Tài liệu Luận văn: “ Hoàn thiện công tác tổ chức lao động tại công ty xi măng - đá vôi Phú Thọ” - Pdf 92



TRƯỜNG..........................
KHOA……………………

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
Hoàn thiện công tác tổ chức
lao động tại công ty xi măng -
đá vôi Phú Thọ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy1

Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cácrh mạng khoa học kỹ
thuật và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường thì vấn đề sống còn
đối với các doanh nghiệp hiện nay là phải nâng cao năng suất lao động , chất
lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất đồng thời phải cố gắng hạ giá thành sản
phẩm từ đó mang lại lợi nhuận cao. Để đạt được hiệu quả lợi nhuận cao trong
sản xuất phải tiết kiệm được lao động sống và sử dụng có hiệu quả lao động
hiện có. Tổ chức lao động khoa học là điều kiện không thể thiếu được để nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả sản suất. Việc vận dụng và áp dụng những

của mình.
Quá trình lao động là tổng thể những hành động ( hoạt động lao động )
của con người hoàn thành một nhiệm vụ sản xuất nhất định. Quá trình lao
động luôn là một hiện tượng kinh tế, vì vậy nó luôn được xem xét trên hai
mặt: Mặt vật chất và mặt xã hội.
Về mặt vật chất quá trình lao động là sự kết hợp 3 yếu tố: lao động , đối
tượng lao động và công cụ lao động . Trong quá trình này con người sử dụng
công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm mục đích làm cho
chúng thích ứng với nhu cầu của mình.
Về mặt xã hội thể hện sự phát sinh các mối quan hệ qua lại giữ những
người lao động với nhau trong lao động . Các mối liên hệ đó làm hình thành
tính chất tập thể, tính chất xã hội của lao động .
Quá trình lao động là bộ phận của quá trình sản xuất. Quá trình sản
xuất được thực hiện trên cơ sở thực hiện trọn vẹn các quá trình lao động mà
mỗi quá trình lao động trong đó chỉ là một giai đoạn nhất định trong việc chế
tạo ra sản phẩm. Tuy nhiên trong một số truờng hợp quá trình sản xuất không
chỉ có tác động của con người trong quá trình lao động mà còn có tác động
của lực lượng tự nhiên. Do đó trong khái niệm quá trình sản xuất gồm một
tổng thể nhất định các quá trình lao động và các quá trình tự nhiên. Giữa
chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau có tính đồng nhất về mục đích cuối
cùng.
Cho dù quá trình lao động được diễn ra trong điều kiện nào thì cũng
phải tổ chức sự kết hợp giữa 3 yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy3
mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình lao động để hoàn


Lª Hoµng Huy4
sản xuất , nâng cao trình độ kỹ thuật hoá quá trình lao động và đó chính là
điều kiện để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất .
Về mặt xã hội tổ chức lao động khoa học có tác dụng giảm nhẹ lao
động và an toàn lao động , đảm bảo sức khoẻ cho người lao động , làm cho
người lao động khoa học không ngừng hoàn thiện chính mình , thu hút con
người tự giác tham gia vào lao động cũng như nâng cao trình độ văn hoá
chuyên môn của họ.
4. Nhiệm vụ của tổ chức lao động khoa học .
Về mặt kinh tế: Có nhiệm vụ đảm bảo tăng hiệu quả sản xuất trên cơ
sở tăng năng suất lao động , tiết kiệm vật tư, tiền vốn. Để giải quyết được
nhệm vụ này thì phải thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế những lãng phí
về mọi mặt của người lao động .
Về mặt xã hội: Có nhiệm vụ đảm bảo thường xuyên nâng cao trình độ
văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động tạo
bầu không khí tập thể hoà hợp, những điều kiện thuận lợi để hạn chế ở mức
thấp nhất những yếu tố gây trở ngại cho người lao động ,bằng mọi cách nâng
cao mức độ hấp dẫn của lao động tiến tới biến lao động thành nhu cầu thiết
yếu của con ngươì.
Về mặt tâm sinh lý: Đảm bảo cố gắng tạo ra những điều kiện thuận lợi
để hạn chế đến mức thấp nhất những bất lợi của môi trường và của tính chất
công việc để bảo vệ sức khoẻ, duy trì khả năng làm việc của người lao động .
II. Những nội dung cơ bản của tổ chức lao động khoa học .
1. Công tác định mức lao động .
Định mức lao động là việc xây dựng và áp dụng các mức lao động đối
với tất cả các quá trình lao động một cách chính xác và có căn cứ khoa học .

