BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KTNN&PTNT
Tiểu luận
ĐỀ TÀI:
CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Sinh viên : Phạm Xuân Hùng
Lớp : KTNN&PTNT K44
Khoa : KTNN&PTNT
Giảng viên hướng dẫn TS.Vũ Thị Minh
§Ò ¸n m«n häc
MỤC LỤC
Lời mở đầu.................................................................................................................................1
Nội dung 3
I). Cổ phần hóa và cổ phần hóaDNNN...................................................................................3
1.Cổ phần hóa.......................................................................................................................3
2.Cổ phần hóa DNNN..........................................................................................................3
II) Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hóa DNNN.................................................................4
1.Cơ sở lí luận.......................................................................................................................4
2.Thực tiễn cổ phần hóa DNNN...........................................................................................6
III). Tiến trình cổ phần hóa DNNN........................................................................................8
1.Giai đoạn 1.........................................................................................................................9
2.Giai đoạn 2.......................................................................................................................10
3.Giai đoạn 3.......................................................................................................................10
4.Giai đoạn 4.......................................................................................................................11
IV). Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam..12 1.Những thành
tựu.........................................................................................................................13
Tài liệu tham khảo..................................................................................................................28
GVHD: TS. Vò ThÞ Minh
§Ò ¸n m«n häc
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế. Muốn thực hiện được mục tiêu đã đề ra thì năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế nói chung cũng như của từng doanh nghiệp, từng sản phẩm nói riêng phải không
ngừng được nâng cao. Thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là phần lớn các doanh
nghiệp nông nghiệp. Muốn nâng cao được sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam thì
cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) được coi là một trong những
giải pháp quan trọng. Đảng và Nhà Nước ta đã chủ trương thực hiện quá trình này từ đầu
thập niên 90, cho đến nay thì đã trải qua bốn giai đoạn. Giai đoạn 1992-1996 thực hiện thí
điểm theo quyêt định số 220/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ). Giai đoạn
1996-1998 triển khai thực hiện cổ phần hoá một bộ phận DNNN theo tinh thần Nghị Định
28/CP của Chính Phủ. Giai đoạn 1998-2001 đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN theo Nghị Định
44/1998/NĐ_CP. Giai đoạn mới, giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa theo Nghị định số
64/2002/NĐ-CP. Cổ phần hoá DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm
huy động thêm nguồn vốn của xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẻ, cơ chế
quản lí năng động nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước cung cấp như của toàn
xã hội, nhằm tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên trường quốc tế. Sau hơn 10 năm
thực hiện với kết quả tích cực chủ trương ngày càng có sức sống, cơ chế chính sách ngày
càng được điều chỉnh, bổ sung hợp lí hơn và hoàn thiện hơn. Cổ phần hoá DNNN là một nhu
cầu, một thực tế khách quan trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Các công ty cổ phần sẻ là loại hình doanh nghiệp phổ biến do thu hút được
nguồn vốn rộng rãi trong xã hội, tách được quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn trong
sản xuất kinh doanh. Xét một cách toàn diện thì cổ phần hoá DNNN đã đem lại lợi ích rõ rệt
cho người lao động, cổ đông, Nhà nước và xã hội. Thông qua cổ phần hoá vốn Nhà nước
không những được đảm bảo mà còn được tăng thêm. DNNN có nhiều cơ hội huy động vốn
trong xã hội để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất. Sau 3 năm
triển khai thực hiện nghị quyết lần thứ 3 hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
và có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu, biến doanh nghiệp một chủ
thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu
chung thông qua chuyển một phần tài sản cho người khác, cổ phần hoá có thể áp dụng với tất
cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ duy nhất. Vì thế doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...đều có thể cổ phần hoá.
2. Cổ phần hoá DNNN
DNNN được định nghĩa ở điều 1 luật DNNN: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức
kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ
chức dưới hình thưc công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Định
nghĩa này chứa đựng những thay đổi cơ bản trong nhận thức của các nhà lập pháp và hoạch
định chính sách đối với các thành phần kinh tế. Như vậy việc xác định DNNN không hoàn
toàn dựa vào tiêu chí sở hữu như trước đây ( trước đây doanh nghiệp được Nhà nước thành
lập, đầu tư vốn, tổ chức quản lí được coi là DNNN trong đó sở hữu được coi là tiêu chí cơ
bản nhất); tiêu chí quyền chi phối được áp dụng trong luật DNNN năm 2003 là tiêu chí định
lượng, tính chất định lượng thể hiện ở phần vốn góp của Nhà nước trong toàn bộ vốn của
doanh nghiệp. Như vậy quyền kiểm soát được coi là tiêu chí cơ bản để xác định một doanh
nghiệp có phải là DNNN hay không, đây có thể coi là một bước tiến trong cách tiếp cận
DNNN.
