Quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐ trong DN xây dựng.
Trong tổ chức công tác kế toán của DNXD, phần hành kế toán tài sản cố định
(TSCĐ), phục vụ cho việc ra các quyết định liên quan đến quản lý, sử dụng TSCĐ. Việc
đánh giá thực trạng hạch toán và quản lý TSCĐ trong các DNXD là một việc làm có ý nghĩa
quan trọng nhằm tìm ra các điểm mạnh và phân tích những tồn tại, phục vụ cho việc đề
xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý và hạch toán TSCĐ nhằm mục tiêu nâng cao hiệu
quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DNXD.
Những kết quả đạt được
Có thể nói, các DNXD đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chế độ kế toán về TSCĐ.
Chính điều này đã tác động tích cực tới hiệu năng quản lý kinh doanh, quản lý tài sản và
đóng góp quan trọng vào việc nâng cao vị thế, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của
DNXD. Cụ thể là:
Các DNXD đã vận dụng đầy đủ hệ thống chứng từ cho quản lý và hạch toán TSCĐ,
từ việc đầu tư, mua sắm, điều chuyển, cấp vốn, thuê, cho thuê, thanh lý, nhượng bán, khấu
hao đến sửa chữa TSCĐ. Việc sử dụng tương đối đầy đủ và linh hoạt hệ thống tài khoản
kế toán áp dụng cho phần hành kế toán TSCĐ, các tài khoản được sử dụng, bao gồm cả
tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết, từ kết cấu, cách ghi chép đến mối quan hệ giữa
các tài khoản đã góp phần xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hiện có và biến động
của toàn bộ TSCĐ cũng như của từng loại TSCĐ trên các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị hao
mồn và giá trị còn lại (GTCL), từ đó làm cơ sở cho việc ra các quyết định của quản lý liên
quan đến đầu tư, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán và sửa chữa TSCĐ.
Các DN đã áp dụng hình thức kế toán tương đối hợp lý với quy mô hoạt động, đặc
điểm tổ chức quản lý, nhu cầu thông tin và khả năng, điều kiện cơ sở vật chất của DNXD.
Hình thức kế toán Nhật ký chung hoặc Chứng từ - Ghi sổ đã tạo điều kiện thuận lợi cho
DNXD trong việc ứng dụng công nghệ thôn tin vào công tác kế toán và vạn dụng linh hoạt
các mẫu sổ kế toán trong điều kiện kế toán máy. Việc mở và ghi đầy đủ số liệu về TSCĐ
trên Thẻ TSCĐ, Sổ TSCĐ và Sổ theo dõi TSCĐ tại đơn vị sử dụng đã góp phần cung cấp
Quy trình thủ tục của các trường hợp mua sắm, XDCB, thuê, cho thuê, thanh lý, nhượng
bán, sửa chữa TSCĐ trong DNXD là hợp lý, các bước công việc diễn ra theo một trình tự
xác định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát của quản lý. Hiệu quả sử dụng
TSCĐ trong DNXD tương đối khả quan, có chiều hướng tăng dần qua các năm. Sức sản
xuất và sức sinh lời của TSCĐ tăng, trong khi suất hao phí của TSCĐ giảm. Nguồn vốn đầu
tư TSCĐ trong các DNXD chủ yếu là nguồn tài trợ vay, nợ bên ngoài. Tuy nhiên, suất sinh
lời của vốn chủ sở hữu (CSH) trong các DNXD là hợp lý trong tương quan với mặt bằng tỷ
lệ lãi suất cho vay của thị trường.
Những nỗ lực của DNXD trong việc hạch toán và quản lý TSCĐ đã đóng góp nhất
định vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và hiệu quả kinh
doanh, vị thế của các DNXD nói riêng.
Những hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong quản lý và hạch toán TSCĐ, các DNXD
vẫn còn một số hạn chế nhất định cần khắc phục và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu năng
quản lý và hiệu quả kinh doanh.
