Tài liệu Đề tài " Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động ở việt nam hiện nay " - Pdf 92

LUẬN VĂN
Đề tài " Đào tạo nghề với chuyển dịch
cơ cấu lao động ở việt nam hiện nay "
§Ò ¸n KTLD §ç Thanh B×nh
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngày càng
cao về số lượng đội ngũ công nhân kĩ thuật và nhân viên nghiệp vụ
.Việt Nam đang bước vào nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế đang
có sự chuyển dịch mạnh mẽ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động,
sự chuyển dịch này đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn còn nhiều
bất cập chủ yếu là về nguồn nhân lực.
Nhận thực được vai trò quan trọng hàng đầu có tính quyết định
của yếu tố con người trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động để
phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Báo cáo

Làm rõ thực trạng dạy nghề tình hình chuyển dịch cơ cấu lao
động giai đoạn 1996_2003 , phân tích những thành tựu , yếu kém và
nguyên nhân
- Trên cơ sở phân tích thực trạng này và dự báo nhu cầu lao động qua
đào tạo nghề đến 2010 để đưa ra những định hướng và giải pháp đến
năm 2010
3.Đôí tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng dạy nghề và
chuyển dịch cơ cấu lao động , số liệu lấy trong giai đoạn 1996_2003
đề tài: Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động ở việt nam
hiện nay
4.Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 phần:
A.Đặt vấn đề
B.Nội dung
Chương I : Cơ sở lí luận về đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao
động
Chương II:Phân tích thực trạng đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu
lao động ở VN
Chương III: Một số giải pháp phát triển đào tạo nghề gắn với chuyển
dịch cơ cấu lao động đến năm 2010
C.Kết luận
TàI liệu tham khảo
Mặc dù đã có cố gắng để hoàn thiện nhưng không tránh khỏi sai sót
trong quá trình thực hiện rất mong được sự xem xét và bổ sung của
thầy giáo để đề tài hoàn thiện hơn .
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Mai Quốc Chánh đã giúp đỡ em
tận tình trong quá trình hoàn thành đề án này .
Hà Nội ngày 30/12/2003
Sinh viên :Đỗ Thanh Bình

công cụ sản xuất đơn giản nhất
(C.Mác Ph.ăng nghen. Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198)
Ở Việt Nam có tồn tại các khái niệm sau:
Theo giáo trình KTLĐ của trường ĐH KTQD thì kháI niệm đào
tạo nghề được tác giả trình bày là :” Đào tạo nguồn nhân lực là quá
trình trang bị kiến thực nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người
lao động,để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”
Theo tàI liệu của bộ LĐTB và XH xuất bản năm 2002 thì kháI niệm
đào tạo nghề được hiểu :” Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị
cho người lao động nhừng kiến thức ,kĩ năng và tháI độ lao động cần
thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một
nghề trong xã hội”
Như vậy ,khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những
kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản
.Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa,đề cao
người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi
lao động là một nguồn “Vốn nhân lực “,coi công nhân như cáI máy
§Ò ¸n KTLD §ç Thanh B×nh
4
sản xuất .Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật
lao động –một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất
vơí
công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay
3.Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề
a.Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dạy nghề nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu công nhân kĩ thuật nhân
viên nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội .Do đó sự phát triển của công
tác dạy nghề gắn với sự phát triển kinh tế xã hội .Thực tế cũng cho
thấy trong những năm thập kỉ 80 của thế kỉ XX khi nền kinh tế của
nước ta đang trong thời kì khủng hoảng , nhu cầu CNKT ,NVNV cũng

