Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: "Phương tiện thông tin đại chúng" - Pdf 92


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “
Phương tiện thông tin
đại chúng
” 1
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài 4
2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu 9
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi 16

1.3. Địa điểm khảo sát và một số đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu
37
1.3.1. Vài nét về địa điểm khảo sát 37
1.3.2. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 39
Chương II: Cách thức, mức độ và những vấn đề được
quan tâm trong giao tiếp đại chúng của công chúng sinh viên
báo chí.
42
2.1. Các phương tiện thông tin đại chúng và cách thức tiếp
nhận thông tin của công chúng sinh viên báo chí.
42
2.1.1. Các phương tiện truyền thông đại chúng 42
2.1.1.1. Báo in 42
2.1.1.2. Đài phát thanh - truyền hình 43
2.1.1.3. Báo trực tuyến 46
2.1.2. Địa điểm và cách thức tiếp nhận thông tin từ báo chí
của công chúng Sinh viên báo chí.
48
4
2.1.2.1. Địa điểm và cách thức đọc báo in 49
2.2.2.2. Địa điểm và cách thức nghe đài phát thanh 53
2.2.2.3. Địa điểm và cách thức xem truyền hình 55
2.1.2.4. Địa điểm và cách thức truy cập Interner 58
2.2. Mức độ tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên
báo chí
61
2.3. Những vấn đề được quan tâm của công chúng công
sinh viên báo chí
70

việc học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí
3.2.2. Ý nghĩa của những thông tin từ báo chí đối với việc
học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí
100
PHẦN KẾT LUẬN

1. Những kết luận cơ bản 106
2. Một số kiến nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
111
PHẦN PHỤ LỤC
7

8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài
Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ truyền thông đại chúng được sử
dụng trong “Lời nói đầu của Hiến chương Liên hiệp quốc về văn hoá, khoa học
và Giáo dục”. Hiện nay, thuật ngữ này đã phổ biến rất rộng rãi các phương tiện
truyền thông đại chúng, tác động hàng ngày, hàng giờ đến sự phát triển của từng
lĩnh vực của xã hội.[3]

thích đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với công
chúng mặt khác phản ánh những nguyện vọng, ý kiến phản hồi của công chúng
trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước.
Nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó như : Báo in, báo
ảnh, phát thanh, truyền hình, internet …Đó là các bộ phận, các kênh thông tin
cơ bản nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận
động của thông tin đại chúng.
Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những
hạn chế riêng , chẳng hạn như: báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu
phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí này
có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm khác nhau. Hạn chế
cơ bản của loại hình báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công
chúng ở vùng sâu, vùng xa…Phát thanh, Truyền hình có thế mạnh là nhanh,
đồng thời, rộng khắp, hàng triệu triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin
đồng thời với thời điểm diễn ra sự kiện. Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng
qua, khả năng lưu trữ kém …đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình
10
báo chí này phải hết sức tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng,
thời tiết…
Ở nước ta các loại hình thông tin đại chúng đồng thời tồn tại và phát triển,
chúng không những không loại trừ nhau, mà ngược lại còn bổ khuyết, hỗ trợ
cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất
nước.
Hiện nay, cả nước ta có khoảng 14.000 nhà báo chuyên nghiệp
đang hoạt động. Ngoài ra còn có hàng ngàn cộng tác viên, thông tin viên và một
đội ngũ đông đảo đang hoạt động trong lĩnh vực thông tin xã hội. Đó là cán bộ ở
các phòng thông tin văn hoá, các đài truyền thanh cấp huyện, xã…
Cả nước hiện có 553 cơ quan báo in, trong đó có 157 báo 396 tạp
chí và khoảng hơn 1000 bản tin. Hàng năm, xuất bản hơn 550 triệu bản báo. 64

