vai trò của tri thức với hoạt động của con người - Pdf 94

LỜI NÓI ĐẦU
Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước
ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh này, bộ
phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại
thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công
nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học Cùng với những thành tựu về
công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc
làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người đi
vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ
tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nước nghèo và kém phát triển so với
khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu.Hơn
nữa chúng ta đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên
không thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà
bắt kịp và phát triển cùng thế giới.
Góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế,tiến nhanh trên con đường công nghiệp
hoa,hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức, tìm hướng đi đúng đắn cho nền
kinh tế tri thức,phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực,với thế
giới và thời đại trong tổng thể các mối liên hệ,trong sự phát triển vận động không
ngừng của nền kinh tế tri thức. Vì vậy em quyết định chọn đề tài này để làm đề tài
nghiên cứu của mình.
1
I. Khái niệm về tri thức và kết cấu của nó
1. Khái niệm.
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có tư duy thì
lúc đó có tri thức.Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến những thập
kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội được đề cặp
nhiều.Vậy tri thức là gì?
Tri thức theo nghĩa triết học là : “Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con
người về thế giới hiện thưc, làm tai hiện trong tư tưởng những thuôc tính, những quy
luật của thế giới ấy và diễn dật chúng dưới ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.’’
Tri thức bao gồm tất cả những thông tin,số liệu,bản vẽ,tưởng tượng(sáng tạo),khả

chưa có các dụng cụ quan sát quang học, một anh chàng muốn nhìn thấy rõ một vật
cách xa anh ta vài km. Rõ ràng là trước thời đó chưa có ai nói là phải làm thế nào để
nhìn xa như thế, chả có sách vở nào viết là phải làm thế nào trong trường hợp này, và
chả có ai hay có vật nào có thể chỉ dẫn cho anh ta về giải pháp. Như vậy, anh chàng này
phải căn cứ vào các hiểu biết của mình về toán học, quang học, về cơ khí và nấu thủy
tinh qua một quá trình suy nghĩ, nghĩa là qua một tiến trình vận động của Tri thức, để
chế tạo ra cái ống nhòm. Hiển nhiên là anh ta có tìm cả đời trong kho kiến thức của
nhân loại đã có trước đó cũng không tìm ra giải pháp. Điều này nghĩa là anh ta đã tìm ra
giải pháp mới mà không cần sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài, và không có nghĩa là
chỉ lưu giữ thông tin một cách đơn giản, và đem ra sử dụng khi cần thiết.
3
2.Giúp con người xác định đúng mục tiêu ,đưa ra phương hương hợp lí,
xác định các biện pháp và thực hiện được mục tiêu
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã lấy chủ đề “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đầy mạnh toàn diện công
cụôc đổi mới sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".
Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta lựa chọn chủ đề như vậy, bởi vì Đảng ta
đã đúc kết kinh nghiệm, bài học của 20 năm đối mới để định hướng phát triển của đất
nước trước một tương lai vận hội mới, kết hợp xu thế dân tộc và xu thế thời đại. Đảng ta
là một Đảng cầm quyền, trí tuệ của Đảng có tầm quyết định tới vận mệnh quốc gia và
phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nếu không nâng cao năng lực
sức chiến đấu của Đảng thì có thể trở thành lực cản trong quá trình phát triển đi lên của
dân tộc.
Muốn đưa nước ta khỏi tình trạng kém phát triển phải hội đủ các yếu tố: Thiên thời
– Địa lợi – Nhân hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng các yếu tố đó đã có và đang đến chúng
ta, thế và vận nước đang lên. Chúng ta đang đứng trước một “thời cơ vàng”, nhưng
cũng đầy những thách thức; hơn lúc nào hết Đảng ta phải đầy đủ bản lĩnh, trí tuệ để đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và tham gia hội nhập quốc tế.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua các triều đại đều gắn liền

mại.
Trước thời cơ vận hội và những thách thức đang đến với chúng ta vao trò của đội
ngũ trí thức trong ngành kinh tế - xã hội và kể cả quản lý nhà nước hết sức quan trọng.
5
Nói đúng hơn là không có đội ngũ này thì chúng ta rất khó khi tiến hành công nghiệp
hóa – hiện đại hóa và tham gia hội nhập quốc tế thành công.
Vì vậy cần phải chuẩn bị thật tốt các điều kiện để tham gia hội nhập quốc tế trong
đó nguồn nhân lực trí thức được coi là quan trọng hàng đầu. Đội ngũ trí thức trong thời
kỳ mới phải đầy đủ kỹ năng, bản lĩnh để cạnh tranh với thị trường quốc tế, phải có lòng
tự tôn tự hào dân tộc để ngẩng cao đầu và sánh vai với các cường quốc năm châu.
Khẩn trương hình thánh các vườn ươm khoa học công nghệ để thu hút, đào tạo,
tuyển chọn người tài để hình thành các doanh nghiệp khoa học – công nghệ, trong đó
chú trọng tiếp cận phát triển công nghệ cao, một xu hướng phát triển hiện nay của thế
giới.
Có chính sách đãi ngộ, đề bạt, cân nhắc đối với những trí thức có đóng góp đối với
kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Thu hút người tài, trọng dụng kẻ sỹ vẫn là kế sách của muôn
đời nay, nhưng tài là phải là tài thật sự, tài phải có đức thì mới phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân được.
3.Tri thức là sức mạnh của con người
- Trong lịch sử nước nhà, mỗi thắng lợi vang dội đều là kết quả của nguồn lực tổng
hợp toàn dân tộc, và trên mỗi chặng đường đều có dấu ấn để lại của những trí thức, kể
cả từ rất xa xưa như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Du… Để
thành công trong cuộc hội nhập khốc liệt hiện nay, chúng ta lại càng phải chân nhận rõ
những giá trị quý giá của dân tộc. Báo Điện tử VietNamNet cùng tạp chí Khoa học và
Tổ quốc sẽ cùng phối hợp mở cuộc thảo luận với chủ đề “Trí thức Việt Nam”. Để mở
đầu cuộc thảo luận, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của PGS. TS. Chu Hảo.
6
Thật ra ngay từ khi từ trí thức
(intellectuel), lần đầu tiên xuất hiện dưới
dạng danh từ chỉ một loại công dân của