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu
một phần tài sản của Nhà nước, biến doanh nghiệp từ sở hữu của Nhà nước thành dạng sở
hữu hỗn hợp trong đó Nhà nước có thể giữ một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này tuỳ thuộc vào từng
doanh nghiệp cũng như vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế.
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường được đại hội ĐảngVI khởi xướng đã tạo ra những
điều kiện tiền đề để cải cách triệt để hơn đối với DNNN, thông qua việc cổ phần hoá chúng.
Sở dĩ cổ phần hoá được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên trong tổ
chức quản lí và hoạt động của DNNN đó là sở hữu. Cổ phần hoá DNNN chấp nhận sự dung
hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau mà trước hết là các doanh nghiệp. Cổ phần hoá
làm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng.
II). Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hoá DNNN
phần hóa một bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, thuộc sở hữu xã hội, toàn dân.
Mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần là nhằm hoàn
thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao hiệu
quả của DNNN. Cụ thể là tìm một hình thức quản lí vừa phát huy quyền làm chủ của người
lao động vừa đảm bảo quản lí một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp.
Chúng ta đã đưa ra nhiều hình thức công ty cổ phần nhưng có thể gói gọn trong hai nhóm
chính:
Nhóm các công ty cổ phần trong đó Nhà nước có tham gia cổ phần như: Giữ nguyên giá trị
của doanh nghiệp kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, bán một phần tài sản
doanh nghiệp, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp. Tất cả các hình thức cổ phần hóa
theo ba dạng trên thì Nhà nước hoặc là nắm giữ cổ phiếu khống chế(51%) hoặc là không nắm
giữ cổ phiếu khống chế.
Loại hình cổ phần hóa theo thể thức Nhà nước bán toàn bộ doanh nghiệp cho người lao động.
Nhằm rút vốn, đầu tư vào những ngành lĩnh vực quan trọng, then chốt, địa bàn quan trọng.
Không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền
kinh tế.
GVHD: TS. Vò ThÞ Minh
§Ò ¸n m«n häc
Dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào thì công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đa sở
hữu. khi người lao động tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp thì họ cũng đã gắn lợi ích
của bản thân vào lợi ích của doanh nghiệp, tạo ra sự giám sát tập thể đối với đối với quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra cơ chế phân phối hài hòa giữa doanh nghiệp, Nhà nước
và người lao động. Nhờ đó mà hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp có điều kiện được
nâng lên.
Như vậy có thể nói quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN không phải là quá trình tư
nhân hóa. Bởi vì Nhà nước chỉ nắm giữ những ngành, những lĩnh vực cần thiết, vai trò chủ
đạo của khu vực kinh tế nhà nước không những không được cũng cố mà còn có thể bị yếu đi
nếu cứ tiếp tục duy trì những doanh nghiệp hiệu quả thấp, năng lực cạnh tranh kém. Việc bán
toàn bộ tài sản chỉ được áp dụng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ,
những lĩnh vực mà khu vực dân doanh hoàn toàn có thể làn tốt hơn DNNN. Nhà nước sẻ lựa
§Ò ¸n m«n häc
2. Thực tiễn cổ phần hóa DNNN.
DNNN có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa. Sự tồn
tại của DNNN ở các nước tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan . Khi mà những cuộc
khủng hoảng liên tục của chủ nghĩa tư bản vào những năm đầu của thế kỉ XIX đã chứng
minh sự sụp đổ của học thuyết bàn tay vô hình . Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động
của nền kinh tế là rất cần thiết để duy trì sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân. Tuy
nhiên sự phát triển của DNNN ở nhiều nước đều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả thấp,
tham nhũng, lãng phí... Vì thế cải cách DNNN là một điều tất yếu; Có nhiều cách thức để cải
cách DNNN nhưng tư nhân hóa là biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất và đem lại nhiều kết
quả khả quan nhất. Tư nhân hóa được tiến hành mạnh mẻ ở các nước có nền kinh tế phát
triển mạnh như Hàn Quốc, Xingapo, Nam phi... cũng như các nước đang phát triển và các
nước phát triển và nó đang trở thành một xu thế mang tính chất toàn cầu. Là một nước xã hôi
chủ nghĩa, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cũng gần giống với Việt Nam. Trung Quốc
cũng tiến hành cải cách DNNN và thực tiễn cải cách DNNN ở Trung Quốc đã để lại cho
chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu. Cải cách DNNN ở Trung quốc được thực hiện khá rộng
rãi và thành công, thực sự là một kinh nghiệm cho việc cải cách DNNN mà không cần phải
tư nhân hóa hàng loạt. Cải cách DNNN bắt đầu từ năm 1984 và đã trải qua bốn giai đoạn...
