Tài liệu Máy phát viba doc - Pdf 91

Máy phát viba
1. Chuyển tiếp sóng vô tuyến.
Đường chuyển tiếp sóng vi ba được ứng dụng trong ngành truyền hình (xem hình 1), thông thường gồm
thiết bị khung cố định và chia làm 2 loại sau:
Đường truyền phân tán, trong đó truyền tín hiệu hình ảnh và âm thanh từ các phòng sản xuất chương trình đến
máy phát, hoặc giữa các máy phát với nhau. Trong trường hợp tín hiệu bị méo ở các phần khác nhau của chuỗi tín
hiệu từ camera đến người xem, đoạn phân tán chương trình được cho phép rất ít, do đó giảm thiểu suy giảm là rất
quan trọng. Trong một số trường hợp sự phân phối chương trình đến một số hay tất cả máy phát hình chính trong
mạng sẽ được phát đi thông qua PTO (tổ chức điều hành viễn thông công cộng) cung cấp mạch thường trực, mà
trong đó cáp quang chiếm ưu thế hay bằng vệ tinh. Trong một số trừơng hợp các đường truyền vô tuyến sẽ được
thuê bao để gia tăng vùng dịch vụ mà ở đó các mạch cố định sẽ rất khó tiếp cận hay chi phí quá cao để cung cấp.
Trong một số trường hợp cá biệt, ở đó các thiết bị có thể đòi hỏi nhiều đường truyền tín hiệu khác nhau, sử dụng
liên kết vô tuyến như đường truyền thứ 2 sẽ là giải pháp kinh tế hơn so với là xây dựng đường cáp thứ 2.
Đường truyền tổng hợp, được sử dụng để truyền chương trình thô từ các phòng dựng bên ngoài hay ENG (thu
thập tin tức điện tử) hay điểm tiếp nhận OB đến phòng sản xuất chương trình. Trong nhiều trường hợp các đường
truyền này sẽ đi theo cùng một tuyến với đường truyền phân phối nhưng theo hướng ngược lại. Trong quá khứ chỉ
có sự khác biệt duy nhất giữa đường truyền phân phối và đường truyền tổng hợp là yêu cầu về tính khả dụng,
nhưng với các phòng dựng số, định dạng tín hiệu truyền đi có thể khác nhau.
2. Liên kết vô tuyến số và tương tự.
Mãi cho đến năm 1980, tất cả liên kết vô tuyến đều dùng kỹ thuật tương tự, điều chế tần số băng rộng được sử
dụng trong truyền hình và đa hợp phân chia tần số nhiều kênh trong điện thoại. Ngày nay, hầu hết các thiết bị
được dùng trong điện thoại được thay thế bằng các đường truyền số mang dữ liệu và lưu lượng tiếng nói. Loại
điều chế này sử dụng trong khoảng từ pha hai cực hay khóa dịch pha cho dung lượng kênh thấp, thiết bị tần số
cực cao, đến khóa dịch pha vuông góc, điều chế biên độ vuông góc 16, 64,128 mức, điều chế mã Trellis 256 hay
512 mức dùng cho cho hệ thống có dung lượng cực cao mang 1,2 và 4 kênh của STM1, lưu lượng155Mbit.
Tất cả thiết bị nêu trên được thiết kế được hoạt động trong dãy tần số được chuẩn quốc tế trên các kênh phối hợp
để tránh việc can nhiễu lên các kênh khác. Một số thiết bị thì tương thích với liên kết cố định dùng những dải tần
và kỹ thuật dành cho mạng cục bộ của máy vi tính. Các thiết bị này thường được kiểm soát chặc chẻ khi chúng
hoạt động trên các kênh chia sẽ với các dịch vụ khác.
Ngoài ra, phụ thuộc vào các ứng dụng truyền hình định dạng của các tín hiệu được truyền đi sẽ ảnh hưởng loại
thiết bị dùng trong liên kết vô tuyến.

