KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành xây dựng đường thủy ra
đời. Cho đến nay, Tổng công ty xây dựng đường thủy (VINAWACO) là Tổng
công ty chuyên ngành duy nhất, hàng đầu của Việt Nam hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng các công trình cảng đường thủy, thủy công, nạo vét mới và duy
tu luồng vận tải biển, sông, san lấp mặt bằng xây dựng các khu CN, khu chế
xuất, khu đô thị, dự án cầu, đường bộ... Trong đó, Công ty công trình Đường
Thủy (WACO) là một thành viên đóng góp tích cực vào bảng thành tích
chung của Tổng công ty.
Với truyền thống và những giá trị đích thực của mình "phấn đấu cho
một tương lai tốt đẹp vì sự phát triển của cộng đồng" là phương châm hành
động cao đẹp của Tổng công ty xây dựng đường thủy nói chung và Công ty
công trình Đường Thủy nói riêng. Với định hướng xây dựng công ty trở thành
một doanh nghiệp lớn mạnh trong lĩnh vực nạo vét, xây dựng cảng đường
thủy, xây dựng công trình thủy công và đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm,
mục tiêu xuyên suốt của công ty là "Đổi mới và Hiệu quả".
Công ty công trình Đường Thủy luôn được tín nhiệm, đánh giá cao
thông qua sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của mình và
ngày càng khẳng định được vị thế, khả năng và uy tín trong điều kiện thị
trường cạnh tranh gay gắt và xu thế hội nhập quốc tế.
Tìm hiểu tình hình đầu tư phát triển của công ty là cách tốt nhất để trả
lời câu hỏi: Tại sao WACO lại đạt được những thành tựu đáng ca ngợi như
vậy trong thời điểm mà có vô số các công ty xây dựng khác đang nỗ lực hết
mình để cạnh tranh trên thị trường trong nước và khu vực.
1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trong thời gian thực tập tại phòng Quản lý dự án, được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cô chú, anh chị tại phòng cùng việc tiếp cận các số liệu đã
giúp em hiểu sâu hơn về tình hình đầu tư tại công ty.
Chính vì vậy, em đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình đầu tư phát
Tổng công ty xây dựng đường thủy, được tổ chức sản xuất kinh doanh hạch
toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu riêng, được
phép mở tài khoản tại ngân hàng, có quyền quyết định các vấn đề trong quá
trình sản xuất kinh doanh của công ty trong khuôn khổ của pháp luật Việt
Nam và qui định của Tổng công ty.
Tên giao dịch quốc tế: WACO
Trụ sở chính: 159 Thái Hà - Đống Đa - Hà Nội
Chi nhánh: 14B8 - Ngô Tất Tố - TP. Hồ Chí Minh
Công ty công trình Đường Thủy tiền thân là Công ty công trình đường
sông thuộc Cục đường sông - Bộ Giao thông vận tải, thành lập ngày
01/07/1972 theo Quyết định 288 QĐ/TCCB của Bộ Giao thông vận tải.
Năm 1983, Công ty công trình đường sông được đổi tên thành Xí
nghiệp cầu cảng 204 trực thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp giao thông 2 - Bộ
Giao thông vận tải.
Năm 1986, Xí nghiệp cầu cảng 204 được đổi tên thành Xí nghiệp công
trình đường thủy 1 trực thuộc Liên hiệp các xí nghiệp quản lý giao thông
đường thủy.
Năm 1993, Xí nghiệp công trình đường thủy 1 được đổi tên thành Công
ty công trình Đường Thủy trực thuộc Tổng công ty xây dựng đường thủy theo
3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Quyết định 601/QĐ/TC-CB-LĐ ngày 05/04/1993 của Bộ Giao thông vận tải
về việc thành lập lại và quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức lại
của Công ty công trình Đường Thủy.
