các công thức lai
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế cho thấy, việc lai giống đã mang
lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi lợn. Hiện nay trên thế giới ở
những nước phát triển, trong chăn nuôi lợn, người ta đã sử dụng tới 90% con
giống thương phẩm là con lai. Tuy nhiên việc kết hợp giữa hai giống nào có
ưu thế lai cao còn phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp
lai dựa trên giá trị giống.
Để có được đàn lợn lai nuôi thịt có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn
thức ăn/kg tăng trọng thấp, tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai
còn được tổ chức theo sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa
nhiều dòng giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau:
- Đàn cụ kỵ (GGP) có nhiệm vụ nhân các dòng, giống thuần.


9
Thuyết trội: Các gen có lợi phần lớn là gen trội, con lai tập hợp được
nhiều gen trội hơn bố mẹ. Các tính trạng về năng suất sinh sản, sinh trưởng và
cho thịt là những tính trạng số lượng do nhiều kiểu gen điều khiển vì vậy ít
khi có đồng hợp tử, thế hệ con lai tạo ra giữa hai cá thể được biểu hiện do các
gen trội của bố và mẹ.
Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với
hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen dị hợp tử có tác động
lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử.
Aa > AA > aa theo Shull GH. (1952) [70]
Thuyết át gen cho rằng: Hai giống đã hình thành nên tổ hợp gen mới
trong đó tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locut là nguyên nhân
tạo ra ưu thế lai.
Hay có thể nói cách khác, lợn lai được tạo ra từ các công thức lai, đây
là một phương pháp nhân giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ
sau giảm đi, còn kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên, phương pháp này là
phương pháp tạp giao. Theo nghĩa rộng, tạp giao là cho giao phối các cá thể
có kiểu gen khác nhau. Trong thực tế chăn nuôi tạp giao là cho giao phối giữa
các cá thể thuộc hai dòng trong cùng một giống, thuộc hai giống khác nhau.
Do vậy, tạp giao sẽ tạo ra đời con lai có sức sống tốt hơn, khả năng thích ứng
và chống đỡ bệnh tật cao hơn đồng thời làm tăng khả năng sinh sản, sinh
trưởng và cho sản phẩm (Nguyễn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1998) [51].
Theo thuyết gen trội: Gen trội phần lớn là các gen có lợi và át gen lặn.
Do đó qua tạp giao có thể đem các gen trội của cả hai bên bố và mẹ tổ hợp lại
ở đời lai, làm cho đời lai có giá trị cao hơn hẳn so với bố mẹ.
Ưu thế lai mang đến từ 3 kiểu: Từ cá thể, từ con mẹ, từ con bố. Con lợn
lai thể hiện ưu thế lai cá thể, làm cho tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nuôi sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10

11
trường, tai to rủ úp về phía trước, bụng gọn, ngực không sâu lắm, mông nở và
đầy, lưng rộng, thân hình nhọn đầu về phía trước, tứ chi vững chắc, tỷ lệ nạc
từ 54-56%, lợn nái đẻ từ 11-12 con/lứa. Việt Nam đã nhập lợn Landrace của
một số nước như Bỉ, Nhật, Cu Ba về để nuôi thuần và sử dụng trong các công
thức lai.
Lợn đực lai F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) (ký hiệu: LY)
Lợn đực lai LY là những dòng lợn đực được chọn lọc theo hướng sinh
sản tốt, chuyển hoá thức ăn cao, nuôi con khéo và ngoại hình đẹp, tăng trọng
nhanh và tỷ lệ nạc cao.
Dòng lợn này có đặc điểm ngoại hình như sau: Thân hình dài vừa phải,
ngực nở, mông nở, bụng gọn, bốn chân chắc khoẻ, mõm dài, hai tai to, hơi
đưa ngang về phía trước, lông da màu trắng, có 12 vú trở lên.
Lợn đực lai dòng L19 (♂Duroc x ♀Yorkshire) (Ký hiệu L19)
Lợn L19 còn được gọi là dòng Duroc trắng được tạo ra ở Anh, dòng
lợn L19 được tạo ra từ việc lai tạo giữa hai giống Duroc trắng và giống lợn
Yorskhire. Dòng L19 dùng để phối giống với lợn cái ông bà C1230 và C1050
để sản xuất ra lợn giống bố mẹ CA và C22.
Lợn L19 là dòng lợn đực giống có lông da màu trắng, tròn mình, mông
vai nở, bốn chân chắc khoẻ, chất lượng thịt tốt, có tỷ lệ nạc từ 56-58%, thịt có
nhiều mỡ giắt.
1.1.3. Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục của lợn
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ trong cơ thể. Đó là sự
tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toàn bộ
cơ thể con vật trên cở sở bản chất di truyền của đời trước quy định. Trong chăn
nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn liên quan tới khối lượng cai sữa, khối
lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và hiệu quả chăn nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12

