Tài liệu Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học doc - Pdf 90


Bài tiểu luận
Lịch sử Triết học

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
MỤC LỤC Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
1
A. Lời nói đầu:
1. Lý do chọn đề tài
2. Tài liệu tham khảo
B. Nội dung
I. Khái quát về tiền đề ra đời và đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
1.1. Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.
1.2. Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
II. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của I.kant.
2.1. Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên.

14
17
17
19

21
22

23 24
24
29
31
3.2 Triết học thực tiễn.
3.2.1 Đạo đức học của Cantơ.
3.2.2. Quan niệm về lịch sử, xã hội, pháp quyền.
3.2.3. Mỹ học và quan điểm triết học về con người và tương lai loài người
C. Kết luận. Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
A. LỜI NÓI ĐẦU
hết sức khó hiểu. Chính vì vậy cho đến nay dù đã nhiều công trình nghiên cứu về
Cantơ, song không phải những công trình đó đã đi sâu cặn kẽ vào hết các ý tưởng
của Cantơ không phải ai cũng hiểu nó một cách hoàn toàn giống nhau.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
2

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Tìm hiểu về triết học của Cantơ em muốn đi sâu nghiên cứu một cách khái
quát về hệ thống triết học của Cantơ, nghiên cứu về triết học thực tiễn, triết học
nhận thức về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Do quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót, cũng như kiến thức và tài liệu
chưa được đầy đủ em mong được sự góp ý và chỉnh sửa và bổ sung của Thầy để
bài viết được thực sự hoàn chỉnh hơn.
.
B.
NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT VỀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC CỔ
ĐIỂN ĐỨC.

1.1. Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.
Vào cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã
hội mới, khẳng định phương thức sản xuất TBCN, đưa giai cấp tư sản lên địa vị
thống trị.Các cuộc cách mạng xã hội thế kỷ XVII - XVIII mở đường cho sự phát
triển các tư tưởng xã hội tiến bộ, đẩy đến cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 -
1794).
Cách mạng công nghiệp Anh khẳng định sức mạnh của con người trong
nhận thức thế giới, cùng với cách mạng tư sản Pháp thể hiện khả năng cải tạo thế
giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của cách mạng công
nghiệp.

nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, và ở Pháp nhờ kết quả của
cách mạng tư sản Pháp 1789, giai cấp tư sản đã tiêu diệt chủ nghĩa phong kiến,
tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa thì ở nước Đức hãy còn là một nước
nửa phong kiến bị phân hoá cả về kinh tế lẫn chính trị. Những tàn tích của chế độ
nông nô, chế độ phường hội, chúa đất, sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ bé phụ
thuộc lẫn nhau với các thể chế chính trị phản động..., không chỉ kìm hãm sự phát
triển mà còn làm tăng thêm mức độ lạc hậu của nước Đức so với các nước đã phát
triển quan hệ TBCN.
F. Enghen nhận xét rằng: đó là “thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và xã
hội”... “Mọi thứ đều nát bét lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn
tới một tia hy vọng chuyển biến tốt lên vì dân tộc, thậm chí không còn đủ sức vứt
bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”.
Nhưng đồng thời Enghen cũng viết rằng “thời kỳ nhục nhã” đó lại mang
một nét đặc biệt rất đáng tự hào: Đó là thời kỳ vĩ đại trong lịch sử văn hoá, nghệ
thuật và triết học Đức, mỗi tác phẩm xuất chúng của thời đại đó đều thấm đượm
tinh thần phê phán, phản kháng, chống lại chế độ xã hội đương thời. Tinh thần đó
tràn đầy trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, triết học của: G.G.Heeđe (1744 -
1803), G.F.Lêxinh (1729 - 1791), G.F.Sinlơ (1759 - 1805), I.F.G.Phichtơ (1762 -
1814), S.V.Selling (1775 - 1854), G.V.F.Hêghen (1730 - 1831), Lútvích Phoiơbắc
(1804 - 1872)... các đại biểu lỗi lạc của triết học cổ điển Đức.
ở Đức cũng như ở Pháp, cách mạng đã chuẩn bị tư tưởng cho cách mạng tư
sản. Nhưng khác với các nhà tư tưởng Pháp, các nhà triết học Đức không đồng
thời là các nhà hoạt động cách mạng. Không như P.H.Hônbach (1723 - 1789),
R.Điđirô và các nhà hoạt động khác ở thời kỳ khai sáng, các nhà triết học Đức là
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
4

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
những nhà duy tâm. Điều đó được phản ánh trong sự bất lực tiến hành một cuộc
cách mạng chống lại trật tự phong kiến, và cuối cùng thể hiện ở sự thoả hiệp của

của các nước phát triển châu Âu, nó tiếp thu được tư tưởng giải phóng tư tưởng
cách mạng của các nhà duy vật cách mạng Pháp.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
5

