YÃÚU TÄÚ KHÄNG GIAN VAÌ THÅÌI GIAN
TRONG TRI THÆÏC ÂI BIÃØN CUÍA NGÆ DÁN THUÁÛN AN- Nguyễn Thị Tâm Hạnh
1. Dẫn luận
Xu hướng khai hóa, truyền bá văn minh trong thời kỳ thống trị của chính sách
thuộc ñịa ít nhiều ñã tạo nên những quan niệm lệch lạc hoặc không thấy hết giá trị
của tri thức bản ñịa. Trong những thập niên vừa qua, khi tiếp cận và lý giải nhiều bài
toán hóc búa trong việc giải quyết môi trường, sinh kế, nạn nghèo ñói, kể cả những
giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, tri thức bản ñịa
ñã ñược ñặt ra và ñược nhìn nhận một cách khách quan, tích cực hơn nhiều. Người ta
ñã nghĩ ñến việc phải học và tổng kết ñược tri thức bản ñịa một vùng ñất, một tộc
người, một cộng ñồng trước khi chuyển giao hay hỗ trợ những chương trình nâng cao,
cải thiện cuộc sống của ñối tượng tiếp nhận. Vấn ñề sở hữu trí tuệ tri thức truyền
thống/tri thức bản ñịa cũng ñược thế giới ñặt ra một cách nghiêm túc bởi những giá
trị kinh tế, văn hóa, xã hội mà nó ñem lại. Hệ thống tri thức bản ñịa, vì vậy, từng
bước có ñịa vị bình ñẳng như bất cứ ngành khoa học nào.
Tri thức bản ñịa cũng là ñối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
khác nhau
1
. Trong ñó, các ñường ranh phân chia ñịa hạt nghiên cứu mà người ta
1
“Tri thức bản ñịa: ñó là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân,
hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng ñồng thông qua trải nghiệm trong
quá trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau và truyền từ ñời này sang ñời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội” (Ngô ðức Thịnh,
2004: 3).
* Núi ñồi, sải tay - những ñơn vị không gian vật lý
(3) Tính truyền thống và tính ñịa phương: Sự tích lũy và “chuyển giao” tri thức, kinh nghiệm qua
nhiều thế hệ trong một cộng ñồng tương ñối hẹp trên một không gian ñịa lý nhất ñịnh và ñược
cộng ñồng ñó thừa nhận.
Như vậy, ngay trong khái niệm, tri thức bản ñịa ñã thể hiện mình là ñối tượng quan tâm của nhiều
lĩnh vực khác nhau.
2
Từ ñầu thế kỷ XX, nhà nhân học Claude Levis Straus ñã tiên ñoán “Ngày xưa, nhân loại có
nhiều nên văn minh khác nhau nhưng cách biệt không có liên lạc gì với nhau. Người ta có thể dự
ñoán ñến thế kỷ 21 chỉ còn lại một thứ văn hóa, một thứ nhân loại. Do ñó, chúng ta (những nhà
nhân học văn hóa) tựa những nhà thiên văn học ñứng ở ñịa ñiểm dễ quan sát sự xuất hiện những
vì sao ñặc biệt và sẽ không còn xảy ra nữa. Trong hai thế kỷ và chỉ hai thế kỷ mà thôi, một nhân
loại ñi qua bên cạnh một nhân loại khác và có thể quan sát nó. Chính vì thế mà chúng tôi nghĩ
rằng, công việc của chúng tôi khẩn cấp hơn là việc nghiên cứu nguyên tử hay chinh phục không
gian là những công trình không như nhân học, bị hạn chế bởi thời gian”. Dẫn theo: (Bùi Quang
Thắng, 2001: 75).
3
Thuận An chính là một phần của làng Thai Dương ñược nhắc ñến trong “Ô Châu Cận lục” (thế
kỷ XV), cách kinh thành Huế hơn 10 km về phía ðông Bắc. Sau lưng là biển cả, trước mặt là ñầm
phá, cuộc sống của người dân nơi ñây gắn liền với ngư nghiệp từ ngày mới khai thiết lập làng. Do
ñó, nhiều kinh nghiệm ñánh bắt ñã ñược ñúc rút và trao truyền qua nhiều thế hệ.
Ngày nhìn núi, túi (tối) nhìn sao - lấy núi làm vật ñịnh vị là hình thức nhận
biết các thuộc tính và quan hệ của không gian không xa lạ ñối với nhiều dân tộc.
