Bài 13 BẢO VỆ VÀ AN TOÀN HỆ THỐNG
Nguồn : 3c.com.vn
IV. CÀI ĐặT MA TRậN QUYềN TRUY XUấT
IV.1. Bảng toàn cục
Cách đơn giản nhất để cài đặt ma trận truy xuất là sử dụng một bảng bao gồm các bộ ba
thứ tự < miền bảo vệ, đối tượng, các quyền truy xuất >. Mỗi khi thực hiện thao tác M trên
đối tượng Oj trong miền bảo vệ Di, c
ần tìm trong bảng toàn cục một bộ ba < Di, Oj, Rk >
mà M ∈ Rk. Nếu tìm thấy, thao tác M được phép thi hành, nếu không, xảy ra lỗi truy
xuất.
IV.2. Danh sách quyền truy xuất ( Access control list _ ACL)
Có thể cài đặt mỗi cột trong ma trận quyền truy xuất như một danh sách quyền truy xuất
đối với một đối tượng. Mỗi đối tượng trong hệ thống sẽ có một danh sách bao gồm các
phần tử là các bộ hai thứ tự <miền b
ảo vệ, các quyền truy xuất>, danh sách này sẽ xác
định các quyền truy xuất được qui định trong từng miền bảo vệ có thể tác động trên đối
tượng. Mỗi khi thực hiện thao tác M trên đối tượng Oj trong miền bảo vệ Di, cần tìm
trong danh sách quyền truy xuất của đối tượng Oj
một bộ hai < Di,Rk > mà M ∈ Rk. Nếu
tìm thấy, thao tác M được phép thi hành, nếu không, xảy ra lỗi truy xuất.
Ví dụ
: Một miền bảo vệ trong hệ thống UNIX được xác định tương ứng với một
người sử dụng (uid) trong một nhóm (gid) nào đó. Giả sử có 4 người dùng :
A,B,C,D thuộc các nhóm tương ứng là system, staff, student, student. Khi đó các
tập tin trong hệ thống có thể có các ACL như sau :
File0 : ( A,*,RWX)
File1 : ( A,system,RWX)
File2 : ( A,*,RW-),(B,staff,R--),(D,*,RW-)
File3 : ( *,student,R--)
File4 : (C,*,---),(*,student,R--)
i sử dụng chỉ có thể truy
xuất đến nó một cách gián tiếp để tránh làm sai lạc C_List.
Hệ điều hành cung cấp các thủ tục cho phép tạo lập, hủy bỏ và sửa đổi các tiềm năng
của một đối tượng, và chỉ các tiến trình đóng vai trò server (thường là tiến trình hệ điều
hành) mới có thể sửa đổi nội dung C_List.
IV.4. Cơ chế khóa và chìa
Đây là cách tiếp cận kết hợp giữa danh sách quyền truy xuất và danh sách khả năng. Mỗi
đối tượng sỡ hữu một danh sách các mã nhị phân , được gọi là « khoá » (lock). Cũng như
thế, mỗi miền bảo vệ sẽ sỡ hữu một danh sách mã nhị phân gọi là « chìa » (key). Một
tiến trình hoạt động trong một miền bảo vệ chỉ có thể truy xuất đến một
đối tượng nếu
miền bảo vệ sỡ hữu một chìa tương ứng với một khóa trong danh sách của đối tượng.
Cũng như C_List, danh sách « khóa » và « chìa » được hệ điều hành quản lý, người sử
dụng không thể truy xuất trực tiếp đến chúng để thay đổi nội dung.
IV.5. Thu hồi quyền truy xuất
Trong một hệ thống bảo vệ động, đôi khi hệ điều hành cầ
n thu hồi một số quyền truy xuất
trên các đối tượng được chia sẻ giữa nhiều người sử dụng. Khi đó đặt ra một số vấn đề
như sau :
Thu hồi tức khắc hay trì hoãn, trì hoãn đến khi nào ?
Nếu loại bỏ một quyền truy xuất trên một đối tượng, thu hồi quyền này
trên tất cả hay chi một số người sử dụng?
Thu hồi một số quyền hay toàn b
ộ quyền trên một đối tượng ?
Thu hồi tạm thời hay vĩnh viển một quyền truy xuất ?