hiện nay vẫn còn quá bé nhỏ ,trình độ,thiết bị đào tạo lạc hậu không
đáp ứng được nhu cầu CNH HĐH “.Từ đó nghị quyết đã đưa ra chủ
trương là đảy mạnh đào tạo công nhân lành nghề ,tăng quy mô học
nghề, tăng cường đầu tư củng cố và phát triển các trường dạy nghề,xây
dung một số trường trọng đIúm, đào tạo công nhân lành nghề cho các
khu công nghiệp, khu chế xuất ,có tính đến nhu cầu xuất khẩu lao
động.
Như vậy ta thấy đầy là một sự ưu tiên rất lớn của Đảng và Nhà
nước trong công tác dạy nghề
d. Các yếu tố dân số
Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến số lượng ,quy mô và
cơ cấu của các trường dạy nghề .Nứoc có cơ cấu dân số trẻ thì mạng
lưới dạy nghề phảI lớn còn những nước có quy mô dân số vừa và nhỏ
thì phát triển những trường dạy nghề mang tính chuyên sâu
e. TháI độ xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề
Xu hướng vào được ĐH mới có thể kiếm được một nghề ổn
định đang ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của công tác đào tạo
nghề trong các trường CNKT .Học sinh không muốn thi vào hoặc nếu
đỗ thì cũng tìm cách thi lên ĐH .ĐIều này làm cho đầu vào của các
trường dạy nghề có thể khá đông nhưng đầu ra lại ít .Tạo nên tình
trạng “thừa thầy thiếu thợ”

4.Sự cần thiết của công tác đào tạo nghề
Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ
cho sự phát triển nền kinh tế đất nứơc.Họ là những người đưa lí thuyết
đến thực hành ,đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển
Cac Mac đã viết rằng :”Những người công nhân tiên tiến hoàn toàn
nhận thực được rằng tương lai của giai cấp mình mà cũng chính là
tương lai của loàI người tuỳ thuộc vào công tác giáo dục thế hệ công
nhân trẻ "

- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo độ tuổi lao động.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo chất lượng lao động .
3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động:
a.Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đây là đIều kiện tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu lao động.Sự
chuyển dịch cơ cấu lao động càng mạnh mẽ thì kéo theo sự chuyển
dịch cơ cấu lao động cũng càng nhanh .
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm xuất hiện cân đối mới về nhu
cầu lao động về cả số lượng lẫn chất lượng lao động.Quá trình công
nghiềp hoá hiện đại hoá sẽ làm xuất hiện các nghành mới trong cơ cấu
nghành kinh tế của vùng.Cùng với việc mở rộng khu vực công nghiệp
,xây dựng,dịch vụ se thu hút thêm lao động nhất là lao động có trình
độ chuyên môn kĩ thuật .ĐIều này làm cho cơ cấu lao động có sự
chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nghành kinh tế khác và có sự
phân công lại lao động theo lãnh thổ
b.Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước
§Ò ¸n KTLD §ç Thanh B×nh
7
Khi nước ta còn ở trong thời kì bao cấp nền kinh tế chỉ tồn tại
thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể thì lao động
tập trung chủ yếu ở các thành phần kinh tế này nhưng khi chuyển sang
thanh phần kinh tế thị trường với đủ các loại thành phần kinh tế thì lao
động sẽ chuyển một phần từ các thành phần kinh tế nhà nước và tập
thể sang các thành phần kinh tế khác
Các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến
chuyển dich cơ cấu lao động .Các chính sách mở rộng và phát triển các
khu công nghiệp ,đắc khu kinh tế ,các nghành kinh tế mũi nhọn ,các
nghành mới sẽ tạo ra nhu cầu về lao động để đáp ứng,giảI quyết các
chính sách này .
c.ĐIều kiện kinh tế xá hội và chính trị

lao động cũng sẽ thay đổi để phù hợp với sản xuất .Tức là thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động .Vậy trước khi có sự chuyển
dịch này thì đã có sự dư thừa lao động ở các nghành ,vùng ,thành
phần kinh tế này nhưng lại có sự thiếu hụt ở nghành,vùng kinh tế khác
và số lao động dư thừa này sẽ phảI trảI qua một qua trình đào tạo lại để
phù hợp với nghành,vùng thành phần kinh tế khác.Và như vậy công
tác đào tạo nghề phảI nhanh chóng kịp thời để vừa đảm bảo sản xuất
vừa đảm bảo cuộc sống cho người lao động .
Chuyển dịch cơ cấu lao động có thể hiểu là quá trình tổ chức lại
lao động theo hướng hiện đại hơn ,tiên tiến hơn để tần dụng tối đa và
có hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội .Vì vậy người lao động luôn
phảI học hỏi kiến thức kĩ năng mới nên công tác đào tạo nghề luôn
phảI bám sát ,đón trước xu hướng vận động của nền kinh tế .
Khi có sự chuyển dịch cơ cấu lao động sang nghành mới áp
dụng những kiến thức khoa học cần có những lao động tay nghề cao
đIều này bắt buộc phảI mời những trường dạy nghề công nghệ cao thì
mới có lao động để phục vụ sản xuất .
Như vậy ta thấy đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động có
mối quan hệ mật thiết hợp rác và bổ sung cho nhau .Đào taọ nghề vừa
là nền tảng vừa động lực cho chuyển dịch cơ cấu lao động .Còn
chuyển dịch cơ cấu lao động lại quyết định trở lại về quy mô ,cơ cấu ,
và chất lượng cho đào tạo nghề.
§Ò ¸n KTLD §ç Thanh B×nh
9
CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
I. Thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam trong những năm qua
Trong thời gian qua, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, đội ngũ lao
động qua đào tạo nghề đã có những đóng góp lớn ,góp phần tạo nên sự
tăng trưởng cuả đất nước .Công tác đào tạo nghề đã dần đi vào nề nếp