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Những tiền đề cho sự phát triển thế giới quan biện chứng đối với lịch sử
nhân loại và sự khái quát lý thuyết phép biện chứng của các nhà duy tâm Đức là:
bước ngoặt kinh tế - xã hội có tính chất thời đại của Anh, bước ngoặt tư tưởng xã
hội có tính lịch sử thế giới của cách mạng tư sản Pháp, sự kế thừa truyền thống
triết học biện chứng Đức và đặc biệt là những thành tựu của khoa học tự nhiên.
Những bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức là nhà triết học - toán học
Pháp R.Điđro, nhà vật lý học Anh I.Niutơn, C.Vônphơ... Các học thuyết của họ
chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc.
Khoa học tự nhiên lúc này với những phát minh xuất sắc đã vạch rõ tính
biện chứng của quá trình tự nhiên, thúc đẩy việc xây dựng phép biện chứng.
Những thành tựu đó phản ánh vào trong tư tưởng, trong những học thuyết
của các nhà triết học cổ điển Đức và là những tiền đề cho những tư tưởng biện
chứng thiên tài của họ. Những thành tựu đó chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chín
muồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần xây dựng một phương pháp tư duy và
khảo sát mới - phương pháp biện chứng để có thể phản ánh đầy đủ những quy luật
tự nhiên khách quan. Nếu ở thế kỷ XVII những nhà khoa học bắt đầu từ Bêcơn,
Galilê, xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hình cho nhận thức khoa học
thì ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức đã bắt đầu xây dựng
phương pháp biện chứng cho khoa học. Nhưng sự thực hiển nhiên đó trong triết
học cổ điển Đức chưa tiến hành triệt để, nó vẫn là triết học đầy mâu thuẫn trên cơ
sở chủ nghĩa duy tâm xa lạ với tinh thần duy vật càng xa lạ với biện chứng duy vật
khoa học.
1.2.
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.

Tuy từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên
các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, lôgic biện chứng,
học thuyết về các quá trình phát triển, mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả cá tìm tòi
của họ đó là phép biện chứng.
Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ
điển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt
được. Tiếp thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVIII trong việc phát triển tư duy
lý luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức loài người, Cantơ và Hêghen có ý đồ xây
dựng một hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quan của con
người, khôi phục lại các quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học.
Phải nói rằng: triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong
lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đây là đỉnh
cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây, đồng thời nó ảnh hưởng to lớn đến
triết học hiện đại.
Mặt hạn chế:
Hạn chế chung nhất trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức
thể hiện rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng - khoa học về tư tưởng với tính bảo thủ
về lập trường chính trị - xã hội hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều xây dựng
được hệ thống triết học chứa đựng những tư tưởng khoa học lớn có tính vạch thời
đại, đặc biệt là triết học Cantơ và Hêghen. Nhưng họ lại không dám tiến hành,
thực hiện những cuộc cải cách, bảo vệ chính thể Nhà nước Phổ phong kiến.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
7

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổ điển
Đức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhà triết
học khai sáng. Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng: từ quan điểm duy
vật, người ta không thể giải thích được thế giới. Bản chất của thế giới theo họ là
tinh thần, do vậy chỉ có thể giải quyết được những vấn đề cảu thế giới bằng tinh

nhân chủng học. Cũng ở đây, Cantơ đã tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để
thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đã dặt ra cho mình là xây dựng một hệ
thống triết học mới. Nhiều công trình khao học tự nhiên và triết học của ông đã ra

Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
đời, nâng ông lên vị trí một trong những học giả uyên bác nhất thời đó. Những học
thuyết của ông thống trị tư tưởng khao học và triết học tư sản TK XIX. Ông đã để
lại cho nhân loại một trong những hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc nhất.
Quá trình phát triển triết học của Cantơ diễn ra qua hai thời kỳ.
Thời kỳ 1: Từ năm 1770 trở về trước.
Thời kỳ 2: Từ năm 1770 đến cuối đời.
Bởi nhiệm vụ triết học trong thời kỳ 2 do Cantơ đặt ra là phê phán (các hệ
thống triết học trước đó) nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ phê phán. Còn thời
kỳ 1, tư tưởng phê phán chưa rõ ràng nên được gọi là thời kỳ tiền phê phán.
2.1.
Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên.
Thời kỳ 1, Cantơ đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực mà ông đang giảng dạy và
nghiên cứu trong trường Đại học nhưng chủ yếu tập trung vào triết học tự nhiên.
Nghiên cứu những vấn đề trong lĩnh vực triết học tự nhiên. Cantơ xuất phát từ
niềm tin cho rằng: Triết học với tư cách là một khoa học lý thuyết tự biện có thể lý
giải được mà không cần đến kinh nghiệm.Thời kỳ này, với những thành công
trong khoa học ông là người lạc quan, tin tưởng vào khả năng nhận thức thế giới
của con người. Trong thời kỳ này Cantơ viết một khối lượng lớn các công trình về
triết học, khoa học tự nhiên. Đặc điểm rõ rệt trong các công trình này là những tư
tưởng triết học và khoa học tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở nhiều ngành
khoa học tự nhiên, nơi mà Cantơ bỏ công nghiên cứu, ông đều đề xuất được
những ý tưởng có giá trị.
Trong vật lý học, khi phát triển các tư tưởng về sự vận động, về lực hấp dẫn
của các nhà toán học, vật lý học và cơ học, Cantơ đã luận giải sâu hơn lý thuyết về
sự vận động và đứng im.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status