www.Mediclass3.info
1
VIÊM RUỘT THỪA
Viêm ruột thừa là cấp cứu hay gặp nhất trong
bệnh lý ngoại khoa bụng. Tại Pháp, tỷ lệ viêm
ruột thừa từ 40 đến 60 trường hợp cho
100.000 dân. Tại Mỹ vào khoảng 1% các
trường hợp phẫu thuật là do viêm ruột thừa.
Ở Việt Nam, theo Tôn Thất Bách và cộng sự,
viêm ruột thừa chiếm 53,38% mổ cấp cứu do
bệnh lý bụng tại bệnh viện Việt Đức.
Bệnh rất hiếm gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi, tăng
dần và hay gặp nhất ở thanh thiếu niên, sau
đó tỷ lệ gặp giảm dần theo tuổi nhưng không
hiếm gặp ở người già.
Tỷ lệ nam/ nữ ở người trẻ là 2/3, sau đó giảm
dần và ở người già tỷ lệ này là 1/1.
Cần phải nghĩ đến viêm ruột thừa trước bất
cứ bệnh nhân nào đến khám do đau bụng.
Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, thay đổi
tùy theo từng bệnh nhân nên có thể nhầm
với những bệnh khác dẫn đến chẩn đoán sai
hay muộn.
Mondor đã đề nghị gọi là "Những bệnh viêm
ruột thừa". Cho tới nay việc chẩn đoán viêm
ruột thừa vẫn phải dựa chủ yếu vào thăm
khám và theo dõi lâm sàng, tất cả các
phương pháp cận lâm sàng đều chỉ có tác
dụng tham khảo.
Không có cách nào dự phòng và dự đoán
II. GIẢI PHẪU
Ruột thừa gặp manh tràng ở chỗ chụm lại
của 3 dải cơ dọc, dưới góc hồi manh tràng 2-
3 cm. Về mặt bào thai học, ruột thừa là phần
nối tiếp với đáy manh tràng, do phần này bị
thoái hoá dần tạo thành.
Trong quá trình phát triển của trẻ em, phần
trước và bên phải manh tràng phát triển
nhanh hơn, làm gốc ruột thừa xoay dần ra
sau và vào trong tới vị trí hay gặp ở người
lớn.
Ruột thừa bình thường ở người lớn dài
khoảng 8 đến 10 cm. Thành ruột thừa gồm
lớp thanh mạc bọc ngoài, lớp cơ rất mỏng
gồm lớp dọc do 3 dải cơ dọc của manh tràng
dàn mỏng, lớp cơ vòng tiếp nối với cơ của
manh tràng.
Có thể dựa vào chỗ hợp lại của 3 dải cơ dọc
ở manh tràng để xác định gốc ruột thừa.
Lớp dưới niêm mạc gồm các náng bạch
huyết chỉ có rất ít khi mới sinh, phát triển
mạnh từ 12 đến 20 tuổi, từ.30 tuổi số nang
này thoái hoá dần và hầu như
mất hết sau 60
tuổi.
www.Mediclass3.info
2
Lòng ruột thừa hẹp được lợp bởi tế bào biểu
mô đại tràng.
trong, vô khuẩn ở vùng hổ chậu phải, ruột
thừa sưng to mất bóng, các mạch máu giãn
to trên thành ruột thừa. Đây là viêm ruột thừa
xung huvết.
Nếu tiếp tục phát triển, quá trình viêm càng
làm tăng áp lực dẫn tới ứ trệ tuần hoàn tĩnh
mạch và thiếu máu nuôi dưỡng. Vi khuẩn
phát triển ra thành ruột thừa. Khi mổ trong ổ
bụng có dịch đục, ruột thừa viêm mọng, có
giả mạc xung quanh, trong lòng chứa mủ.
Giai đoạn này là viêm ruột thừa mủ.
Trong trường hợp khi mạch máu ruột thừa bị
tắc do huyết khối nhiễm trùng do vi khuẩn
yếm khí dẫn tới hoai tử ruột thừa, thấy trên
ruột thừa có những nốt hoại tử hay toàn bộ
ruột thừa màu cỏ úa, mủn nát.
