Nét đẹp Việt trong lễ ăn hỏi
Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống
của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả con cho nhau giữa hai gia đình,
hai họ. Và đây cũng là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành "vợ
sắp cưới" của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin
được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.
Trong lễ ăn hỏi, nhà nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công
nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa
cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.
Trải qua thời gian năm tháng, lễ ăn hỏi ngày nay đã có sự đổi thay phần nào phù hợp với sự phát
triển của xã hội. Lễ ăn hỏi ngày nay bao gồm cả lễ dẫn cưới. Đó chính là sự thích nghi của văn hóa
cổ truyền trong xã hội đương đại.
Mô hình lễ ăn hỏi chung trong xã hội Việt Nam đương đại như sau:
Về thành phần tham dự:
-Nhà trai: Chú rể, bố mẹ, ông bà, đại diện họ hàng,bạn bè và một số thanh niên chưa vợ bưng mâm
quả (hoặc bê tráp). Thường thì người bê tráp là nữ nhưng do mâm quả bây giờ khá nặng nên có thể
thay thế bằng nam. Số người bê tráp là số lẻ, 3, 5, 7, 9 hoặc 11.
-Nhà gái: Cô dâu, bố mẹ, ông bà, gia đình và một số nữ chưa chồng để đón lễ ăn hỏi, số nữ đón lễ
vật tương ứng với số nam bưng mâm.
Lễ vật:
Trầu và cau tươi: 1 buồng;
Bánh cốm: 200 chiếc
Bánh phu thê (bánh xu xê)”: 200 hoặc 20 chiếc
Bánh đậu xanh: 200 chiếc
Mứt sen: 2 kg.
Chè: 2 kg
Rượu: 2 chai
Thuốc lá: 2 tút
Lợn sữa quay: 1 con
Tiền dẫn cưới cho vào 2 phong bì….
mặn để thết đãi gia đình trai mong tạo hòa khí gắn bó và hàn huyên. Nghi thức trao nhận lễ vật cũng
nên trở thành nghi thức bắt buộc.
Cô dâu
Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên
bằng cách thắp hương lên bàn thờ. Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rót nước mời khách.
Nhà gái
Nhà gái nhận lễ rồi đặt một phần lên bàn thờ gia tiên. Khi lễ ăn hỏi xong, bánh trái, cau, chè được
nhà gái "lại quả" (trả lại) cho nhà trai một ít, còn nhà gái dùng để chia cho họ hàng và người thân.
Cần phải lưu ý rằng: đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại
tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại.
Biếu trầu
Đại diện nhà gái chuẩn bị đón tiếp nhà trai trong lễ ăn hỏi, các cô gái nhận tráp lễ vật mặc áo dài
màu đỏ.
Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu
cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,... Ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chốn.
Trong việc chia bánh trái, cau, chè cau phải chia theo số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là
mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá trầu trở lên. Con số chẵn là số dương, số lẻ là số âm dùng trong việc
cúng lễ.
Theo lối mới bây giờ, cũng chia bánh trái, thường có kèm theo những tấm thiếp của đôi bên hai họ
báo tin đính hôn của đôi trẻ. Nếu ngày nghênh hôn không xa ngày hỏi, trong thiếp sẽ ghi rõ lễ cử
hành vào ngày nào. Trong trường hợp này có khi cùng với thiếp "báo hỷ" lại có thiếp mời tiệc cưới.
Trang phục
Trang phục cho cô dâu: một bộ áo dài, vừa có thể mặc trong lễ cưới, vừa có thể mặc ở những dịp lễ
hội sau này. Có thể sắm cho cô dâu tương lai những đồ trang sức sau: xuyến, vòng, hoa tai. Chú rể
mặc comple, cà vạt.
Nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè chia giúp. Khi nhà trai dẫn lễ ăn hỏi tới nhà gái,
nhà gái thường làm cơm thết đãi. Sau lễ ăn hỏi đôi bên kể là giao kết gắn bó với nhau rồi. Tuy vậy
ngày xưa các cặp vị hôn phu và hôn thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường hợp đặc biệt
lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép. Phong tục ngày nay đổi khác, sau lễ ăn hỏi đôi trai gái thường
gặp nhau luôn. Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng hai ba năm, nhưng ngày nay thời gian