Chương 4. Hệ tuần hoàn
49
ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ TUẦN HOÀN
Mục tiêu học tập:
1. Biết được cấu tạo của tuần hoàn hệ thống.
2. Biết được cấu tạo của tuần hoàn phổi.
Hệ thống tuần hoàn có nhiệm vụ vận chuyển các chất cho cơ thể, gồm tuần hoàn máu và tuần
hoàn bạch huyết.
Hình 11.1. Hệ thống mạch máu
A. Các động mạch B. Các tĩnh mạch
Hệ tuần hoàn máu gồm có tim đóng vai trò như một cái bơm đẩy máu vào các động mạch và
hút máu từ các tỉnh mạch. Nếu lấy điểm bắt đầu của sự tuần hoàn là tâm thất trái của tim, thì
máu được đưa vào động mạch chủ từ đó máu nhiều oxy được vận chuyển đến các động mạch
nhỏ dần để đến các mô của các cơ quan. Tại các cơ quan có sự trao đổi chất và không khí.
Máu nhiều carbonic sẽ tập trung vào các tiểu tĩnh mạch sau đó đổ về các tĩnh mạch lớn hơn
cuối cùng đổ về tâm nhĩ phải của tim bằng hai tĩnh mạch chủ trên và dưới. Từ tâm nhĩ phải
máu xuống tâm thất phải. Đó là vòng tuần hoàn hệ thống hay tuần hoàn lớn. Máu từ tâm thất
Chương 4. Hệ tuần hoàn
50
Ngoài ra còn có hệ thống cửa nhận máu từ đường tiêu hóa về gan trước khi đổ vào tĩnh mạch
chủ dưới, phần này được đề cập ở chương hệ tiêu hóa.
Tuần hoàn bạch huyết gồm có các nốt bạch huyết và mạch bạch huyết, dẫn các tế bào bạch
huyết cũng như các protid do tế bào sản xuất, cuối cùng đổ về tĩnh mạch tay đầu phải và trái.
Còn gọi là mặt trước có:
- Rãnh vành chạy ngang phía trên, ngăn cách phần tâm nhĩ ở trên, phần tâm thất ở dưới.
- Phần tâm nhĩ bị thân động mạch phổi và động mạch chủ lên che lấp. Hai bên có hai tiểu nhĩ
phải và trái.
- Phần tâm thất có rãnh gian thất trước chạy dọc từ sau ra trước, lệch sang bên phải đỉnh tim,
ngăn cách tâm thất phải và tâm thất trái. Tâm thất phải chiếm diện tích phần lớn mặt này.
3. Mặt hoành
Hay mặt dưới, đè lên cơ hoành và qua cơ hoành liên quan với thuỳ trái của gan và đáy vị.
Rãnh vành ở mặt ức sườn chạy tiếp xuống mặt hoành, chia tim ra hai phần: phần sau là tâm
nhĩ, hơi hẹp, phần trước là tâm thất, rộng hơn, có rãnh gian thất sau, chạy từ sau ra trước và
nối với rãnh gian thất trước ở bên phải đỉnh tim.
4. Mặt phổi
Còn gọi là mặt trái: hẹp, liên quan với phổi và màng phổi trái, dây thần kinh hoành trái.
5. Ðỉnh tim
Còn gọi là mỏm tim, nằm chếch sang trái; ngay sau thành ngực, tương ứng khoảng
gian sườn V trên đường giữa xương đòn tráiChương 4. Hệ tuần hoàn
52Hình 11. 2. Mặt ức sườn của tim
1. Tiểu nhĩ phải 2. Rãnh vành 3. Cung động mạch chủ
4. Thân động mạch phổi 5. Rãnh gian thất trước 6. Tiểu nhĩ trái
.