hao phí thời gian mà công nhân bỏ ra để hoàn thành công việc. Vì vậy nó là
cơ sở để trả lương cho người lao động .
Mức thời gian(Mtg): Là lượng thời gian hao phí được quy định cho
một hoặc một nhóm người lao động có trình độ chuyên môn thích hợp để
hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc khôí lượng công việc đúng tiêu chuẩn
chất lượng trong đièu kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.
Mức sản lưọng( Msl): Là số lượng đơn vị sản phẩm hay khôí lượng
công việc quy định cho một hoặc một nhóm ngưòi lao động có trình độ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy6
nghiệp vụ thích hợp phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian đúng tiêu
chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.
Msl = T/Mtg
Trong đó: T:Đơn vị thời gian tính trong Msl( giờ , ca)
Mức phục vụ ( Mpv): Là số máy móc thiết bị, số đơn vị diện tích được
quy định cho một hoặc một nhóm người có trình độ nghiệp vụ thích hợp phải
phục vụ trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định, công việc ổn định
và lặp lại có chu kỳ. Đơn vị đo mức phục vụ là số đối tượng phục vụ trên một
hoặc một nhóm người lao động .
Mức biên chế (mức định biên): Là số lượng ngưòi lao động có trình độ
nghiệp vụ thích hợp được quy định để thực hiện một chức năng công việc cụ
thể trong một bộ máy quản lý nhất định. Đơn vị tính mức biên chế là số người
trong bộ máy đó.
2. Phân công và hiệp tác lao động
Để tổ chức lao động nhiệm vụ hàng đầu là phải bố trí lao động vào các
công việc cụ thể để xác định sự phối hợp giữa các hoạt động, nói cách khác là

hình thức sau:
+ Phân công lao động theo chức năng
+ Phân công lao động theo công nghệ
+ Phân công lao động theo mức độ phức tạm của công việc .
2.2 Hiệp tác lao động .
Hiệp tác lao động là sự phối hợp các dạng lao động đã được chia nhỏ
do phân công lao động hay đó là quá trình liên kết, phối hợp các hoạt động
riêng rẽ của từng cá nhân người lao động cũng như các bộ phận thực hiện các
chức năng lao động nhất định nhằm hoàn thành mục tiêu của sản xuất với
hiêụ quả kinh tế caco nhất.
2.2.1 Hiệp tác lao động về mặt không gian
Gồm có hiệp tác lao động giữa các xí nghiệp, các phân xưởng chuyên
môn hoá, các bộ phận chuyên môn hoá trong một phân xưởng, giữa các phòng
ban chức năng và giữa các cá nhân với nhau trong tổ đội sản xuất .
Tuỳ theo tính chất công việc, đặc điểm quy trình sản xuất, công nghệ
mà tổ sản xuất có thể đuợc tổ chức theo các hình thức sau:
- Tổ sản xuất tổng hợp: Bao gồm những công nhân có những nghề khác
nhau nhưng cùng thực hiện những công việc của quá trình thống nhất.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy8
- Tổ sản xuất chuyên môn hoá: Gồm những công nhân cùng nghề, cùng
hoàn thành những công việc có quá trình công nghệ giống nhau.
- Tổ sản xuất theo ca là tổ sản xuất mà tất cả các thành viên cùng làm
việc trong một ca .
- Tổ sản xuất theo máy: Các thành viên của tổ làm việc theo những ca
khác nhau trên cùng một máy.

càng phát triển trình độ tổ chức lao động càng cao thì việc trang bị nơi làm
việc càng hoàn chỉnh
4 -Điều kiện lao động và chế độ làm việc, nghỉ ngơi
-Khái niệm: Điều kiện lao động là tổng hợp các nhân tố của môi trường
sản xuất có ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của người lao
động.
-Phân loại các nhóm điều kiện lao động:
+Nhóm điều kiện tâm sinh lý lao động:
* Sự căng thẳng về thể lực
* Sự căng thẳng về thần kinh
* Tư thế lao động
* Tính đơn điệu của lao động
+ Nhóm điều kiện về vệ sinh, phòng bệnh của môi trường:
* Vi khí hậu
* Tiếng ồn
* Môi trường không khí
* Tia bức xạ, tia hồng ngoại, Ion hoá và chiếu sáng
* Sự tiếp xúc với dầu mỡ, hoá chất độc hại
* Phục vụ vệ sinh và sinh hoạt
+ Nhóm điều kiện tâm lý xã hội:
* Bầu không khí tâm lý trong tập thể, tác phong của người lãnh đạo,
chế độ khen thưởng và kỷ luật
* Điều kiện thể hiện thái độ đối với người lao động, thi đua phát huy
sáng kiến sáng tạo.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy10