Màu sắc của tinh dịch
Bình thường tinh dịch lợn thường có màu trắng sữa hoặc như nước vo
gạo. Nhiều lợn đực nội (đặc biệt là lợn đực trưởng thành) do nồng độ tinh
trùng thấp nên tinh dịch loãng và trong hơn so với lợn ngoại. Cần chú ý loại
bỏ những tinh dịch có màu không bình thường như:
- Màu vàng: do tinh dịch có thể lẫn nước tiểu.
- Màu đỏ hồng: Tinh dịch có thể lẫn máu.
- Màu xanh hoặc vàng đục: Có thể lẫn mủ.
Mùi của tinh dịch lợn
Tinh dịch của lợn đực bình thường có mùi đặc biệt. Không nên sử dụng
những tinh dịch có mùi khác thường như: Mùi khai (có lẫn nước tiểu), mùi
hôi, thối...
Độ vẩn của tinh dịch
Nó thể hiện sức sống và nồng độ tinh trùng. Có thể dùng chỉ tiêu này để
đánh giá sức sống và độ đậm đặc của tinh dịch bằng mắt thường.
Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [47] thì độ vẩn của tinh
dịch như sau:
Khi tinh dịch đậm đặc, người ta nhận thấy có trạng thái chuyển động
trong lòng chất lỏng sẽ ghi nhận bằng ký hiệu: + + +
Khi tinh dịch có độ đậm đặc trung bình, độ vẩn được ký hiệu: + +
Khi tinh dịch loãng, nhận thấy độ đậm đặc hầu như không đáng kể,
được ký hiệu: +
Đối với tinh dịch lợn ngoại, độ vẩn thường đạt + + +, lợn lai và lợn
giống mới thường đạt + +, còn lợn nội thường đạt +.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Tinh dịch lợn đực gồm hai phần tinh thanh và tinh trùng
Tinh thanh là hỗn hợp chất lỏng được tiết ra từ các tuyến sinh dục phụ
và dịch phụ hoàn. Tinh thanh chiếm phần chủ yếu trong tinh dịch. Ở lợn, tinh

trường. Do vậy ở các giống lợn khác nhau, môi trường khác nhau thì độ tuổi
và khối lượng cơ thể khi thành thục cũng khác nhau (Trần Cừ, 1985 [11]; Lê
Xuân Cương, 1986) [12].
Tinh trùng là thành phần có ý nghĩa sinh học quan trọng nhất trong tinh
dịch. Tinh trùng lợn gồm 3 phần: Đầu, cổ thân và đuôi. Về mặt hình thái và kích
thước, phần đầu dài khoảng 9 - 10 , phần cổ thân dài 10 - 12 ; còn phần đuôi
dài 30 - 32 . Phần đầu của tinh trùng có Acrosome bao bọc, trong đó có chứa
các men như Hyaluronidase; Acrosine và Phosphatase có tác dụng làm tan rã
màng phóng xạ và màng trong suốt của trứng để tinh trùng tiếp cận với noãn
hoàng trong quá trình thụ tinh. Vì vậy việc đánh giá tình trạng của Acrosome
của tinh trùng là rất cần thiết (Nguyễn Tấn Anh, 1990). Do lớp protit của
Acrosome ở tinh dịch của tinh trùng lợn đực dễ bị trương phồng hay bị bong
ra khỏi đầu tinh trùng làm cho các enzyme thoát ra ngoài và dẫn đến mất khả
năng thụ thai (Nguyễn Tấn Anh 1994) [5]. Thân và đuôi tinh trùng giúp cho
tinh trùng vận động nhờ sự co rút của các sợi cơ ở thân và đuôi. Sự vận động
của tinh trùng trong đường sinh dục rất quan trọng, sức hoạt động tốt thì tinh
trùng mới có cơ hội di chuyển ngược dòng gặp trứng để thụ tinh.
Dưới kính hiển vi điện tử với độ phóng đại khoảng 2.000 - 3.000 lần,
nếu nhìn thẳng người ta có thể phân biệt và chia tinh trùng ra làm 3 phần:
Phần đầu hình trứng hơi dài; Phần cổ mảnh và ngắn; Phần đuôi dài và mảnh,
càng về cuối càng mảnh. Nếu nhìn nghiêng, đầu hình phiến hơi cong, sau đó
là cổ, thân và đuôi cụ thể như sau:
* Phần đầu của tinh trùng:
Đầu có hai phần cơ bản: Nhân và Acrosome. Nhân của tinh trùng cấu
tạo bằng Chromatin đậm đặc. Nhân chiếm 76,7 - 80,3% thể tích đầu và được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
nén chặt lại gần như một tinh thể. Nhân chứa thông tin di truyền của con đực.
Xung quanh nhân là nguyên sinh chất. Phần trước nhân là xoang Acrosome,