III. Hình thể trong
1. Các vách tim
Hình 11.3. Hình thể trong của tim
1. Phần màng vách gian thất 2. Phần cơ vách gian thất
3. Val hai lá 4. Thừng gân 5. Trụ cơ
. Cấu tạo của tim IV
Tim đựơc cấu tạo gồm ba lớp
1. Ngoại tâm mạc
Hay màng ngoài tim, là một túi thanh mạc kín, giới hạn nên trung thất giữa. Gồm hai lớp: bao
sợi bên ngoài. gọi là ngoại tâm mạc sợi; và bao thanh mạc lót bên trong, gọi là ngoại tâm mạc
thanh mạc. Ngoại tâm mạc thanh mạc gồm hai lá: lá thành lót mặt trong bao sợi và lá tạng phủ
lên bề mặt tim. Hai lá liên tiếp nhau và giữa hai lá là một khoang ảo gọi là khoang ngoại tâm
mạc.
2. Cơ tim
Cơ tim gồm có hai loại:
2.1. Các sợi cơ co bóp: chiếm đa số, bám vào bốn vòng sợi quanh bốn lỗ lớn của tim là hai lỗ
nhĩ thất và hai lỗ động mạch.
2.2. Các sợi cơ kém biệt hoá: tạo nên hệ thống dẫn truyền của tim, có nhiệm vụ duy trì sự co
bóp tự động của tim. Hệ thống này gồm một số nút, bó sau: nút xoang nhĩ ở thành phải tâm
nhĩ phải, là nút tạo nhịp; nút nhĩ thất ở thành trong tâm nhĩ phải; bó nhĩ thất bắt đầu từ nút nhĩ
Chương 4. Hệ tuần hoàn
54
thất, chạy ở mặt phải vách nhĩ thất, đến phần cơ của vách gian thất. Bó nhĩ thất chia thành hai
trụ là trụ phải và trụ trái chạy vào hai tâm thất.
3. Nội tâm mạc
Hay màng trong tim, mỏng, bóng; phủ và dính chặt lên bề mặt của các buồng tim, liên tiếp
với nội mạc các mạch máu.
V. Mạch máu và thần kinh của tim
Chương 4. Hệ tuần hoàn
56
ÐỘNG MẠCH CHỦMục tiêu học tập:
1. Mô tả được vị trí của các đoạn động mạch chủ.
2. Kể tên được các nhánh bên, nhánh tận của các đoạn động mạch chủ.
Ðộng mạch chủ là thân động mạch chính của hệ tuần hoàn. Các nhánh bên và nhánh tận của
nó đem máu đi nuôi khắp cơ thể. Bắt đầu từ tâm thất trái, chạy lên trên, ngang mức đốt sống
ngực 4 vòng sang trái rồi quặt xuống dưới, đi dọc theo cột sống ngực, qua cơ hoành xuống ổ
bụng và tận hết ngang mức đốt sống thắt lưng 4 bằng cách chia thành hai nhánh tận là động
mạch chậu chung phải và trái.
Ðộng mạch chủ thường được chia làm ba đoạn là động mạch chủ lên, cung động mạch chủ và
động mạch chủ xuống.. Thành động mạch chủ dày, rất đàn hồi và được nuôi dưỡng bởi các
mạch nuôi mạch
I. Động mạch chủ lên
1. Ðường đi và giới hạn
Từ tâm thất trái chạy lên trên sang phải, đến ngang mức góc xương ức (tương ứng đốt sống
ngực 4).
2. Nhánh bên
Động mạch chủ lên cho hai nhánh bên là hai động mạch vành phải và trái.
II. Cung động mạch chủ
1. Ðường đi và giới hạn
Chạy cong sang trái và hướng ra sau tạo thành một cung lõm xuống dưới, ôm lấy phế quản
chính trái. Trên phim X quang ngực, cung động mạch chủ tạo nên một cung lồi ở phía bên trái
ngoài.
Ðộng mạch chậu ngoài là nguồn chính cấp máu cho chi dưới. Ðộng mạch chậu trong cấp máu
cho các tạng vùng tiểu khung và vùng mông. Hình 11.5. Động mạch chủ
1. Thân tay đầu 2. Cung động mạch chủ 3. Động mạch chủ ngực
4. Động mạch thân tạng 5. Động mạch chủ bụng