Lª Hoµng Huy11
lại, số sai sót tăng lên, công nhân có cảm giác mệt mỏi.Để phục hồi khả năng
làm việc phải bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý.
Như vậy xây dựng chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý trong xí nghiệp
bao gồm:
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong ca
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong tuần
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong năm
5 - Kỷ luật lao động
-Kỷ luật lao động là nền tảng để xây dựng xã hội. Không có kỷ luật thì
không thể điều chỉnh được mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất
và trong các hoạt động của họ trong các tổ chức xã hội.
Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành vi của con người
trong xã hội, nó được xây dựng trên cơ sở pháp lý hiện hành và những chuẩn
mực đạo dức xã hội.
Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rộng về mặt nội
dung, nó bao hàm kỷ luật về lao động, kỷ luật về tuân theo quy trình công
nghệ và kỷ luật về sản xuất.
-Về mặt lao động: Kỷ luật lao động là sự chấp hành và thực hiện một
cách tự nguyện, tự giác các chế độ ngày làm việc của công nhân viên (thời
gian bắt đầu và thơ gian kết thúc ca làm việc, thời gian nghỉ ngơi, trong giờ
làm việc phải tuân theo mọi qui định do doanh nghiệp đề ra.
-Về mặt công nghệ: Kỷ luật lao động là sự chấp hành một cách chính
xác các quy trình công nghệ, các chế độ làm việc, quy trình vận hành của máy
móc, thiết bị . . .
-Về mặt sản xuất: Kỷ luật lao động là sự thực hiện nghiêm túc các
nhiệm vụ sản xuất được giao, có ý thức bảo vệ, giữ gìn máy móc, thiết bị,

khích vật chất đối với người lao động là hình thức trả lương. Ngoài ra, để
động viên người lao động, các doanh nghiệp còn áp dụng các hình thức tiền
thưởng. Đây cũng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất có
hiệu quả đối với người lao động. Vấn đề đặt ra là phải biết kết hợp áp dụng
chế độ tiền lương và hình thức tiền thưởng tích cực nhằm thoả mãn tới mức
tối đa nhu cầu vậtchất của người lao động, tạo ra động lực to lớn trong lao
động.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy13
Kích thích tinh thần cho người lao động gồm tất cả các biện pháp nhằm
thoả mãn nhu cầu về mặt tinh thần, tạo điều kiện đáp ứng những đòi hỏi về
mặt tinh thần cho người lao động. Những biện pháp thoả mãn nhu cầu người
lao động chính là nhằm khuyến khích họ hăng say lao động, phát huy sáng
kiến , áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tiên tiến nhằm
nâng cao năng suất lao động.
Những biện pháp kích thích tinh thần cho người lao động bao gồm:
- Đảm bảo đủ việc cho người lao động.
- Tạo ra bầu không khí hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên
trong tập thể lao động .
- Không ngừng nâng cao trình độ học vấn tay nghề cho người lao động
.
- Thực hiện công bằng trong đánh giá, công bằng trong trả lương và trả
thưởng, công bằng khen, chê... Bởi vì công bằng là nhu cầu tinh thần không
thể thiếu được trong tập thể lao động .
III. Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức lao động tại công ty xi măng đá vôi Phú Thọ.
Công tác Tổ chức lao động khoa học được thực hiện có ý nghiã rất