Thứ nhất, các DNXD chưa thực hiện đánh số hiệu cho TSCĐ, gây khó khăn nhất
định cho việc theo dõi, kiểm kê và quản lý TSCĐ trong phạm vi toàn DNXD cũng như theo
từng bộ phận, đơn vị sử dụng.
Thứ hai, các hình thức đầu tư TSCĐ trong DNXD còn đơn giản, phần lớn chỉ bao
gồm tăng do mua, thuê và do XDCB, chưa khai thác các hình thức khác như mua trả góp,
tự sản xuất hay trao đổi TSCĐ. Trong điều kiện khả năng tài chính còn hạn hẹp, nhu cầu về
số lượng, chủng loại và chất lượng của TSCĐ trong DNXD ngày càng cao, cần đa dạng
hoá các hình thức đầu tư TSCĐ sao cho phù hợp với yêu cầu sử dụng, khả năng tài chính
và tính hiệu quả kinh tế.
TSCĐ. Việc làm này tuy tạo ra sự đơn giản cho quản lý và hạch toán nhưng không đánh
giá sát hợp mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ, đặc biệt là những TSCĐ có mức độ hao
mòn vô hình tương đối lớn. Mặt khác, khi TSCĐ tăng hoặc giảm vào những ngày đầu tháng
mà tháng sau mới được tính hoặc thôi tính khấu hao thì sai lệch trong kết quả tính khấu
hao TSCĐ có thể là một con số không nhỏ.
Thứ bảy, các DNXD hiện nay đang sử dụng một lượng lớn TSCĐ đã khấu hao hết
giá trị. Điều này có thể là cần thiết khi năng lực sản xuất của TSCĐ vẫn đảm bảo, DNXD
còn gặp khó khăn về nguồn lực tài chính trong việc đầu tư, đổi mới, nâng cấp TSCĐ. Tuy
nhiên, nếu duy trì sử dụng một lượng lớn TSCĐ đã khấu hao hết giá trị có thể ảnh hưởng
đến năng lực, trình độ thi công, và khả năng đấu thầu của DNXD.
Thứ tám, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ trong các DNXD hiện nay được tính
trực tiếp trên cơ sở từng TSCĐ gắn với từng công trình hoặc bộ phận quản lý cụ thể mà
không thể hiện số khấu hao trích kỳ trước, số khấu hao tăng và giảm trong kỳ, không cho
phép đánh giá sự biến động chi phí khấu hao TSCĐ do ảnh hưởng của các trường hợp
tăng, giảm TSCĐ ngay trên bảng tính khấu hao kỳ này. Mặt khác, khấu hao TSCĐ trong
những ngày không sử dụng được hạch toán vào chi phí quản lý DN là không hợp lý bởi lẽ
những TSCĐ này được sử dụng cho mục đích thi công công trình xây lắp chứ không phục
vụ quản lý DN. Việc ghi tăng chi phí quản lý DN trong trường hợp này là không đúng với
mục đích sử dụng TSCĐ và phản ánh sai bản chất, quy mô của chi phí quản lý DN.
Thứ chín, hầu hết các DNXD chưa xây dựng quy chế tài chính nội bộ và quy chế
quản lý, sử dụng TSCĐ áp dụng trong DNXD. Quy chế tài chính nội bộ quy định nội dung,
trình tự ghi nhận doanh thu, chi phí, thẩm quyền phê duyệt đầu tư, điều chuyển, thanh lý,
nhượng bán tài sản nói chung, TSCĐ nói riêng, nhận vốn góp, phân chia lợi nhuận, xử lý
lỗ, mục đích sử dụng các quỹ, chế độ kế toán, kiểm toán…Quy trình quản lý, sử dụng
TSCĐ đề cập cụ thể đến các vấn đề tổ chức, kinh tế, kỹ thuật trong việc đầu tư, điều
chuyển, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Việc ban hành và áp
dụng quy chế tài chính nội bộ, quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ sẽ tạo ra sự thống nhất,