Công ty công trình Đường Thủy thuộc ngành xây dựng cơ bản nên hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty mang những nét đặc thù riêng. Những
hoạt động chính của công ty bao gồm:
- Thi công các công trình giao thông: cầu tàu, bến cảng, triển đà, ụ tàu,
đê chắn sóng...
- Xây dựng các công trình cầu cống, kênh mương, đê, kè, trạm bơm
công ty có khả năng cạnh tranh cao nhờ ưu thế về chất lượng và giá thành sản
phẩm. Do đầu tư, công ty có dây chuyền sản xuất hiện đại, lực lượng lao động
có trình độ chuyên môn cao… nên chất lượng, năng suất sản phẩm cao và giá
thành lại thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Mặt khác,
trên cơ sở đổi mới, cải tạo công nghệ hiện có, sẽ có khả năng tạo ra các sản
phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và khu vực. Tuy nhiên, từ
cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, trang thiết bị công nghệ chủ
yếu của công ty lạc hậu so với thế giới từ 2-3 thế hệ, phần nhiều các thiết bị
mua về đã qua sử dụng, nên năng suất thấp kém, chất lượng sản phẩm chưa
tốt, giá thành cao. Do vậy, song song với việc tăng qui mô vốn đầu tư phát
triển và coi đó là nhiệm vụ cấp bách, công ty cần thiết phải nâng cao hiệu quả
hoạt động đầu tư ngay từ đầu. Trong tình hình thiếu vốn như hiện nay, việc
nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển trong từng hoạt động đầu tư mới, đầu tư
cải tạo, mở rộng… sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó đảm bảo cho công ty
sản xuất sản phẩm chất lượng cao, giá thành rẻ, đứng vững trên thị trường
trong nước và khu vực.
5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển của công ty
cũng là yêu cầu khách quan của công tác quản lý vốn. Mục tiêu công tác quản
lý vốn nói chung và vốn đầu tư phát triển nói riêng là làm sao đạt được mục
tiêu đầu tư, tiết kiệm và có hiệu quả. Quản lý tốt vốn đầu tư, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư phát triển nói chung và của bộ phận vốn ngân sách
nói riêng sẽ giúp Nhà nước có nhiều vốn tập trung đầu tư vào các công trình
cơ sở hạ tầng, công trình trọng điểm của Nhà nước. Đến lượt nó, các công
trình này lại tạo điều kiện để công ty tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả sản
xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
Đầu tư và việc nâng cao hiệu quả đầu tư của công ty là hai mặt của một
vấn đề, có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau. Muốn có hiệu quả trước hết
phải đầu tư. Đầu tư hợp lý và quản lý tốt vốn đầu tư sẽ đảm bảo đầu tư có
vấn đề tài chính, tích lũy nhiều năm để lại, dư nợ ngân hàng lớn, thu hồi vốn
chậm, nhiều công trình chủ đầu tư không bố trí được vốn, buộc công ty phải
thi công hoàn toàn bằng vốn vay trong khi ngân hàng lại thắt chặt vay vốn rất
khó khăn.
Bảng 1.2. Tình hình thực hiện tổng mức vốn đầu tư giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: triệu đồng, %
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Tổng VĐT 5.324 9.627,2
5
4.267,2 13.869,8
8
20.856
2 Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn - 4.303,25 -5.360,05 9.602,68 6.986,12
3 Tốc độ tăng liên hoàn - 80,8 -55,7 225,0 50,4
4 Tốc độ tăng định gốc - 80,8 -19,8 160,5 291,7
Nguồn: Phòng Quản lý dự án
5324
9627.25
4267.2
13869.88
20856
0
5000
10000
15000
20000
25000
2002 2003 2004 2005 2006
7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
trưởng thành cả về thế và lực. Kết quả là, những năm gần đây, Nhà nước đã
chủ yếu không còn cấp phát vốn trực tiếp cho Công ty như trước nữa mà đầu
tư cho Công ty thông qua hình thức cho vay. Tỷ trọng nguồn vốn ngân sách
giảm dần, nguồn vốn tự có của Công ty đã chiếm vị trí xứng đáng và vốn vay
chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn đầu tư phát triển của Công ty, trong đó
nguồn vốn tín dụng Nhà nước đã tăng nhanh chóng.