của đuôi. Bó trục của đuôi chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của tinh
trùng. Bọc ti thể phân giải ATP cung cấp năng lượng cho các tay Dynein của
các cặp vi ống làm chuyển động đuôi của tinh trùng. Mỗi cặp vi ống có 2 dãy
tay Dynein (ngoài và trong), các tay này hoạt động như một “cá líp” và đi dọc
theo cặp kề bên, làm cho cặp này trượt trên cặp khác.
Việc gá lắp cầu nối hình tia giữa các cặp vi ống ngoài với vi ống trung
tâm cưỡng lại hiện tượng vừa nêu, làm cho đuôi tinh trùng bị uốn lượn.
Do các cặp vi ống ngoài trượt liên tục nên sự uốn lượn được hình thành
liên tục, được lan truyền tạo lên sự chuyển động đặc trưng của tinh trùng
(chuyển động làn sóng) đó là hiện tượng trượt theo vi ống.
Sự vận động này rất quan trọng khi tinh trùng đi vào đường sinh dục
cái để gặp trứng. Thành phần của tinh trùng có khoảng 25% vật chất khô,
75% nước. Trong vật chất khô có khoảng 85% protein, 13,2% lipid và 1,8%
chất khoáng, các chất khác tỷ lệ thấp không đáng kể. Đầu tinh trùng có chứa
ADN, còn ở đuôi chứa nhiều lipid, theo Hoàng Toàn Thắng ( 2006)[46].
Sự hoạt động của tinh trùng
Khi ở trong dịch hoàn phụ, tinh trùng hoạt động rất yếu hoặc không
hoạt động, khi được giải phóng ra ngoài, tinh trùng hoạt động mạnh bởi các
enzyme có trong tinh dịch.
Trạng thái hoạt động của tinh trùng thể hiện chất lượng tinh dịch. Nếu
tinh trùng hoạt động càng mạnh thể hiện chất lượng càng tốt, theo Nguyễn
Tấn Anh (1985) [2] tinh trùng có 3 hình thức vận động cơ bản như sau:
+ Vận động tiến thẳng: Là vận động của tinh trùng theo hướng thẳng về
phía trước trong tinh dịch khi quan sát được trên vi trường kính hiển vi.
Những tinh trùng vận động dạng này có khả năng thụ thai.

Trích đoạn Sức sống và thời gian sống của tinh trựng lợn trong mụi trƣờng TH Kết quả theo dừi một số chỉ tiờu khả năng sinh sản của nỏi giống Múng Cỏi khi phối giống với cỏc lợn đực giống kiểm tra Sinh trưởng tớch luỹ của lợn con Tiờu tốn thức ăn/1kg lợn lỳc cai sữa và 1kg tăng khối lượng từ cai sữa đến 56 ngày tuổ Chi phớ thức ăn/kg lợn cai sữa và kg tăng khối lượng từ lỳc cai sữa đến 56 ngày tuổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status