thiện tổ chức lao động sao cho khoa học, gắn người lao động với hiệu
quả công việc là điều rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
Trong công ty hiện nay thì việc tổ chức lao động cũng thực sự ch-
ưa hợp lý. Có những khâu, những công đoạn sản xuất lẽ ra phải bố trí
nhiều công nhân thì thực tế lại bố trí ít, những khâu cần ít người thì lại
bố trí nhiều người gây ra tình trạng lãng phí. Như vậy vấn đề này là rất
cần thiết doanh nghiệp phải chú ý.
Mặt khác, một số công tác tổ chức thi đua, khen thưởng, kiểm tra
chất lượng sản phẩm thì chưa được coi trọng lắm. Trong nền kinh tế thị
trường khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh dưới sự điều
tiết của bàn tay vô hình (Thị trường) và bàn tay hữu hình ( Nhà nước) thì
việc quản lý sản xuất kinh doanh cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa
tính khoa học và tính nghệ thuật làm sao cho đúng những quy định của
Nhà nước nhưng lại có tính mềm dẻo cần thiết. Trong công tác tổ chức
lao động khoa học cũng vậy, doanh nghiệp làm sao phải tìm ra những
phương pháp sao cho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất của mình.
Không ngừng hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học là một
yêu cầu khách quan đối với mỗi ( người lao động ) doanh nghiệp, theo h-
ướng lựa chọn công tác tổ chức lao động hợp lý và hoàn thiện các điều
kiện để thực hiện tốt công tác tổ chức lao động khoa học trong xí nghiệp,
để doanh nghiệp phát triển bền vững ngày một đi lên.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy15

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp


Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) chấn chỉnh lại sản xuất kinh doanh
trong khu vực kinh tế quốc doanh. UBND tỉnh Vĩnh Phú ra quyết định số 804
QĐ/UB giải thể ba xí nghiệp làm ăn không có hiệu quả là xí nghiệp Đồn
Hang, xí nghiệp vôi Bạch Hạc và xí nghiệp đá Hương Cần. Cũng trong năm
đó xí nghiệp đá Thanh Ba chuyển sang hình thức là một phân xưởng.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy17
Năm 1993 nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, xí nghiệp liên hiệp xi
măng - đá vôi Vĩnh Phú đã đầu tư mở rộng sản xuất lần thứ nhất, đưa công
suất sản xuất xi măng lên 60.000tấn/năm.
Năm 1994 tiếp tục đầu tư công suất lần 2, đưa tổng công suất thiết kế
của xí nghiệp liên hiệp xi măng - đá vôi lên 150.000tấn xi măng PORTLAND
PC 30 TCVN - 2682 - 1992/năm.
Ngày 20/9/1994, UBND tỉnh Vĩnh Phú ra quyết định số 1287 QĐ/UB
đổi tên xí nghiệp liên hiệp xi măng - đá vôi Vĩnh Phú thành công ty xi măng -
đá vôi Vĩnh Phú.
Ngày 01/6/1997 do tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú
Thọ, UBND tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định số 69QĐ/UB đổi tên công ty xi
măng - đá vôi Vĩnh Phú thành công ty xi măng - đá vôi Phú Thọ.
Công ty xi măng - đá vôi Phú Thọ có hai dây chuyền sản xuất xi măng
theo công nghệ sản xuất xi măng lò đứng, thiết bị mua của Trung Quốc. Một
dây chuyền theo công suất thiết kế là 60000 tấn/năm và một dây chuyền
90000 tấn/năm, tổng công suất thiết kế là 150000 tấn/năm.
Về kinh nghiệm sản xuất xi măng lò đứng, công ty xi măng - đá vôi
Phú Thọ có bề dày hơn 30 năm sản xuất xi măng lò đứng, có đội ngũ cán bộ
kỹ thuật công nhân lành nghề đã từng làm chuyên gia kỹ thuật cho nhiều nhà
Qua biểu 1, sơ đồ quy trình công nghệ ta thấy:
- Đá vôi khi đã được qua tuyển và kẹp hàm đạt cỡ 0,1 - 0,9mm được
đưa vào silô chứa (keo).
- Đất sét qua tuyển chọn phơi sấy đưa vào silô chứa qua máy sấy thùng
quay đạt độ ẩm 3%.
- Phụ gia công nghệ (xỉ sắt) qua tuyển chọn, qua máy sấy thùng quay
đến silô.
Đá vôi
than
Phụ gia công nghệ Đất sét
Đập hm Phơi sấy Phơi sấy
Định lượng
Nghiền phân ly
Trộn
Nung luyện
Nghiền phân ly
Đóng bao
Thạch cao
Đập
Vê viên
Định lượng
Nước