Đối với các hệ thống sử dụng danh sách quyền truy xuất, việc thu hồi có thể thực hiện dễ
dàng : tìm và hủy trên ACL quyền truy xuất cần thu hồi, như vậy việc thu hồi được htực
hiện tức thời, có thể áp dụng cho tất cả hay một nhóm người dùng, thu hồi toàn bộ hay
một phần, và thu hồi vĩnh viễn hay tạm thời đều được.
an toàn hệ thống ở cấp cao chống lại các tác hại từ môi trường ngoài như hoả hoạn, mất
điện, phái hoại...cần được thực hiện ở 2 mức độ vật lý (trang bị các thiết bị an toàn cho vị
trí đạt hệ thống...) và nhân sự (chọn lọc cẩn thận những nhân viên làm việc trong hệ
thống...). N
ếu an toàn môi trường được bảo đảm khá tốt, an toàn của hệ thống sẽ được
duy trì tốt nhờ các cơ chế của hệ điều hành (với sự trợ giúp của phần cứng).
Lưu ý rằng nếu bảo vệ hệ thống có thể đạt độ tin cậy 100%, thì các cơ chế an toàn hệ
thống được cung cấp chỉ với hy vọng ngăn chặn bớt các tình huống b
ất an hơn là đạt đến
độ an toàn tuyệt đối.
V.2. Kiểm định danh tính (Authentication)
Để đảm bảo an toàn, hệ điều hành cần giải quyết tốt vấn đề chủ yếu là kiểm định danh
tính (authentication). Hoạt động của hệ thống bảo vệ phụ thuộc vào khả năng xác định
các tiến trình đang xử lý. Khả năng này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào việc xác
định
được người dùng đang sử dụng hệ thống để có thể kiểm tra người dùng này được cho
phép thao tác trên những tài nguyên nào.
Cách tiếp cận phổ biến nhất để giải quyết vấn đề là sử dụng password để kiểm định đúng
danh tính của người dùng. Mỗi khi người dùng muốn sử dụng tài nguyên, hệ thống sẽ
kiểm tra
dùng m
tượng
Cơ chế
điểm n
g
sự hoàn
V.3. M
Trong m
khác sử
Khi m
B vốn bị c
ấ
mối đe dọa đ
của các lập
ánh cửa nhỏ
và phá hoại
g từ phần dư
Mối đe dọa
các hệ điều
ạo ra (spaw
và các tập ti
pháp
của người
ho phép sử
ống, thậm
c
với n
rất dễ hiểu v
g của phươn
g tác nhân t
a từ các chư
mà một chư
hể xảy ra cá
qủa khó
ùng A cho m
n bảo vệ đượ
« con ngựa
các tài ng
u
ấm!), nhiều
ợc gán tươn
thành Troy
uyên với nh
u chương trì
các tác
V.3.2. Cánh
uy hiểm và
Khi xây d
ự
hần mềm m
ví dụ làm
t
ấn đề này rấ
ng trình ngu
ng
cung cấp p
iến trình kh
ời dùng có th
ể phá hoại h
. Các chươ
vào với pas
guyên. Passw
ột đối tượng
ền truy xuất
ụng do vậy đ
y là khả năn
thể đoán ra
hức khác nh
h
được tạo lập
không đúng
ợp điển hình
nh Troy
viết hoạt
đ
người dùng
ó các đoạn l
tương ứng
đã « lợi d
ụ
iếc.
( Trap-door
đỡ đến từ s
trình, các l
là có khả n
lẻ trong nh
phó vì cần p
ra chỗ sơ h
cho phép c
các môi trườ
ng sai lạc đ
heo phương
sâu bọ » ( W
ợc lưu trữ, n
ể đuợc để b
password
k
u.
ng rộng rãi
password rấ
danh nghĩa c
ng trình này
chương trìn
A (mà có th
nh » để gây
hay ý nghĩ b
ên có thể để
ng , qua đó t
oản, và thu l
ành phân tíc
h khi hoạt đ
ế, tài nguyê
ại. Hai phư
à :
gười
đối
ứng
yếu
được
hiều
gười
g hậu
của
y có
h có
hể
y ra
bất
ể lại
thâm