TRẦU CAU QUA THI CA
Nguyễn Quý Ðại
Duyên anh sánh với tình anh tuyệt vời
Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh N
gày xưa người Việt thường có thói quen ăn trầu trở thành phong tục, chuyện
thần thoại Trầu Cau ( truyền tụng qua dân gian nêu lý do tại sao có tục ăn trầu. Thời đó
đàn ông hay đàn bà thường có mang theo túi trầu, trong nhà có giỏ trầu cau, bình vôi
bằng sứ hay bằng sành, con dao nhỏ để bổ cau, rọc trầu, cái khay gỗ hình vuông cẩn ốc
xa cừ để diã trầu mời khách.
Qua thi ca trầu cau liên quan đến tình duyên, về hôn nhân đôi khi không đòi hỏi
non.
Trầu cau không phải thứ đắt tiền, dùng nó làm lễ vật hôn nhân như là giao ước
giữa hai họ. Trong vườn miền quê thường trồng cau ngay hàng thẳng lối, thân cây cau
có dây trầu leo quanh. Từ Saigon theo quốc lộ 1 về phía Tây Bắc khoảng 10km, qua
cầu Tham Lương, rẽ trái một đoạn vào tỉnh lộ 14 là đến địa danh
18 Thôn Vườn Trầu
gọi là (Thập Bát Lưu Viên)
(Hóc Môn Bà Điểm)
Em về, anh gởi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Lịch sử ghi lại vua Lê Ðại Hành ngồi trên mình ngựa mời sứ giả nhà Tống cùng
ăn trầu, đó cũng là nghi lễ ngoại giao.Trầu cau giúp cho nhiều người nên vợ chồng.
Ngày xưa quan niệm hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cha mẹ hai bên quyết
định rồi con cái không thể cãi lại. Chàng yêu nàng tha thiết “tình trong như đã mặt ngoài
còn e” Cha mẹ nàng nhận lễ vật trầu cau qua lễ hưá hôn của người khác. Chàng trách
em sao vội lấy chồng, để anh chờ đợi biết mặn nồng cùng ai ? Nhưng nàng nhẹ nhàng
Ðể cho trọn bề hiếu trung
Miếng trầu là đầu câu chuyện, gặp nhau thường mời trầu, để dễ dàng gợi
chuyện thăm hỏi
Tiện đây ăn miếng trầu
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là ?
Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm
Nhưng người con gái khi đã yêu đôi lúc giấu cha giấu mẹ, têm trầu đưa cho bạn
trai ngầm nói với bạn trai khi vào nhà, biết cách cư xử.
Miếng trầu có bốn chữ tòng
Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà
Nào là chào mẹ chào cha
Cậu cô chú bác... mời ra xơi trầu Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm
Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già
Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ké dây trầu một bên
Mai sau trăm họ lớn lên
Cau kia ra trái làm nên cửa nhà.
Tùy theo phong tục mỗi địa phương sính lễ thường khác nhau, tuy nhiên không
thể thiếu được buồng cau, anh chàng kín đáo với nghệ thuật tán gái tinh tế hoặc với
giọng bông lơn như chuyện nhờ khâu áo nhờ khâu hộ chỉ đường tà để khi nào lấy
chồng sẽ trả công, người tình nguyện giúp từ lễ nghi cho đến việc ăn ở chiếu nằm, chăn
đắp ..chàng không nói rõ mà người con gái đó thừa hiểu chú rể là chàng rồi
Giúp em một thúng xôi vò
Thưa rằng bác mẹ tôi răng
Làm thân con gái chớ ăn trầu người
Có thể nàng từ chối miếng trầu, cũng có nghiã từ chối sự tiếp xúc để tiến đến
tình yêu với thái độ dè dặt, kín đáo nghi kỵ
Sáng nay tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tầu
Giữa thêm cái cánh hai đầu quế cay
(Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay)
Trầu này ăn thật là say
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Trầu bọc khăn trắng cau tươi
Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh
Ăn cho nó thỏa tấm lòng
Ăn nó thỏa sự mình sự ta
làm cho quên cá dưới áo
quên sông tắm mát, quên sao trên trời Con gái xa gia đình về nhà chồng làm dâu, ngày xưa thường va chạm sinh hoạt
gia đình « mẹ chồng nàng dâu », hay bị ép buộc lấy nhau để rồi đêm nằm cạnh chồng
thở than cuộc tình
Ðêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau khô ăn với trầu vàng xứng không ?
Người đời thường nói “thương nhau bỏ chím làm mười, hay thương nhau trái ấu
cũng tròn, ghét nhau trái bù hòn cũng méo“, trái cau cũng được phân chia cho sự ghét
thương
Thương nhau cau sáu bửa ba