- Dấu hiệu về nghề nghiệp ( Giáo dục thời đại, Quân đôi nhân
dân, Người làm báo ...)
- Dấu hiệu về lứa tuổi ( Nhi đồng, Thanh niên, Tuổi trẻ, Người
cao tuổi…)
- Dấu hiệu về lãnh thổ ( Hà Nội mới, Sài gòn giải phóng, Hà
tây, Hà Nam…)
- Dấu hiệu về xã hội (Đại đoàn kết, Lao động …)
1)

12
- Dấu hiệu về giới ( Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, Nữ
sinh …)
- Dấu hiệu về nhu cầu thị hiếu ( Tạp chí Thời trang, Báo Văn Nghệ,
tạp chí Văn nghệ… )
*

Tất cả các dấu hiệu trên là cơ sở để hoạt động xuất bản và phát
hành đối với tất cả các loại hình báo chí, kể cả báo chí Trung ương và địa
phương. Tất cả các đấu hiệu trên đều rất xác thực và gần gũi với đời sống xã
hội, do đó các đối tượng công chúng đều có thể tiếp nhận những thông tin phù
hợp từ hệ thống truyền thông đại chúng.
Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu khảo sát và đánh giá về
những ảnh hưởng và tác động của truyền thông đại chúng đối với các tầng lớp
công chúng ở nước ta là có tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý
luận và thực tiễn.
Gần đây, một số tác giả cũng đã đưa vấn đề nhận diện công chúng
truyền thông đại chúng trong đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng
những công trình xem xét dưới góc độ Xã hội học và Báo chí theo hướng
nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng nói chung
và đối với công chúng là sinh viên nói riêng.

đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa trên, luận văn của chúng tôi chọn sinh viên của Trường
Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình TW1(Trực thuộc Đài Tiếng Nói Việt Nam)
tại Hà Nam để khảo sát hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí.
2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
14
Nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng nằm trong hệ
thống tri thức của xã hội học, đây là một hoạt động khoa học tạo được sự quan
tâm của cả Báo chí học và Xã hội học truyền thông đại chúng.
Trong lịch sử nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đại
chúng với xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm nhìn nhận khác
nhau tuỳ thuộc vào sự biến động của mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội nhất định .
Năm 1905, việc phát minh ra vô tuyến điện và theo đó là sự ra đời
của đài phát thanh – đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển các
phương tiện truyền thông đại chúng. Đài phát thanh ra đời với những ưu điểm
vượt trội về tốc độ thông tin cũng như sự quảng đại trong việc truyền bá nên đã
được công chúng hào hứng, say sưa tiếp nhận.
Các nhà nghiên cứu xã hội học thời kỳ này cho rằng các phương tiện
truyền thông đại chúng thực sự có một sức mạnh vạn năng. Tiêu biểu cho
khuynh hướng này là quan điểm của trường phái Frankfurt, họ cho rằng với khả
năng của đài phát thanh sẽ rất dễ thuyết phục công chúng, khiến họ phải tin
tưởng và phục tùng theo các thông điệp và mục đích của nó được truyền trên
sóng phát thanh. Nhận xét này được đưa ra từ sự quan sát số lượng công chúng
bị tác động và sự ảnh hưởng của nội dung thông điệp truyền tải, chưa dựa trên
những nghiên cứu thực nghiệm đối với công chúng truyền thông.
Năm 1944, P.Larsfeld cùng các cộng sự đã thông qua nghiên cứu
thực nghiệm đối với cử tri về quyết định bầu cử chỉ ra rằng, các chiến dịch vận
động tranh cử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như chỉ
làm tăng thêm sự tin tưởng vào những ý định sẵn có của cử tri, thực tế ít làm
thay đổi quyết định của họ[403, 404].

