Tài liệu Tiểu luận “Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất” - Pdf 90

I. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
và tính chất của lực lượng sản xuất
1. Lực lượng sản xuất
Định nghĩa: lực lượng sản xuất và một kết cấu vật chất, bao gồm người
lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ
lao
động, thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người.
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà chủ yếu là công cụ lao động
là thước do trình độ chinh phục tự nhiên của loài người, là cơ sở xác định
trình độ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa
các thời đại kinh tế.
Năng suất lao động xã hội là thước đo trình độ phát triển c
ủa lực lượng
sản xuất. Xét đến cùng nó là nhân tố quan trọng nhất cho sự thắng lợi của một
trật tự xã hội.
2. Quan hệ sản xuất
Quan hẹ sản xuất là mối quan hê giữa người với người trong quá trình
sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ về tổ chức quản
lý; quan hệ về phân phối sả
n phẩm lao động.
Ba mặt nói trên của Quan hệ sản xuất có quan hệ hữu cơ với nhau, trong
đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định. Bản chất của bất kỳ
Quan hẹ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào việc những tư liệu sản xuất chủ
yếu trong xã hội thuộc về ai. Có hai hình thức sở hữu cơ
bản về tư liệu sản
xuất, sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội.
3) Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
và tính chất của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất, chúng tồn tại tách rời nhau mà tác động biện chứ
ng lẫn nhau, hình thành

ại, quan
hệ sản xuất lỗi thời, hoặc tiên tiến một cách giả tạo với trình độ phát triển lực
lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sớm hay
muộn nó cũng bị thay thế. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất là quy luậ
t chung nhất
của sự phát triển xã hội. Sự tác động của quy luật này đã đưa xã hội loài
người trải qua các phương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao: công xã
nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và cộng sản
tương lai.
II. Ba phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản (CNTB)
1. Phương thức sản xuất chiế
m hữu nô lệ
Lúc này, loài người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất, biết
luyện sắt và chế tạo công cụ bằng sắt, biết dùng súc vật kéo nên năng suất lao
động cao hơn, tạo ra nhiều sản phẩm hơn, không những đủ ăn mà còn có
nhiều sản phẩm dư thừa. Các yếu tố đó cho thấy trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất
đã bước lên một tầng cao mới. Quan hệ sản xuất cũ đã trở
thành chiếc áo chật chội đối với lực lượng sản xuất. Tất yếu, lực lượng sản
xuất cần một quan hệ sản xuất mới giúp nó phát triển nhanh hơn nữa. Đó là
phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ.
Trong phương thức chiếm hữu nô lệ, công cụ
được cải tiến thúc đẩy
nghề nông và nghề chăn nuôi phát triển dẫn đến sự phân công lao động lần
đầu tiên: nghề chăn nuôi tách ra khỏi nghề nông nghiệp nhờ phát minh ra
công cụ bằng kim khí, các nghề thủ công cũng phát triển rất mạnh như nghề
dệt, rèn, đồ gốm… đến lượt nghề thủ công tách ra khỏi nghề nông. Đó là phân
công lao động lần thứ hai. Phân công lao động lần thứ hai làm cho sản xuất
hàng hoá, tức là nền sản xuất nhằm mục đích trao đổi, ra đời. Phân công lao

ng công cụ biết nói,
mọi sản phẩm làm ra đều thuộc chủ nô. Do chủ nô và nhà nước của chủ nô tập
trung trong tay nhiều nô lệ, cho nên sản xuất tiến hành trên quy mô lớn. Xuất
hiện những xưởng thủ công có hàng chục nô lệ, những trang trại có hàng trăm
nô lệ tạo ra năng suất lao động cao hơn so với sản xuất nhỏ. Nô lệ trở thành
lực lượng sản xuất chủ yếu củ
a xã hội chiếm hữu nô lệ. Chế độ chiếm hữu nô
lệ trong khi cưỡng bức số đông người làm lao động chân tay giản đơn đã cho
phép số ít người có đặc quyền làm lãnh đạo quản lý nhà nước, nghệ thuật…
được phát triển. Nên trong thời kỳ này, nhiều công trình vĩ đại ra đời: Vạn lý
trường thành ở Trung Quốc, Kim tự tháp ở Ai Cập… Chính là trên cơ sở chế
độ chiếm hữu nô lệ mà loài người bước vào thời đại văn minh rực rõ: Hy Lạp,
La Mã, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc…
So với chế độ công xã nguyên thuỷ thì chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo
khả năng lớn hơn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất cả về số lượng và
chất lượng. Vì nô lệ không bị giết đi mà được sử
dụng trong sản xuất, công cụ
phát triển hơn, quy mô sản xuất mở rộng, năng suất cao, nhiều ngành mới ra
đời. Thêm một chứng minh nữa cho thấy tầm quan trọng của quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển và tính chất của lực
lượng sản xuất.
3. Phương thức sản xuất phong kiến
Chế độ chiếm hữ
u nô lệ càng mở rộng thì lao động càng bị coi là hèn
hạ, chỉ dành riêng cho nô lệ không xứng với công việc của dân tự do. Nô lệ là
lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ lại bị khinh rẻ và bạc
đãi nên nô lệ không còn quan tâm tới sản xuất, họ còn phá hoại sản xuất, nổi
dậy chống lại chủ nô. Còn dân tự do đi lính thì quá mệt mỏi với nhữ
ng cuộc
chiến tranh liên miên. Thợ thủ công bị các thương nhân và bọn cho vay nặng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status