CÔNG BẰNG XÃ HỘI CÁC
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ảnh hướng sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông
Âu trước những thiếu thốn, khó khăn, những ngổn ngang, bề bộn của một đất nước vừa
mới ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hôị kéo dài một bộ phận nhân dân còn ăn chưa
đủ no, mặc chưa đủ ấm, rất nhiều tiêu cực xã hội còn hành hoành; loá mắt trước những
thành tựu kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa, một số người hoài nghi và đã vội la lên
rằng chủ nghĩa tư bản mới là con đường, là phương tiện để thực hiện lý tưởng của chủ
nghĩa xã hội hiện thực - một xã hội giầu mạnh, công bằng văn minh.
Có thật thế không? Lẽ nào những kết luận của họ khi quan sát chủ nghía tư bản là
đúng đắn? Thật không đơn giản chút nào và đáng tiếc là, đối với những người quá ngưỡng
mộ chủ nghĩa tư bản thì thực tế lịch sử hơn 80 năm qua của các nước đi theo con đường
chủ nghĩa xã hội, theo họ lại chưa đủ để biện minh. Thực tiễn hiện nay, đúng là các nước tư
bản đang phát triển vượt bậc về kinh tế và có những cố gắng để giả quyết những vấn đề xã
hội. Nhà nước đã điều tiết thu nhập, tạo việc làm, trợ cấp thất nghiệp ở một mức độ nào đó
để giảm nhiệt độ những điểm nóng, những phản ứng, bất bình đẳng trong xã hội, mục đích
quan trọng nhất đó là giảm bớt mâu thuẫn gay gắt cơ bản giữa lực lượng sản xuất ngày
càng phát triển và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng cũ rích, lạc hậu. Tuy nhiên,
dù sao ta hãy xét thật khách quan để xem xét vấn đề công bằng xã hội, thực tế có đúng là
các nước tư bản chủ nghĩa cũng đang phấn đấu cho nmục tiêu công bằng xã hội hay
không ?
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, công bằng xã hội, đó là khái niệm về ý thức đạo
đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản chất và quyền con người
khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân
phối phúc và hoạ, lợi và hại giữa người và người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa
vai trò của các các nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của họ, giữa hành vi với sự đền
bù, lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt, giữa quyền với nghĩa vụ. Tất yếu,
không có sự tương xứng trong quan hệ ấy là bất công.
Tuy nhiên, nội dung của công bằng thay đổi và ngày một mở rộng phạm vi trong lịch
sử, tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, xã hội nhất định. Ta hãy trở lại với thời kỳ cổ đại, người Hy
Lạp cổ đại cho rằng chế độ nô lệ là công bằng, ý thức công bằng của cả giai cấp tư sản
Trở lại với thời kỳ các nước tư bản phương Tây phát triển nền kinh tế thị trường tự
do kéo dài từ thế kỷ XVII cho đến đầu thể kỷ XX. Tư tưởng tự do kinh tế được thể hiện
trong tác phẩm: Nghiên cứu về nguyên nhân và bản chất sự giàu có của các dân tộc - A.
Smith. Ông cho rằng, trước sự kìm hãm của chế độ phong kiến lạc hậu, nền kinh tế không
thể phát triển mạnh nếu chỉ với hình thức sản xuất tự cung tự cấp hay buôn bán với tính
chất giản đơn, chịu sự tác động nặng nề của luật lệ hà khắc, cổ hủ của chế độ phong kiến
đương thời, mà phải được tiến hành tự do, không có sự can thiệp của Nhà nước, cứ để cho:
“bàn tay vô hình” của thị trường tự điều tiết, quan hệ giữa người với người chỉ là quan hệ
lợi ích. So với những xã hội bất công tàn bạo trước chủ nghĩa tư bản như xã hội nô lệ, chế
độ phong kiến nơi mà con người còn không có cả quyền tự do thẩn thể chứ chư nói đến tự
do hoạt động lao động sản xuất thì tư tưởng tự do kinh tế thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản
đã đạt được những kỳ tích trong kinh tế, khoa học và công nghệ vượt xa các xã hội trước
đó. Tuy nhiên, “bàn tay vô hình” ngày càng bộc lộ rõ những khiếm khuyết cố hữu cơ bản,
ngày càng tạo ra trong xã hội những mâu thuẩn gay gắt mà không thể khắc phục nổi. Thật
vậy, do chạy theo lợi nhuận một cách điên cuồng trong thị trường tự do cạnh tranh, nên xã
hội đã diễn ra quá trình phân hoá, từ sàng lọc tự nhiên theo nguyên tắc giỏi thắng, kém thua
đến chỗ cá lớn nuốt cá bé, lừa đảo, chụp giật, tiêu diệt nhau để giành lấy vị trí độc quyền.
