Tài liệu Tiểu luận “Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam lí luận và thực tiễn” - Pdf 84



Trường……………..
Khoa…………..

…………..o0o………….. Tiểu luận “Cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước ở Việt Nam lí luận
và thực tiễn”
ĐỀ CƯƠNG ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề tài:
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam lí luận và
thực tiễn
Người thực hiện : Nguyễn Văn Học
Lớp : Quản lí kinh tế 47A
Người hướng dẫn : GS.TS. Phạm Quang Phan

khả năng cạnh tranh trên thị trường và đổi mới công nghệ cũng như sản phẩm.
Ngân sách Nhà nước không có khả năng cấp vốn và bao cấp các doanh nghiệp
Nhà nước như trước đây. Các ngân hàng cho vay cũng phải có các điều kiện
bảo đả
m như tài sản thế chấp, khả năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi
vốn. Hầu hết các doanh nghiệp ở trong tình trạng không có vốn nhưng cũng
không có cách nào để huy động. Đối mặt với những khó khăn đó, cổ phần hóa
được coi là một giải pháp nhằm tạo ra môi trường huy động vốn dài hạn cho
các doanh nghiệp để đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ. Vì vậy đây là lự
a
chọn tất yếu có tính khách quan. Cổ phần hóa là một nội dung quan trọng
trong công cuộc đổi mới. Cổ phần hóa thu hút được một nguồn vốn nhất định
trong công nhân viên tại doanh nghiệp và ngoài xã hội, tạo ra một động lực
trong quản lý và phát huy tốt hơn tính sáng tạo, cần cù của người lao động
việc làm của người lao động đảm bảo tốt hơn nên doanh thu lợi nhuận và các
khoản nộp ngân sách, tích lũy v
ốn của doanh nghiệp và chính thu nhập của
người lao động sẽ tăng lên chuyển đổi hình thức sở hữu với quy chế quản lý
mới,người lao động sẽ phát huy ý thức kỷ luật, tự giác, chủ động tinh thần tiết
kiệm trong lao động góp phần làm cho hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
ngày càng cao, mang lợi ích thiết thực cho bản thân mình, công ty Nhà nước
và xã hội.
NỘI DUNG

I. NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Doanh nghiệp Nhà nước
a. Khái niệm: Theo điều 1 của luật doanh nghiệp Nhà nước quy định.
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côn gích,

c dân.
- Doanh nghiệp Nhà nước là nơi đặc biệt quan trọng thu hút viện trợ
vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước: Để đáp ứng
nhu cầu to lớn về vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tận lực khai thác
các nguồn lực tài chính bên trong nước kết hợp thu hút nguồn nhân lực bên
ngoài. Thu hút tài trợ các nguồn vốn bên ngoài vào các lĩnh vực như khai thác
than, dầu khí, chế tạo hàng
điện tử, ô tô, xe máy…
- Doanh nghiệp Nhà nước gánh vác trách nhiệm nặng nề trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, doanh nghiệp Nhà nước là trung tâm tiêu biểu của khoa học,
công nghệ, là tấm gương sáng về quản lý, các doanh nghiệp không chỉ chịu
phục vụ riêng cho mình, mà còn góp phần phổ biến trang bị khoa học, công
nghệ mới…. Doanh nghiệp Nhà nước còn tạo ra công ăn việc làm cho người
lao động, cải thiện cuộc sống, nâng cao văn hóa giáo d
ục, giảm sự chênh lệch
thành thị và nông thôn…
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
a. Khái niệm
Trước xu thế phát triển ngày càng cao của thị trường thế giới và những
yêu cầu của nền kinh tế "mở" thì mô hình hoạt động cứng nhắc của các doanh
nghiệp Nhà nước không còn phù hợp đặc biệt là ở các nước đang phát triển
như Việt Nam. Trên thế giới, xu thế cổ phần hóa đã diễn ra m
ạnh mẽ từ
những năm 80, cổ phần hóa có thể hiểu là việc chuyển một doanh nghiệp Nhà
nước thuộc sở hữu Nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu tập thể
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và huy động vốn đáp ứng cho nhu cầu đầu
tư và phát triển.
Như vậy, cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở
hữu, chuyển đổi từ sở hữu toàn dân sang sở hữu tập thể. Đây là một công cụ

cá nhân trong và ngoài nước, mở ra khả năng tự nguyện hợp tác kinh doanh.
- Như vậy, cổ phần hóa con đường ngắn nhất vừa bảo tồn vốn cho Nhà
nước, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển thực hiện những chủ
trương
của Đảng và Nhà nước, thu hút được nguồn vốn trong dân, còn tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích được mọi thành phần kinh tế tham
gia đầu tư phát triển
II. THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1. Trước thời kì đổi mới (trước 1986)
Từ năm 1986 trở về trước, khu vực kinh tế Nhà nước ở nước ta hoạt
động trong cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, tăng trưởng với tốc
độ chậm, thất thường và hiệu quả kinh tế xã hội thấp.
Do chủ quan duy ý chí và nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã
phát triển ào ào, tràn lan nền kinh tế quốc dân làm cho số doanh nghiệ
p Nhà
nước từ 7000 năm 1976 tăng lên 12.000 năm 1986. Điều này đã gây ra tình
trạng lãng phí tiền của của Nhà nước vào xây dựng và trang bị các doanh
nghiệp Nhà nước. Hơn nữa, quản lý các doanh nghiệp Nhà nước lại thực hiện
theo cơ chế bao cấp trong một thời gian dài, làm cho hiệu quả sử dụng tài sản
trong khu vực kinh tế Nhà nước còn thấp, thiếu vốn và chiếm dụng vốn lẫn
nhau trở thành một hi
ện tượng phổ biến.
2.Từ thời kì đổi mới đến nay (từ 1986 đến nay)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đánh
dấu các mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế xã hội của đất nước.
- Cùng với quá trình đổi mới và chuyển đổi cơ chế đã làm cho doanh
nghiệp Nhà nước năng động hơn, hiệu quả hơn. Số
lượng doanh nghiệp Nhà
nước từ năm 1989 là 12.000, sau khi mạnh tay sắp xếp lại đã giảm đi quá nửa,
nhưng tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status