Bảng 1.3: Đầu tư phát triển phân theo nguồn vốn ở Công ty công trình
Đường Thủy giai đoạn 2002-2006
Đơn vị tính: triệu đồng
Các nguồn vốn 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng vốn đầu tư 5.324 9.627,2
5
4.267,2 13.869,8
8
20.856
- Nguồn vay NHTM 2.087,5 4.110 1.800 5.610 8.300
- Vay tín dụng ưu đãi 1.505 2.630 1.200 4.045 6.220
- Vốn tự có 1.106 2.057,25 947,2 3.274,88 5.111
- Vốn ngân sách cấp 625,5 830 320 940 1.225
Nguồn: Phòng Kế toán - tài chính
Như vậy, qua hơn 20 năm đổi mới, cơ chế quản lý vốn đã và đang
chuyển từ cơ chế “xin - cho”, bao cấp về vốn sang cơ chế thị trường, cơ chế
“vay - trả”. Việc chuyển hướng cơ chế quản lý vốn đầu tư của Nhà nước đối
với doanh nghiệp nhà nước đã góp phần nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh của Công ty, buộc Công ty phải tính toán kỹ trước khi quyết định đầu
tư, thực hành tiết kiệm chi tiêu trong từng thời kỳ đầu tư… Đây là cơ sở để
nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Bảng 1.4. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển ở Công ty công trình
39%
30%
25%
6%
Vay NHTM
Vay TDƯĐ
Vốn tự có
Vốn ngân sách
Hình 1.2: Cơ cấu nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển ở Công ty
công trình Đường Thủy giai đoạn 2002-2006
Để thấy được rõ hơn tình hình đầu tư phát triển phân theo nguồn vốn ở
Công ty công trình Đường Thủy, chúng ta cùng phân tích cụ thể từng nguồn
vốn.
1.2.2.1. Nguồn vốn tự có
10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Vốn tự có là phần vốn tự tích lũy từ kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty và bộ phận vốn khấu hao được để lại Công ty. Trong
những năm gần đây, Công ty đã liên tục bổ sung được vốn tự có.
Bảng 1.5 : Quy mô và tốc độ phát triển nguồn vốn tự có
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: Triệu đồng, %
TT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Nguồn vốn tự có 1.106 2.057,25 947,2 3.274,88 5.111
2 Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn - 951,25 -1.110,05 2.327,68 1.836,12
3 Tốc độ tăng liên hoàn - 86,0 -53,96 245,74 56,07
4 Tốc độ tăng định gốc - 86,0 -14,36 196,1 362,12
Nguồn: Phòng Kế toán tài chính
1106
2057.25
Đây là nguồn vốn quan trọng và rất có ý nghĩa trong điều kiện đổi mới
cơ chế quản lý vốn, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của Công ty,
là điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt
động của Công ty.
Hiện nay, Công ty công trình Đường Thủy đang tập trung cho việc cổ
phần hoá DNNN, vì vậy sẽ có một lượng vốn lớn thu được từ cổ phiếu của
cán bộ công nhân viên trong tương lai.
1.2.2.2. Nguồn vốn Ngân sách nhà nước
Trước năm 1989, Công ty hoạt động chủ yếu dựa vào vốn Ngân sách
nhà nước cấp phát. Vốn cấp theo kiểu bình quân, dàn trải dẫn đến tâm lý
trông chờ, ỷ lại Nhà nước. Tình trạng thiếu vốn luôn xảy ra, tính năng động
của Công ty bị hạn chế và đồng vốn được sử dụng kém hiệu quả.