. Đây chính là sản phẩm xi
măng hoàn thiện chưa đóng bao . Từ đây xi măng được đưa vào si lô chứa
cho nguội rồi qua hệ thống băng tải đến máy đóng bao xi măng được hoàn
thiện đóng bao nhập kho.
- Sản phẩm đá vôi: Được sản xuất chủ yếu thủ công do khai thác ngầm
(vì đây không là núi đá). Đá nằm dưới mặt đất từ 1- 2m, phải bóc lớp đất phủ
đi, dùng máy búa khoan hơi cầm tay khoan các lỗ theo yêu cầu cắt tạo tầng
của mỏ, dùng thuốc nổ để nạp vào các lỗ khoan. Do tác động mìn đá phá vỡ
thành khối nhỏ , dùng búa đập thủ công, pha bổ, tuyển chọn theo yêu cầu của
khách hàng.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy20
3.Đặc điểm về bộ máy quản lý.
Sơ đồ bộ máy quản lý. Công ty hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Giám đốc có chức năng
quản lý chung chịu trách nhiệm về phương hướng phát triển, tổ chức sản xuất
và điều hành mọi hoạt động kinh tế của công ty theo quyền hạn và trách
nhiệm mà Nhà nước giao cho giám đốc doanh nghiệp Nhà nước. Giám đốc có

tài vụ
Phòng
TCLĐ
Phòng
KCS
Phòng
kỹ
thuật
Ban
XDCB
Phòng
KHVT
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy21
4.Đặc điểm về lao động của công ty.
Biểu 1.
PHÂN LOẠI LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY XI MĂNG - ĐÁ - VÔI
PHÚ THỌ.
Phân loại Số lao
động
Tỷ
lệ(%)
Nữ
1. Lao động quản lý 75 6,12 32
2.Công nhân sản xuất 994 81,20 382
3.Công nhân phục vụ 155 12,68 52

119
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy22
* Bậc 7 28 9
II- Lao động quản lý
* Không đào tạo
* Sơ cấp
* Trung cấp
* Cao đẳng và đại học
* Trên đại học
75

7
36
32
0
32

5
21
6
0
Qua biểu trên ta thấy trình độ chuyên môn của người lao động là khá
thấp trình độ học vấn ở đại học, cao đẳng chỉ chiếm có từ 3 - 4%, trình độ
trung cấp chiếm 3 - 4% trong tổng số lao động. Công nhân bậc cao 7/7 chiếm

hành máy móc, vận chuyển nguyên vật liệu, lái máy ủi, máy xúc, ô tô, sửa
chữa cơ điện và vệ sinh.
1.3- Cán bộ làm công tác định mức .
Công tác định mức được công ty giao cho phòng tổ chức lao động, với
khối lượng công việc rất lớn, công ty chưa quan tâm đúng mức đến tình hình
định mức thể hiện ra là chỉ có một người làm công tác này là phó phòng tổ
chức lao động Ngô Thành Yên tốt nghiệp trung cấp lao động tiền lương sau
đó học đại học tại chức khoa Kinh tế lao động có thâm niên 15 năm công tác
tại công ty.
Như vậy, chỉ có một người làm công tác định mức trong khi đó công
việc cần định mức lớn. Do đó, cán bộ làm công tác định mức là chưa tương
xứng với khối lượng công việc của công ty.
1.4- Phân tích phương pháp xây dựng mức.
Để xây dựng mức lao động có căn cứ khoa học thì việc xác định các
mức phải dựa trên các phương pháp khoa học. Trong quá trình xây dựng mức
phải biết phân chia quá trình lao động ra các bộ phận hợp thành một cách tỷ
mỉ, hợp lý và chính xác đồng thời tính đúng, tính đủ các loại hao phí cần thiết
để hoàn thành sản phẩm theo từng bước công việc .
Tại công ty xi măng đá vôi Phú Thọ cán bộ định mức đang sử dụng
phương pháp thống kê và kinh nghiệm để xây dựng mức lao động. Quá trình
xây dựng mức được tiến hành như sau:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Lª Hoµng Huy24
Bước 1 : Cán bộ định mức tại phòng tổ chức sẽ tiến hành phân chia dây
truyền công nghệ thành các cung đoạn sản xuất như bảng sau:
1-sản xuất đá nguyên liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status