Để đạt được siêu lợi nhuân, các Công ty độc quyền ngày càng bóc lột sức lao động của
công nhân, Công ty bị ph á sản đã phải sa thải công nhân dẫn đến sự thất nghiệp ngày càng
tăng dẫn đến sự bần cùng hoá, tệ nạn xã hội từ đó xuất hiện ngày càng đông. Do vậy sự bất
công bình đẳng trong xã hội ngày càng sâu sắc dẫn đến bùng nổ những cuộc chiến tranh
lạnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Từ bối cảnh hiện thực xã hội, học thuyết Mác - Lênin ra đời lại được kiểm nghiệm
trên thực tế bằng sự thắng lợi vang dội cả thế giới của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ
đại, đã đập tan chính quyền của giai cấp tư sản, nước Nga trở thành nhà nước xã hội chủ
nghãi đầu tiên trên thế giới. Sự kiện đó đã đi vào lịch sử nhân loại, là bước ngoặt của xã
hội, làm thức tỉnh nhân loại hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng hơn chủ nghĩa tư
bản. Đó là chủ nghĩa xã hội.
TRước tình hình biến đổi và hình thành hai cực trong xã hội, các nước tư bản không
còn cách lựa chọn nào khác là phải tự điều chỉnh một bước, chuyển từ nên kinh tế thị
Mạch...) mặc dù về nguyên tắc vẫn là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nhưng việc phân
phối kết quả sản xuất lại hướng vào thi hành chế độ phúc lợi cao, thu hẹp khoảng các tiền
lương đến gần như bình quân, tạo ra được không khí lao động hăng say trong quần chúng
nhân dân nên chỉ trong một thời gian ngắn, Thuỵ Điển từ một nước nghèo nhất Châu Âu đã
trở thành nước giàu có nhất. Tuy việc, việc thi hành chế độ phúc lợi cao theo tư tưởng
“không tưởng” của Đảng xã hội dân chủ Thuỵ Điển, đồng thời công bằng với bình quân
trong khi nền kinh tế xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu, đã gây ra phản ứng gay gắt trong
giới chủ kinh doanh, làm tiêu tan dần động lực phát triển kinh tế, buộc các nước đi theo mô
hình này phải điều chỉnh theo hướng khác có lợi hơn cho kinh tế tư nhân.
Phương hướng đi tìm những mô hình mới để có thể đạt được sự ổn định xã hội
đương nhiên đâu phải do thiện chí của những nhà cầm quyền ở các nước tư bản, mà chính
là do áp lực đấu tranh của quần chúng chống lại sự bất công và cũng chính là do nếu không
ổn định được xã hội thì không thể tiếp tục phát triển kinh tế đem lại lợi nhuận cho giai cấp
tư sản cũng như cho Nhà nước bảo trợ giai cấp ấy.
Đối với chế độ tư bản chủ nghĩa, công bằng xã hội đâu phải là mục tiêu, mà chỉ là
phương tiện bắt buộc họ sử dụng để đạt được mục tiêu khác, đó là lợi nhuận. Chỉ có chủ
nghĩa xã hội mới phấn đấu cho mục tiêu công bằng xã hội và công bằng xã hội chỉ là mục
tiêu riêng của chủ nghĩa xã hội mà thôi. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, sau sự sụp đổ của mô
hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cuộc khủng hoảng về kinh tế cho
phương thức quản lý phân phối bình quân theo đầu người (đồng nhất công bằng với bình
quân đầu người) ở Liên Xô và nước ta, nhiều người đã hoài nghi về học thuyết Mác - Lênin
và không khỏi tự hỏi “Chủ nghĩa xã hội có những tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản về công
bằng xã hội được thể hiện ở điều đó chăng”. Chắc chắn là không, tất cả sự sụp đổ của mô
hình ở Liên Xô, Đông Âu và khủng hoảng kinh tế (đúng hơn là chậm phát triển có xu thế
thụt lùi) ở Việt Nam hoàn toàn gánh chịu những sai lầm trong quản lý Nhà nước của các
nhà lãnh đạo khi áp dụng học thuyết Mác - Lê nin. Sự khác biệt của chủ nghĩa xã hội hay
đúng hơn là sự tiến bộ hơn của chủ nghĩa xã hội là coi con người là chủ thể phát triển của
xã hội, mọi hoạt động trong xã hội đều hướng tới vì hạnh phúc của con người. Còn chủ
nghĩa tư bản ngày nay thì sự quan tâm đến con người đâu phải là vì con người mà vì con
người là một yếu tố sinh lợi, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, chất xám chiếm tỷ trọng
Không ít học giả tư sản đã lên án tình trạng này. Bên cạnh đó, ở Mỹ, tình trạng kiện tụng
tràn lan, tội ác và bạo lực lan tràn trở thành, sự ồ ạt ngày càng nhiều của tệ nạn ma tuý, tình
trạng quá nhiều giấy phép mại dâm khiến cho mại dâm trở thành lối sống bao trùm đang đe
doạ cơ sở gia đình. Sự truyền bá ồ ạt đồi truỵ tinh thần dưới chiêu bài giải trí, thực tế nó
khuyến khích tình dục và bạo lực. Tình trạng lan tràn tâm lý tuyệt vọng trong xã hội, điều
này trở thành cách nhìn bình thường không chỉ của những người nghèo, những người vô
gia cư và đặc biệt là của nhiều người da đen ở thành thị. Nước Mỹ là nước có tỷ lệ giết
người cao nhất so với bất kỳ một nước văn minh nào trên thế giới. Mỗi năm có từ 23 nghìn
đến 24 nghìn vụ giết người. Trong những năm hiện nay số vụ tự tử của thanh niên tăng
300% so với năm 1950. Hàng năm, nói chung có từ 25 nghìn đến 27 nghìn người Mỹ tự kết
liễu đời mình. Do vậy, ngay cả trong điều kiện chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay vẫn
đang tồn tại sự bất công trong xã hội.