Cổ phân hóa DNNN trong giai đoạn này thực sự trở thành chiến lược của Trung Quốc trong
việc hiện đại hóa và phát triển kinh tế và đã thể hiện rõ rệt hiệu quả của khu vực kinh tế công
cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.
Phải nói rằng cụm từ “cổ phần “ đã rất quen thuộc từ hơn nhiều năm nay, kể từ khi
Đảng ta lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng xí nghiệp công tư hợp
doanh và đã được phát triển rộng khắp. Trước sức ép đẩy nhanh việc cổ phần hóa một số địa
phương và DNNN đã tìm mọi cách để đạt được chỉ tiêu kế hoạch. Nếu chọn đơn vị kém hấp
dẫn để cổ phần hóa thì cổ phần hóa thường rất bế tắc vì xuất phát từ tâm lí chủ quan của mọi
người là ai cũng muốn bảo toàn lợi ích của mình, không ai muốn rủi ro vì thế không ai muốn
bỏ vốn ra để mua cổ phần. Bởi vậy để có thể suôn sẻ việc chọn đơn vị nào đang làm ăn được,
đang có triển vọng được coi là một giải pháp hữu hiệu dễ được cán bộ công nhân viên và
người ngoài doanh nghiệp chấp nhận việc mua cổ phần. Nếu chỉ là DNNN thuần túy thì cơ
nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đàu thập niên 80 của thế kỉ XX ở Việt Nam, cổ phần hóa
DNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bước tháo gỡ khó khăn trong quá trình
triển khai. Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, từng bước chỉ đạo đúng
đắn cổ phần hóa góp phần sắp xếp, cũng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống
DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian từ 1960
đến 1990 tức là trước thời điểm thực hiện cổ phần hóa, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai
nhiều biện pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh. Trong thời kì đổi mới ý tưởng
về cổ phần hóa DNNN đã được hình thành khá sớm. Từ hội nghị Trung ương 3( khóa VI) về
đổi mới cơ chế quản lí đã nêu: “ Nếu không đủ điều kiện để cũng cố và không cần thiết duy
trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở hữu khác ( kể cả cho tập thể, tư nhân
thuê), hoặc giải thể, trước hết là những xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng không thuộc loại
thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ trang bị kĩ thuật thấp, bị thua lỗ thường xuyên. Những biện pháp
cải cách tương đối có giá trị đột phá được qui định trong quyết định số 21/HĐBT ngày 14-
11-1987 của hội đồng bộ trưởng. Nếu tính về số lượng các văn bản được ban hành thì vấn đề
đổi mới DNNN chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp luật ở nước ta.
Quyết định 21/HĐBT đã đề cập tới việc tiến hành thí điểm cổ phần hóa DNNN và giao cho
bộ tài chính chủ trì. Nhưng do điều kiện thị trường chưa phát triển, tồn tại quá lâu trong cơ
chế củ nên từ Trung ương đến cơ sở chưa hiểu hết vấn đề phức tạp này do đó chưa thống
nhất về quan điểm. Ở giai đoạn này thì cổ phần hóa là một vấn đề mới đối với thực tiễn quản
lí DNNN ở nước ta. Đầu năm 1990 trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm đổi mới, Hội đồng
bộ trưởng đã ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trương nghiên cứu
làm thử xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần. Tuy vậy đến năm 1992 cả nước chưa cổ
phần hóa được doanh nghiệp nào. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là quyết
định 143/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng đặt ra quá nhiều mục tiêu không rõ ràng dễ gây
hiểu nhầm đối với các doanh nghiệp và người lao động. Đến đại hội XII Đảng ta lại chủ
trương thực hiện quan điểm: “ khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lí kinh tế quốc dân.
GVHD: TS. Vò ThÞ Minh