Giai đoạn cuối cùng khi ruột thừa bị thủng
dẫn tới mủ chảy ra ngoài. Nếu được khu trú
lại bởi tổ chức xung quanh gồm ruột, mạc
nối, phúc mạc dính lại sẽ tạo thành ổ áp xe
ruột thừa.
Trong trường hợp mủ chảy vào ổ phúc mạc
tự do sẽ gây viêm phúc mạc toàn thể.
Ở một số trường hợp, trong quá trình viêm
ruột thừa chưa vỡ, phản ứng bao bọc của tổ
chức xung quanh tạo ra đám quánh ruột
thừa.
IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
1. Triệu chứng cơ năng
Bệnh bắt đầu bằng đau bụng ở hầu hết bệnh
Khi khám nhẹ nhàng vùng hố chậụ phải, thấy
cơ thành bụng vùng này căng hơn những
vùng khác của ổ bụng, càng ấn sâu xuống,
cảm giác co cơ càng tăng, bệnh nhân đau
phải nhăn mặt hay đẩy tay thầy thuốc ra.
+ Tìm các điểm đau:
Điểm Mc Burney: ở giữa đường nối gai chậu
trước trên đến rốn.
Điểm Lanz: nơi nối giữa 1/3 phải và 2/3 trái
đường liên gai chậu trước trên.
Điểm Clado: là nơi gặp của đường liên gai
chậu trước trên và bờ ngoài cơ thẳng to phải.
Điểm đau trên mào chậu phải: gặp ở viêm
ruột thừa sau manh tràng.
+ Dấu hiệu co cứng thành bụng :
Vùng hố chậu phải thường là dấu hiệu của
giai đoạn ruột thừa viêm tiến triển muộn.
+ Tăng cảm giác da vùng hố chậu phải:
Bệnh nhân rất đau khi mới chạm vào vùng
này, gặp ở một số ít bệnh nhân
+ Dấu hiệu Blumberg:
Bệnh nhân đau khi thầy thuốc đột ngột bỏ tay
đang đè ở vùng hố chậu phải.
+ Dấu hiệu Rovsing:
Bệnh nhân đau bên phải khi đẩy dồn hơi
trong đại tràng từ bên trái sang bằng cách ép
vào vùng hố chậu trái.
+ Thăm trực tràng hay thăm âm đạo :
Ở phụ nữ là việc phải làm ở tất cả các bệnh
nhân nghi ngờ viêm ruột thừa. Khi thăm
trẻ chưa biết nói, khó hợp tác khi khám nên
thường để muộn khi đã viêm phúc mạc.
Khi trẻ nhũ nhi quấy khóc kèm theo sốt, nên
nghĩ tới viêm ruột thừa, chụp bụng không
chuẩn bị có một dấu hiệu rất quan trọng là
thấy nhiều hình mức nước hơi tập trung ở hố
chậu phải.
Việc điều trị vì vậy chậm trễ và có nhiều biến
chứng.
Ở trẻ 2-5 tuổi, việc khai thác bệnh sử vẫn
còn khó khăn, vì vậy các dấu hiệu lâm sàng
cần được chú ý thăm khám kỹ. Rất có thể bỏ
sót chẩn đoán nếu trông chờ có đủ các dấu
hiệu điển hình.
www.Mediclass3.info
4
Những triệu chứng sốt, ỉa chảy, nôn, trằn trọc
quấy khóc, co chân bên phải gấp vào bụng là
những dấu hiệu rất có thể của viêm ruột
thừa. Bụng chướng là dấu hiệu rất hay gặp.