triển,hệ thống dạy nghề ngày càng thu hẹp lại cả về số lượng lẫn quy
§Ò ¸n KTLD §ç Thanh B×nh
10
mô đào tạo,năm 1998 số trường dạy nghề chỉ còn 129 trường (giảm
56% so với năm 1986)
Trước nhu cầu cấp bách phát triển nguồn nhân lực của công
cuộc đổi mới và bước vào giai đoạn đâỷ mạnh công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước,tổng cục dạy nghề được thành lập theo nghị quyết số
33/1998 ngày 23/5/1998 nhằm giúp bộ trưởng bộ LĐTB và XH quản
lí nhà nước về công tác đào tạo nghề trên phạm vi cả nước .Sau một
số năm thực hiện, tính đến cuối năm 2001 mạng lưới trưòng dạy nghề
đã được mở rộng và đa dạng hoá với nhiều hình thức,trong đó:
+ 137 trường trung hoc chuyên nghiệp và cao đẳng có chức năng
nghiệp vụ dạy nghề
+ 149 trung tâm dạy nghề trong đó có 78 trung tâm dạy nghề quận
,huyện
+ 150 trung tâm dich vụ việc làm có dạy nghề
+ Trên 300 trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp và
thị trường giáo dục thường xuyên tham gia đào tạo nghề ngắn hạn
+Hàng nghìn lớp dạy nghề của các doanh nghiệp các tổ chức và của
các nghành nghề .

Tuy nhiên sự phân bố các trường theo nghành cũng chưa hợp
lí,các nghành chủ yếu ở nghành công nghiệp xây dựng .Năm 1998 ,số
lượng trường thuộc nghành công nghiệp chiếm 38,5% ,nghành xây
dựng là 18,5% ,nghành giao thông là 16,4% trong khi đó nghành nông
nghiệp là nghành chiếm trên 62% lực lượng lao động xã hội nhưng chỉ
có 13,7% số lượng dạy nghề
(Nguồn :Bộ LĐTB và XH:”Định hướng phát triển đào
tạo nghề đến năm 2010”.Hà Nội/2002)

hạn chế rất lớn đối với hoạt động đào tạo nghề và ít nhiều làm giảm
chất lượng đào tạo .
Như vậy có thể thấy hệ thống dạy nghề đang nổi lên một số bất
cập:
+Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn nghiêm trọng cả
thiết bị dùng chung và thiết bị phục vụ giảng dạy .
+Chương trình giáo án lạc hậu .
+Đội ngũ giáo viên thiếu nghiêm trọng về số lượng và hạn chế về
chất lượng.
+Phần kinh phí ngân sách nhà nước dành cho đào tạo nghề còn hạn
hẹp
1.2. Quy mụ đào tạo nghề:
Tương ứng với số cơ sở dạy nghề trong mỗi thời kỡ, quy mụ
đào tạo nghề cũng có sự biến động tương đối đáng kể. Năm 1975 quy
mô đào tạo là 80.000 học sinh chưa kể CNKT được đào tạo tại các địa
phương .Tại miền Bắc chỉ tính số công nhân kĩ thuật trong khu vực
kinh tế quốc doanh và tập thể đó là 600.000 người .Số học sinh này đó
gúp một phần tương đối lớn trong sản xuất và xây dựng đất nước sau
chiến tranh ,trở thành những công nhân chủ chốt cho những giai đoạn
sau ,do vậy mà số công nhân kĩ thuật của chúng ta năm 1083 đó tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status