Sự phân phối các đường truyền vô tuyến cố định ở trong khoảng 1 đến 57Ghz. Mục đích sử dụng và tính chất của
các dải tần khác nhau được chỉ ra ở đây:
• 1-3Ghz dải phổ được dùng cho điện thoại di động và dịch vụ dữ liệu. Nó có ưu điểm là đường truyền dài
và quá trình truyền dẫn không bị ảnh hưởng của thời tiết. Anten dùng trong những hệ thống dung lượng
thấp thường có kích thước nhỏ và giá thành hợp lý.
• 3-10Ghz dải phổ này thích hợp cho đa kênh số có dung lượng trung bình và cao hay các đường truyền
tương tự, cung cấp dịch vụ có độ tin cậy cao với các khoảng cách trên 70km. Các tín hiệu này không bị
ảnh hưởng của mưa dọc theo đường truyền, nhưng nhiễu lọan không khí có thể tạo ra fading (sự thay đổi
từ từ cường độ tín hiệu thu) và méo.
• 10-22Ghz dải phổ này thích hợp cho các đường truyền tương tự và số có dung lượng trung bình và cao,
khi tăng tần số hoạt động tác động của mưa trên đường truyền vô tuyến cũng tăng lên. Do đó, khả năng
thu của đường truyền hoạt động trong dải băng này bị ảnh hưởng bởi lượng mưa nhiều hơn là sự nhiễu
loạn không khí. Độ dài đường truyền chuẩn có thể từ 40km đối với đường truyền lưu lượng thấp ở tần số
10Ghz cho đến 3 hay 4km cho đường truyền dung lượng cao ở tần số 22Ghz, nhưng cả 2 đường truyền
trên là độc lập, tùy thuộc vào yêu cầu về mặt kinh tế.
• 22-57Ghz Dải phổ này được sử dụng rộng rãi trong các khoảng cách ngắn, đường truyền số đơn kênh có
dung lượng thấp, trung bình, cao. Độ dài của đường truyền có thể xác định dựa vào suy hao lượng mưa
và suy hao do môi khí quyển.
Hiện nay, nhiều dãy tần chỉ dành riêng cho đường truyền số. Mặc dù có sự chỉ định dải tần trên 23Ghz là dành cho
các đường truyền thoại tương tự, nhưng có rất ít thiết bị phát hoạt động ở tần số này. Điều đó là do nhu cầu thấp
và giá thành phần cứng thích hợp các đặc tính kỹ thuật ở tần số cao này là rất mắc.
2. Hệ thống đường truyền vô tuyến.
2.1. Bố trí hệ thống.
Hệ thống chuẩn bao gồm các thành phần sau:
Trang thiết bị vô tuyến:
• Máy phát và Máy thu.
• Nhánh đồng trục và ống dẫn sóng.
• Ống dẫn sóng hay cáp đồng trục và các phụ kiện giữa các thiết bị phát và anten.
• Khung thép nối giữa anten và tháp hay tòa nhà.
• Thiết bị giám sát hoạt động.


2.2.4. Chế độ sao lưu (bảo vệ).
Thiết bị có thể nhân đôi tránh việc mất tín hiệu truyền dẫn khi xuất hiện lỗi. Việc sử dụng 2 máy phát và 2 bộ thu
cùng lúc, khi xuất hiện lỗi thì bộ chuyển mạch tự động sẽ chọn lựa thiết bị hoạt động.
Có nhiều cách khác nhau để thiết kế hệ thống máy phát và thu; và điều đó dẫn đến sự bố trí thiết bị được mô tả
dưới đây:
2.2.4.1. Dự phòng nóng.
Như được chỉ ra ở hình 6.6.2(d), tín hiệu điều chế được chia ra 2 máy phát hoạt động cùng tần số và ngõ ra RF
được kết nối với công tắc hay bộ ghép (coupler) để có thể chọn lựa máy phát được kết nối đến hệ thống anten.
Nếu sử dụng hệ thống công tắc, cả 2 máy phát đều phải chạy đúng công suất thiết kế, nếu sử dụng coupler thì
máy không đựơc chọn sẽ được tắt.
Ống chuyển tiếp đồng trục và công tắc chuyển ống dẫn sóng có suy hao chèn thấp (<0.5db) nhưng thời gian hoạt
động khá chậm (thời gian chuyển khoảng 20-30ms). Khi sử dụng bộ ghép thì độ suy hao thuộc hệ số ghép của
thiết bị.
Công tắc chuyển có thể có 3 hay 4 cổng. Khóa chuyển có 3 cổng, phản xạ công suất từ máy phát không dùng sẽ
đi vào bộ cách ly được lắp tại ngõ ra của nó. Trong khi đó công tắc 4 cổng công suất của máy phát không dùng
đến sẽ đưa vào tải hay bộ suy hao.
Các mạch giám sát trong máy phát sẽ kiểm tra quá trình hoạt động của các khối khác nhau, công suất ngõ ra và
sự liên tục của tín hiệu, và sẽ phát ra tín hiệu cảnh báo nếu phát hiện lỗi, khởi động bộ chọn lựa chuyển sang máy
phát khác.
Tại bộ phận thu, tín hiệu RF sẽ được chia vào ống dẫn sóng hay mạch lai (hybrid) đồng trục và sau đó truyền đến
cả 2 đầu thu. Việc chuyển mạch hoạt động ở dải gốc khi mạch kiểm tra phát hiện lỗi trong hoạt động thu.
Bộ chia cân bằng ở tần số RF giữa 2 bộ thu sẽ làm mất đi 3 dB trên cả 2 đường tín hiệu. Bộ chia không cân bằng,
4:1 hay 10:1 (6 hay 10dB), giảm sự suy hao vào 1 đầu thu đồng thời gia tăng suy hao tại các đầu thu khác. Việc
chọn đầu thu theo hướng kênh có sự suy hao thấp hơn (kênh chính và phụ).

2.2.4.2. Đường truyền song hành.
Hệ thống dây song hành thì không sử dụng khóa chuyển máy phát. Cả 2 máy phát hoạt động liên tục trên 2 tần số
khác nhau, và ngõ ra của chúng được kết hợp với rẽ nhánh RF và dẫn đến anten chung. Sự sắp xếp này tương tự
như hệ thống chỉ ra ở hình 2(b), nhưng có cùng tín hiệu được dẫn đến 2 máy phát, giống trường hợp dự phòng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status