16
quả truyền thông đại chúng của mạng Internet được đặc biệt chú trọng và phạm
vi nghiên cứu không chỉ trong mỗi quốc gia mà mở rộng ra toàn thế giới.
Đến cuối thế kỷ XX, J.Habermas đưa ra khái niệm “không gian cộng
đồng” trong đó các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò trung gian
liên lạc và tiếp xúc trong nội bộ xã hội dân sự, cũng như nội bộ xã hội xã hội
dân sự và các thiết chế Nhà nước. Đồng thời xác định truyền thông đại chúng
không phải là lãnh địa riêng của các nhà truyền thông hay các chuyên gia truyền
thông, nó là diễn đàn chung để thông tin về xã hội về con người. Truyền thông
đại chúng cũng là nơi thể hiện các mối quan hệ giữa các tầng lớp, các nhóm xã
hội[351, 352].
Nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng là một hướng
nghiên cứu cơ bản của xã hội hiện đại. Các nước có truyền thống nghiên cứu xã
hội học rất coi trọng hướng nghiên cứu này. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
khi mà các quan hệ xã hội diễn ra ngày càng phức tạp trong bối cảnh toàn cầu
hóa. Truyền thông đại chúng được coi là một tác nhân xã hội, cơ bản tạo nên
các liên kết xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu
vực và quốc tế.
Trong giai đoạn phát triển của xã hội học, truyền thông đại chúng
bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, bao giờ xã hội học cũng hết sức được
coi trọng, nó được coi là hướng nghiên cứu chủ yếu để xem xét các tác động xã
hội của hệ thống truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội, và để đánh giá
hiệu quả xã hội của hệ thống này.
Ngay từ năm 1910, M.Weber người đã đặt luận cứ cho các nghiên
cứu xã hội học truyền thông đại chúng đã xếp nghiên cứu về công chúng ở vị trí
hàng đầu trong các vấn đề cần phải ưu tiên của xã hội học truyền thông đại
chúng. Qua bốn giai đoạn phát triển, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại
17
chúng chỉ ra rằng: truyền thông đại chúng tạo nên các tương tác xã hội để hình
thành hành động xã hội phù hợp với định hướng xã hội.

trình tiếp nhận thông tin, xử lí thông tin, cơ chế lây lan thông tin và các thức sử
dụng thông tin của họ, coi đó như những dấu hiệu tin cậy để đánh giá hiệu quả
hoạt động của hệ thống này.
Ngoài ra, tác giả này cũng đưa ra hàng loạt các nghiên cứu về dư
luận xã hội trong các bài viết trên tạp chí Xã hội học như “Dư luận xã hội - mấy
vấn đề lí luận và phương pháp nghiên cứu” ( Tạp chí Xã hội học số 1- 1995),
“Dư luận xã hội về con số”( Tạp chí Xã hội học số 3 – 1996), “ mấy vấn đề về
dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới”(Tạp chí Xã hội học số 2 – 1996), “ Vai
trò của dư luận xã hội trong cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”(Tạp chí Tâm lí học số 2 – 2000). Trong bài “ Truyền thông đại chúng và dư
luận xã hội” ( Tạp chí Xã hội học số 1 – 1996) tác giả đi sâu phân tích mối quan
hệ biện chứng giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện
dư luận xã hội.
Các tác giả khác cũng công bố những công trình nghên cứu về xã
hội học báo chí như: luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trần Hữu Quang năm
2000 “ Chân dung công chúng báo chí Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận án đi
sâu khảo sát cách thức và mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông đại
chúng của công chúng. Trên cơ sở phân tích các hình thức tiếp nhận thông tin từ
các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng, để nhận diện công
chúng trong bối cảnh đổi mới của Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác như: luận án
tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trương Xuân Trường năm 2002 “ Hiện trạng và
19
vai trò tác động của truyền thông dân số đối với người nông dân”, PGS.TS.
Nguyễn Văn Dững “Đối tượng tác động của báo chí” trên tạp chí Xã hội học số
4 – 2004, luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Phương Thảo “ Hiệu quả của
truyền thông đại chúng đối với công chúng Thanh niên đô thị” nghiên cứu
trường hợp thành phố Hải Phòng năm 2006…
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Truyền thông đại chúng với
công chúng Thanh niên đô thị - nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng, do