Đối với chế độ chủ nghĩa, công bằng xã hội là mục tiêu, là bản chất của xã hội không
có nghĩa là cứ đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì đương nhiên là có công bằng xã hội.
Công bằng trong chủ nghĩa xã hội không phải là thứ công bằng lạnh lùng, không tình nghĩa
của nền kinh tế thị trường tự do, cũng không phải công bằng kiểu Nhà nước phúc lợi không
tưởng của xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế còn nghèo, việc
xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, tức là thừa nhận còn tồn tại các thành phân
kinh tế khác ngoài kinh tế quốc doanh là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên cũng vì thế, sẽ
vẫn còn những hiện tượng chưa công bằng. Soi tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào
thực tiễn hiện nay, các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa (Việt Nam ta) mới đang trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì chúng ta không nên phủ nhận sạch trơn những văn
minh, tinh hoa, thành tựu khoa học kỹ thuật trong tư bản chủ nghĩa mà chúng ta phải tiếp
thu những tinh hoa đó của nhân loại. Do vậy, chủ trương đưa nền kinh tế theo kiểu kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Tuy
nhiên, chấp nhận nền kinh tế thị trường tự do tức là chấp nhận sự chưa xoá bỏ hết những
bất công trong xã hội. Chẳng hạn phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối của chủ
nghĩa xã hội để đảm bảo công bằng xã hội, nhưng trong thời kỳ quá độ vẫn còn phải chấp
nhận các kiểu phân khác như phân phối theo vốn, theo tài sản... Điều quan trọng khó khăn,
cấp bách đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay là vừa làm sao tăng trưởng được kinh
đổi phù hợp với sinh hoạt đời sống của nhân dân tạo điều kiện cho người dân tự nâng cao
mức sống của mình. Những chính sách xoá đói giảm nghèo ngày càng sâu đến mọi người
dân vùng sâu, vùng xa, giúp cho người dân có điều kiện sinh hoạt tốt hơn, do đó, có thể
nói, tỷ lệ người nghèo giảm đi rõ rệt, số người giàu tăng lên nhanh chóng làm cho đời sống
xã hội ngày một ổn định.
Tuy nhiên, chúng ta còn đang trong thời kỳ nền kinh tế thị trường chưa định hình rõ,
cơ chế thị trường chưa thành thục, nên bộc lộ không ít những nhược điểm có ảnh hưởng
xấu đến việc đảm bảo công bằng xã hội. Nguyên nhân do quản lý kém, nên mức độ tiết
kiệm để tích luỹ vốn trong nội bộ nền kinh tế còn thấp, gây lãng phí nhiều. Mặt khác, để có
vốn đầu tư phát triển, ta phải vay khá nhiều vốn của nước ngoài do đó trong một mức độ
nào đó, vay vốn nước ngoài mà không đủ vốn trong nước để đối ứng thì tăng trưởng kinh
tế sẽ không ổn định. Hơn nữa, việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả sẽ lâm vào tình trạng nợ
nần, đó là một nguy cơ đe doạ sự tăng trưởng kinh tế.
Hiện tượng phân tầng xã hội ngày càng tăng, mặc dù về so sánh tuyệt đối thì người
nghèo đã bớt nghèo hơn trước nhưng mức chênh lệch giàu nghèo càng lớn, nếu không được
giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến sự bất bình trong dân chúng. ở nông thôn mức chênh lệch
giàu nghèo theo thống kê từ năm 1976 - 1980 cách nhau 3 - 4lần, thời kỳ 1981 - 1989 là 5 -
6 lần, 1990 - 1994 là 15 - 20 lần.
Thêm vào đó, là tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao, môi trường đang bị tàn phá, các