Hiện nay, cùng với việc chuyển đổi từ hình thức cấp phát vốn sang hình
thức tín dụng ưu đãi đã tạo động lực cho Công ty năng động hơn. Nguồn vốn
cấp phát từ Ngân sách nhà nước biến động khác nhau giữa các năm nhưng có
xu hướng giảm dần trong những năm gần đây.
12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Bảng 1.6: Quy mô và tốc độ phát triển nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: Triệu đồng, %
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Nguồn vốn ngân sách nhà nước 625,5 830 320 940 1225
2 Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn - 204,5 -510 620 285
3 Tốc độ tăng liên hoàn - 32,69 -61,44 193,75 30,32
4 Tốc độ tăng định gốc - 32,69 -48,84 50,28 95,84
Nguồn: Phòng kế toán tài chính
830
625.5
320
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng thương mại
đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của các doanh
nghiệp. Với chủ trương tạo mọi khả năng cho doanh nghiệp nhà nước có đủ
vốn đầu tư và tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng, Nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản pháp quy quan trọng, tháo gỡ khó khăn vướng mắc về
hoạt động tín dụng. Đến nay, nguồn vốn tín dụng ngân hàng không còn là
nguồn vốn bổ sung mà đã chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát
triển của Công ty.
Bảng 1.7: Quy mô và tốc độ phát triển nguồn vốn tín dụng thương mại
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: Triệu đồng, %
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Nguồn vốn tín dụng thương mại 2.087,5 4.110 1.800 5.610 8.300
2 Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn - 2.022,5 -2.310 3.810 2.690
3 Tốc độ tăng liên hoàn - 96,88 -56,2 211,67 47,95
4 Tốc độ tăng định gốc - 96,88 -13,7 168,74 297,6
Nguồn: Phòng kế toán tài chính
14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2087.5
4110
1800
5610
8300
0
2000
4000
6000
8000
10000
3 Tốc độ tăng liên hoàn - 74,75 -54,37 237,08 53,77
4 Tốc độ tăng định gốc - 74,75 -20,26 168,77 313,3
Nguồn: Phòng kế toán tài chính
2630
1505
6220
4045
1200
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
2002 2003 2004 2005 2006
Hình 1.6: Quy mô nguồn vốn tín dụng ưu đãi giai đoạn 2002-2006
Nhìn chung, cũng như ba nguồn vốn trên, quy mô nguồn vốn tín dụng
ưu đãi trong tổng vốn đầu tư phát triển của công ty đang có xu hướng gia tăng
qua các năm. Riêng trong năm 2004 có sự sụt giảm so với hai năm trước đó,
nhưng từ năm 2005, quy mô nguồn vốn này lại gia tăng mạnh mẽ. Theo đó, tỷ
trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi trong tổng vốn đầu tư phát triển của công ty
cũng đang ngày một gia tăng. Nếu như năm 2002, tỷ trọng này mới chỉ đạt
28,27% thì đến năm 2006 đã đạt mức 29,81% trong tổng vốn đầu tư phát triển
của công ty.
1.2.3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án
16
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Bảng 1.9: Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án giai đoạn 2002-2006
Năm 2002, công ty có 4 dự án đầu tư nhưng chỉ là mua máy móc nhỏ
nên số vốn đầu tư không lớn lắm, chỉ 5.324 triệu đồng, trong đó, dự án mua
“2 quả búa diezel đóng cọc 5T” cần số vốn đầu tư lớn nhất là 1.650 triệu
đồng.
17
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Năm 2003, công ty có 5 dự án đầu tư nhưng tổng mức vốn đầu tư lại
gấp gần hai lần so với năm 2002 (9.627,25 triệu đồng). Trong đó, phải kể đến
dự án “Xây dựng mới khu nhà ở cho cán bộ kỹ thuật ở Xí nghiệp 75 - Nam
Định” với số vốn đầu tư 1.965 triệu đồng. Qua đó có thể thấy, công ty công
trình Đường Thủy luôn quan tâm, chăm lo, từng bước cải thiện đời sống của
cán bộ công nhân viên, từ đó, góp phần nâng cao năng suất lao động của
Công ty.