Thăm trực tràng một cách nhẹ nhàng rất có
giá trị chẩn đoán đối với những thầy thuốc có
kinh nghiệm vì nếu thăm trực tràng một cách
thô bạo sẽ làm đứa trẻ đau đớn và mất hết
mọi giá trị
Ở lứa tuổi trên dưới 1 tuổi, tỷ lệ viêm ruột
thừa vỡ xấp xỉ 100%, dưới 2 tuổi là 70-80%
và tới 5 tuổi thì tỷ lệ này là 50%
b) Viêm Ruột Thừa ở phụ nữ có thai :
ổ bụng thấy hình ảnh quai ruột giãn và mức
nước hơi ở hố chậu phải cần nghĩ tới viêm
ruột thừa. Đối với người già cần thăm khâm
toàn thân một cách kỹ càng và tiến hành các
xét nghiệm cần thiết để phát hiện các bệnh
kèm theo, từ đó lựa chọn phương pháp gây
mê, cho thuốc điều trị sau mổ , thậm chí
những thủ thuật kèm theo. Các bệnh thường
kèm theo là bệnh tim mạch (cao huyết áp,
loạn nhịp...), nội tiết (đái đường..), tiết niệu (u
xơ tuyến tiền liệt, chức năng thận...)
2. Thể lâm sàng theo tiến triển
a) Viêm ruột thừa thể nhiễm độc:
Hay gặp ở trẻ em hoặc những người cơ thể
khoẻ mạnh, cường tráng như những vận
động viên. Bệnh nhân có tình trạng sốc
nhiễm trùng, nhiễm độc: li bì, nhiệt độ 39-
40oC, mạch nhanh nhỏ, thở nông, có thể tụt
huyết áp, đầu chi tím lạnh. Khám bụng thấy
dấu hiệu rất nghèo nàn: bụng chướng nhẹ,
nắn bụng đau không rõ, không rõ phản ứng.
Thăm trực tràng cũng không thấy rõ. Cần
được mổ sớm và cho kháng sinh liều cao,
hồi sức tích cực. Khi mổ thấy có ít dịch thối ở
hố chậu phải, ruột thừa hoại tử một mảng
hay toàn bộ.
b) Viêm ruột thừa thể tắc ruột:
Hay gặp ở người già. Bệnh diễn biến chậm,
bệnh nhân có dấu hiệu đau bụng cơn kèm
theo có sốt. Xquang bụng thấy có bóng hơi,
b) Viêm ruột thừa tiểu khung:
Thường có dấu hiệu về tiết niệu như đái rắt,
đái buốt.
Khi khám trên bụng thấy điểm đau lệch
xuống thấp ở hố chậu phải.
Thăm trực tràng hay âm đạo rất quan trọng
để chẩn đoán
c) Viêm ruột thừa dưới gan:
Do ruột quay chưa hết, manh tràng nằm ở
ngay dưới gan. Rất dễ nhầm với viêm túi mật
vì có sốt, đau và phản ứng dưới sườn phải.
Siêu âm thấy túi mật, đường mật chính bình
thường là phương tiện chẩn đoán phân biệt
tốt.
d) Viêm ruột thừa bên trái:
Ở người đảo ngược phủ tạng. Khi bệnh nhân
đau hố chậu trái kèm theo sốt cần chú ý thăm
khám toàn thân để phát hiện đảo ngược phủ
tạng, ruột thừa nằm ở bên trái.
e) Viêm ruột thừa trong bao thoát vị:
Tránh nhầm với thoát vị nghẹt
VI. TIẾN TRIỂN
1. Viêm phúc mạc
Thường sau khoảng 48h ruột thừa viêm
không được điều trị kịp thời sẽ vỡ gây viêm
phúc mạc. Bệnh nhân đau tăng, sốt tăng cao
tới 39-400C. Khi mới vỡ mủ ở hố chậu phải,
thấy toàn vùng hố chậu phải co cứng, nắn rất
đau. Nếu không được khu trú, các dấu hiệu
viêm phúc mạc toàn thể xuất hiện: đau bụng
ngoài...
Có thể gặp thể áp xe ruột thừa trong ổ bụng
khi khám thấ
y một khối đau chói, có thể di
dộng, nằm cách với gai chậu, lệch vào phía
trong.