Trong sinh cảnh núi biển liền kề của miền Trung Việt Nam, núi song hành cùng
biển, có núi “trên cao chót vót ñến tầng mây, dưới chạy dăng ñến bờ biển, gần
như ñứng trong biển…” (QSQ Triều Nguyễn, 1997: 132), núi là hiện thực bày ra
trước mắt của người ñi biển. Hay ñúng hơn, họ chăm chăm nhìn núi như một tiêu
ñiểm, mà từ ñó, sẽ xác ñịnh ñược thị trường mưu sinh mang tính sống còn. Từ núi,
những ý niệm ñầy cảm tính về không gian cũng hình thành và ñược thể hiện một
trước kinh thành, tục gọi núi Bằng (…), ñỉnh núi bằng phẳng khắp nơi trồng cây thông” (QSQ
Triều Nguyễn, 1997: 121); “Núi Thương: ở phía Nam huyện Hương Trà, có tên nữa là núi Thiên
Dữu, hình thể khum khum cao lớn, như vựa thóc tròn, nên gọi tên thế” (Thương có nghĩa là vựa
thóc) (QSQ triều Nguyễn, 1997: 122 - 123). Trước ñó, “Ô Châu Cận Lục” cũng ñã ghi: “Núi
Thương Sơn: tại ñầu nguồn huyện Kim Trà. Dáng núi ñẹp cao nhọn lên hơn hẳn các núi non bên
ñơn ñộc thì ba hòn lao Kế ðợi sát bên nhau lùi khá xa về phía ðông Nam. Lý giải
hiện tượng “ñồng nhất” này, theo chúng tôi, phải xuất phát từ khung quy chiếu và tầm
mắt của người ñi biển. Giữa trời biển bao la, tỷ lệ kích thước giữa núi và mặt nước là
quá lớn, sự thay ñổi kích thước hay ñường nét của núi dường như không ñáng kể ñể
thay ñổi loại từ không gian
6
. Hơn thế, núi càng lớn, người ñi biển càng lùi ra xa mới
có thể nhìn nhận và mô tả nó như một hình khối. ðiều ñó có nghĩa là mẫu số (kích
thước mặt nước) và tử số (kích thước núi) luôn luôn tỷ lệ thuận. ðể minh hoạ ñiều
này, chúng ta có thể quan sát cách ñịnh vị của người ñi biển vùng Thuận An qua hệ
thống núi ñã nêu.
Trong khoảng chừng 5 hải lý trở vào, người ñi biển nhìn về phía Tây Nam,
căn cứ vào hòn ðăng, hòn ðụn, hòn Bò ñể xác ñịnh vị trí. Theo thứ tự thấp trước,
cao sau, ñỉnh của những ngọn núi này dần dần xuất hiện hiện trong tầm mắt của ngư
dân và tạo thành một tam giác thẳng góc với mặt ñất
7
, ñỉnh là hòn ðụn (ở giữa) và
cạnh ñáy là ñoạn thẳng nối hai ñỉnh của hòn ðăng (phía Nam) và hòn Bò (phía
hữu. Sánh nhìn bốn phía, trông như một kho ñụn” (Vô danh thị, 2001: 22); hòn Bò nằm ở phía
Bắc của hòn ðụn, hình thể chỗ cao, chỗ thấp trông giống như ñầu bò nên dân gian gọi tên thế.
Tên của hai ngọn núi này cũng ñược nhắc ñến trong hai câu ñối ghi ở ñình làng Thuận An:
“Sa ñộng sức thanh cao, Phụng lãnh Bình sơn triều bão thiên nhiên kình tứ trụ;
Hải Thành chiêm ngoạn cảnh, Cáp châu Hương thủy cảnh hồi ñịa thế xuất Tam Thai” (Lê Văn
Kỳ, 2000: 124 - 125).
lý và luôn chịu sự “neo lại” của những ngọn núi trong ñất liền. Với ngư dân ở
Thuận An và vùng lân cận (Vinh Thanh, Vinh Hiền…), hòn núi Mẹ và ba hòn lao
Kế ðợi
8
chính là những “cột neo” ñó. Và, cũng từ ñây, ngư dân Thuận An ñã hình
thành một cách tính khoảng cách bằng cách ñếm số núi. Ban ñầu, người ñi biển chỉ
nhìn thấy hòn núi Mẹ, nhưng nếu càng di chuyển về phía ðông hoặc ðông Nam,
góc nhìn thay ñổi, ba hòn non dần dần ra khỏi tầm che khuất của núi Mẹ khiến
người ta có cảm tưởng như chúng càng lúc càng lao ra biển. Số non có thể nhìn
thấy càng nhiều, khoảng cách giữa người ñi biển so với bờ càng lớn. ðơn vị tính
ñộ dài của không gian lúc này ñược biểu thị bằng: một non, hai non, hai non rưỡi,
ba non, bốn non, năm non - vốn không hề có mặt trong hệ thống danh từ ñơn vị
ñại lượng của tiếng Việt (như: mẫu, sào, thước, mét, sải, gang, nắm, vốc…). Trong
cách ño khoảng cách bằng số lượng núi này, chúng tôi ñặc biệt chú ý ñến các ñơn
vị: bốn non hở một cùi, năm non. Bốn non hở một cùi là góc nhìn mà 3 hòn lao Kế
ðợi và hòn núi Mẹ tạo thành một hàng ngang, và núi Mẹ tách ra cách ba hòn còn
lại với khoảng cách bằng một cùi tay. Cách nhìn này phản ánh một sự nhận thức
ñầy cảm tính về không gian của người ñi biển, khái niệm hòn dường như không hề
có không gian bên trong như nó cần phải có; khoảng cách thực giữa các ngọn núi
ñược tính bằng một tỷ lệ xích rất ñộc ñáo, trong ñó, tử số chính là ñộ rộng của một
phần cơ thể người: cùi tay. Cũng xuất phát từ lối tư duy ñầy hình ảnh về hình học,
vật lý học, ngư dân vùng biển Thuận An còn có một cách ño bằng… tưởng tượng.
Sau khi bốn non hở một cùi ñã khuất, không hề có một tiêu ñiểm nào có thể nhìn
thấy, nhưng bằng cách dạt chừng, năm non vẫn hiện hữu trong tâm thức của họ
8
Hòn núi Mẹ, hòn lao Kế ðợi là những tên gọi dân gian do người ñịa phương ñặt cho các hòn núi
và ñảo ở ðà Nẵng. Chúng tôi chưa xác ñịnh chính xác “tên chữ” của chúng.