Sau một năm (năm 2004) tình hình đầu tư của công ty bị chững lại do
những khó khăn về tài chính, đến năm 2005, công ty đã xây dựng kế hoạch
đầu tư hợp lý với số vốn đầu tư lên tới 13.869,88 triệu đồng, trong đó, lớn
nhất là dự án xây dựng mới khu văn phòng làm việc ở Xí nghiệp 18 - Hải
Phòng.
Năm 2006, các dự án đầu tư ở công ty chủ yếu là đầu tư đổi mới máy
móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho nhu cầu mở rộng lĩnh vực hoạt động,
do đó, cần số vốn đầu tư rất lớn, trung bình 3,5 tỷ/1 dự án.
1.2.4. Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo nội dung đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển trong bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng rất
cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Nhận thức được
tầm quan trọng đó của hoạt động đầu tư phát triển, trong những năm qua,
Công ty công trình Đường Thủy đã chú trọng nhiều hơn cho hoạt động đầu tư
phát triển tại công ty. Trong giai đoạn 2002-2006, do nhu cầu cụ thể của hoạt
động sản xuất kinh doanh, công ty đã tiến hành đầu tư cho các hoạt động như
sửa chữa, mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư sửa chữa, nâng cấp và xây dựng
mới hệ thống nhà xưởng, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư tìm kiếm
Nguồn: Phòng Quản lý dự án
Bảng 1.11: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo nội dung đầu tư
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: %
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Tổng vốn đầu tư 100 100 100 100 100
2 VĐT cho MMTB, nhà xưởng 94,67 96,45 89,87 94,88 96,20
3 VĐT phát triển nguồn nhân lực 3,70 2,43 7,14 3,56 2,55
4 VĐT tìm kiếm và mở rộng thị trường 1,63 1,12 2,99 1,56 1,25
Nguồn: Phòng Quản lý dự án
Như vậy, trong giai đoạn 2002-2006, tổng vốn đầu tư thực hiện của
Công ty công trình Đường Thủy đã tăng một cách nhanh chóng và nhìn chung
thì lượng vốn đầu tư cho tất cả các nội dung đầu tư đều tăng tuy với mức độ
tăng giảm khác nhau theo từng năm. Điều đó cho thấy, công ty đã có sự chú
trọng nhất định vào tất cả các nội dung của hoạt động đầu tư phát triển. Tuy
nhiên, sự tăng lên của tổng mức vốn đầu tư thực hiện những năm qua chủ yếu
là do sự gia tăng trong vốn đầu tư cho máy móc thiết bị, vốn đầu tư cho các
19
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
nội dung còn lại mới chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn so với tổng vốn đầu tư
thực hiện. Cụ thể:
1.2.4.1. Hoạt động đầu tư xây dựng nhà xưởng và mua sắm máy móc
thiết bị
Trong thời kỳ bao cấp với nhiệm vụ chủ yếu là khảo sát thiết kế các
công trình giao thông đường thủy, máy móc thiết bị của Công ty rất nghèo
nàn, lạc hậu, lao động chủ yếu là thủ công rất vất vả và nặng nhọc. Vì vậy khi
bắt đầu chuyển đổi cơ chế, công ty gặp rất nhiều khó khăn do thiếu máy móc
thiết bị nên hiệu quả thực hiện rất thấp.
Chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạnh việc đa dạng hóa loại hình
công việc và nhanh chóng tiếp cận các quy trình kỹ thuật thi công tiên tiến,
266,56%. Tuy nhiên, vốn đầu tư thiết bị tăng giảm không ổn định trong cả
thời kỳ . Năm 2003, vốn đầu tư thiết bị tăng 45,5% so với năm 2002 (tăng lên
2.248 triệu đồng). Năm 2004, vốn đầu tư thiết bị lại giảm 50,18% so với năm
2003 (từ 7.188 triệu đồng xuống 3.581 triệu đồng) và giảm 27,51% so với
năm 2002. Nguyên nhân của hiện tượng suy giảm trong vốn đầu tư thiết bị
này là do những khó khăn về tài chính như đã nêu trong phần 1.2.1 của khóa
luận. Năm 2005, vốn đầu tư thiết bị lại gia tăng mạnh mẽ do công ty đã được
thanh toán một khối lượng lớn vốn thi công công trình từ các năm trước
chuyển sang. Tổng vốn đầu tư trong năm này là 1.624 triệu đồng, tăng
224,6% so với năm 204. Năm 2006, vốn đầu tư thiết bị tăng 55,78% so với
năm 2005 và tăng 266,56% so với năm 2002.
Ngoài việc đầu tư sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống nhà
xưởng, công trình kiến trúc theo dự án đầu tư, hàng năm công ty còn tiến
hành sửa chữa, nâng cấp hệ thống nhà xưởng hiện có cho sản xuất kinh
doanh.
21
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Bảng 1.13 : Vốn đầu tư cho hệ thống nhà xưởng, công trình kiến trúc
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
VĐT nhà xưởng
Trong đó:
- Đầu tư theo dự án
- Sửa chữa, nâng cấp
100
0
100
2.098
1.965
Nguồn: Phòng Quản lý dự án
22
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
196.8
532.5
494.15
304.7
234.4
0
100
200
300
400
500
600
2002 2003 2004 2005 2006
Hình 1.9: Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực qua các năm
giai đoạn 2002-2006
Nhận thấy, vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực của công ty qua các
năm không ngừng gia tăng, tuy với tốc độ tăng còn chưa ổn định. Trong đó,
hai năm 2004 và 2005 đạt tốc độ tăng lớn nhất, năm 2006 tốc độ tăng có phần
chậm lại nhưng vẫn đạt 7,8% so với năm 2005.
Đây cũng là một trong những hoạt động đầu tư đã được công ty chú
trọng ngay từ đầu khi mới thành lập và cho đến nay đã có một nền tảng vững
chắc với một đội ngũ kỹ sư lành nghề nhiều kinh nghiệm và đang ngày càng
tăng lên. Công ty luôn quan tâm đến vấn đề nâng cao tay nghề cho công nhân,
nâng cao trình độ quản lý cho các cán bộ, phòng ban. Vì vậy hàng năm công
ty đều cử cán bộ công nhân đi đào tạo để nâng cao tay nghề.
Nhờ vào sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự đầu tư đúng hướng
của ban giám đốc mà công ty đã liên tục được đánh giá là hoạt động có uy tín
tính sâu rộng. Vốn đầu tư cho hoạt động này còn khá khiêm tốn:
Bảng 1.15: Vốn đầu tư cho hoạt động tìm kiếm và mở rộng thị trường
24
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
giai đoạn 2002-2006
Đơn vị: Triệu đồng, %
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1. VĐT cho tìm kiếm và mở rộng thị trường 87,2 106,85 127,5 215,73 258,5
2. Tốc độ tăng liên hoàn 22,53 19,33 69,20 19,83
3. Tốc độ tăng định gốc 22,53 46,22 147,40 196,44
Nguồn: Phòng Kế hoạch thị trường
87.2
258.5
215.73
127.5
106.85
0
50
100
150
200
250
300
2002 2003 2004 2005 2006
Hình 1.10 : Tình hình thực hiện vốn đầu tư cho hoạt động tìm kiếm và mở
rộng thị trường giai đoạn 2002-2006
Trong giai đoạn 2002-2006, vốn đầu tư cho hoạt động tìm kiếm và
mở rộng thị trường của công ty đã tăng lên 2,2 lần, từ 87,2 triệu đồng lên
258,5 triệu đồng; tuy nhiên tốc độ tăng giữa các năm lại không ổn định.
Năm 2003 và 2004, tốc độ tăng hàng năm xấp xỉ 20%. Nhưng đến năm