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh
viên báo chí nhằm tìm hiểu :
- Công chúng sinh viên báo chí tiếp cận thông tin như thế
nào?
- Những vấn đề nào truyền tải trên báo chí được công chúng
sinh viên báo chí quan tâm?
- Nhận diện một số kênh truyền thông đại chúng liên quan đến
nghề báo và việc sử dụng những thông điệp tiếp nhận được đối với việc
học tập và rèn luyện.
- Góp phần đề xuất những giải pháp tăng cường hiệu quả
thông tin tới nhóm công chúng này.
21
4.2 Nhim v nghiờn cu
- Tỡm hiu cỏch thc tip nhn thụng tin v hiu qu vic s dng ni
dung cỏc thụng ip c thụng tin trờn bỏo chớ.
- Phõn tớch cỏc hỡnh thc trao i thụng tin trong nhúm cụng
chỳng sinh viờn bỏo chớ.
- Phõn tớch hiu qu ca bỏo chớ qua hot ng tip nhn v s
dng thụng tin t cỏc phng tin truyn thụng i chỳng ca sinh viờn
bỏo chớ.
5. i tng, khỏch th v phm vi nghiờn cu
5.1 i tng nghiờn cu
Nghiờn cu hiu qu ca bỏo chớ vi cụng chỳng sinh viờn bỏo chớ
5.2 Khỏch th nghiờn cu
L nhúm cụng chỳng sinh viờn bỏo chớ Trng Cao ng Phỏt thanh -
Truyn hỡnh TW1
5.3 Phm vi nghiờn cu
Trng Cao ng Phỏt thanh - Truyn hỡnh TW1 trc thc i

xuất phát từ chỗ ng-ời ta ngày càng nhận thấy khả
năng tác động to lớn của hoạt động truyền thông . Mặt
khác, tính phức tạp của h-ớng nghiên cứu này lại phụ
thuộc bởi tính chất đa chức năng của thông tin đại
chúng và các mối quan hệ nhiều chiều ở sự t-ơng tác
với hệ thống thông tin đại chúng trong thực tế

*
C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập T.1, tr.206. Dẫn theo Mai Quỳnh Nam,
"Truyền thông đại chúng và d- luận xã hội", Tạp chí Xã hội, số 1 (53),
1996, tr.3
23
Trên cơ sở áp dụng lí luận báo chí, quan
điểm lý thuyết xã hội học chuyên ngành xem xét hiệu
quả tác động của báo chớ với nhóm công chúng là sinh
viên báo chí đ-ợc đặt trong các t-ơng tác xã hội cụ
thể.
Quan điểm lý thuyết xã hội học đ-ợc
dùng làm cơ sở nghiên cứu ở đây gồm: Cách phân loại
hiệu quả truyền thông đại chúng đối với công chúng do
Weiss (1988) đ-a ra về tác động định l-ợng của truyền
thông đại chúng; Những l-u ý của Moll (1993) khi phân
tích chỉ báo độ ghi nhớ của công chúng về nội dung
thông điệp; Nhng vấn đề tạo nên mối quan tâm của giới
chuyên môn trong phân tích hiệu quả của truyền thông
đại chúng liên quan tới:
1. Việc tách giải quyết hoạt động của từng kênh
truyền thông cụ thể.
2. Nhận xét của Sechcô (1986) về sự sai lầm khi
tách tác động truyền thông đại chúng ra khỏi ảnh

Chỳng tụi tin hnh x lớ thụng tin theo phng phỏp :
- S dng phng phỏp phõn tớch thng kờ i vi nhng s
liu nh lng.
7. Gi thuyt
ti c trin khai ỏnh giỏ v kim nghim cỏc gi thuyt nghiờn
cu sau:

Trích đoạn Quan điểm của chủ nghĩa Mỏc – Lờnin về truyền thụng đại chỳng Truyền thụng đại chỳng Cụng chỳng của truyền thụng đại chỳng Địa điểm khảo sỏt và đối tượngnghiờn cứu 1 Vài nột vềđịa điểm khảo sỏt Cỏc phương tiện truyền thụng đại chỳng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status