Nguyễn Trinh Cơ (ảnh: www.hmu.edu.vn)
PGS. TS. Chu Hảo
7
Xã hội văn minh nào cũng phải có một tầng lớp trí thức ưu tú như vậy. Trong lịch
sử dân tộc ta, thời nào cũng có những trí thức kiệt xuất. Tầng lớp sỹ phu trong những
triều đại hưng thịnh của nước ta rõ ràng có nhiều điểm tương đồng với khái niệm tầng
lớp trí thức như được nói đến ở trên.
Ngày nay trong cụm từ “Liên minh Công – Nông – Trí” tôi ngờ rằng chúng ta đã
dùng từ “trí” để chỉ những người lao động trí óc (kỹ sư, bác sỹ, nhà văn, họa sỹ, v.v…)
chứ không phải là trí thức theo cách hiểu thông thường của thế giới hiện đại. Trong số
rất đông những người lao động trí óc đó chỉ có một số là trí thức thực thụ mà thôi. “Một
số” này đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một tầng lớp trí
thức với đúng nghĩa của nó hay chưa vẫn còn là một vấn đề cần được thảo luận.
Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách
chung là: tôn thờ lý tưởng Chân – Thiện – Mỹ; độc lập tư duy; hoài nghi lành mạnh; và
tự do sáng tạo. Tuy nhiên mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi
dân tộc cũng có bản sắc riêng.
Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật
khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức
Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã v.v… Vậy trí thức Việt Nam
có đặc điểm gì? Tôi đã từng nghe ông K.G. nói đến tính cách “phò chính thống”; bà
P.T.H. nói đến tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử
dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tùy thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội”
hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định.
Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có
xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới trí thức Việt Nam chính là
ở chỗ này! Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Vậy thực sự trí thức
Việt Nam có đặc tính gì?
8
Ngay từ những ngày đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ

hành công việc chính trị.Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia.Đại hội VI của
Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong nhận thức về nguồn lực con
ngươì.Đại hội nhấn mạnh:”Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người
làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông”chiến lược phát triển con người đang là chiến
lược cấp bách.Chúng ta cần có những giải pháp trong việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ
chức :
Tuyển chọn những người học rộng tài cao,đức độ trung thành với mục tiêu xã hội
chủ nghĩa,thuộc các lĩnh vực,tập trung đào tạo,bồi dưỡng cho họ những tri thức còn
thiếu và yếu để bố trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật của nhà nước với những qui định cụ thể về chế độ trách nhiệm quyền
hạn và lợi ích.
Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo thành
một hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành,tạo điều kiện thuận lợi tối
đa cho hợp tác nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tĩên. Hợp nhất các
viện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học và gắn kết trường đại học và các
công ty,xí nghiệp.Các cơ quan nghiên cứu và đào tao được nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo
theo chương trình,kế hoạch và kinh phí dựa trên luận chứng khả thi được trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan.
Hàng năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người có trọng trách
và các nhà khoa học đầu nganh của các cơ quan giáo dục-đào tạo và trung tâm khoa
10
học lớn của quốc gia,liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ tri của đồng trí
chủ tịch,sự tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa học-công
nghệ quốc gia về những ý kiến tư vấn,khuyến nghị của tập thể các nhà khoa học với
Đảng và nhà nước về định hướng phát triển giáo dục-đào tạo.Phát triển khoa học –công
nghệ,cách tuyển chon và giao chương trình đề tài,giới thiệu những nhà khoa học tài
năng để viết giáo khoa,giáo trình,làm chủ nhiệm chương trình,đề tài và tham gia các hội
đồng xét duyệt,thẩm định nghiệm thu các chương trình,đề tài khoa học cấp Nhà nước.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ của các
nhà khoa học,dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến tư vấn,những khuyến nghị

vẫn còn là điều còn xa mới có thể trở thành phổ biến.
Bài viết này sẽ trình bày vai trò sống còn của giáo dục tri thức tổng quát đối với
các trường đại học và cao đẳng ở các quốc gia đang phát triển – cả trong chương trình
đào tạo đại học lẫn sau đại học. Những điều chúng tôi trình bày sau đây là sự suy xét
dựa trên kết quả nghiên cứu và quan sát ở nhiều quốc gia khác nhau. Tất nhiên chúng ta
phải hiểu rằng mỗi quốc gia là một trường hợp cụ thể và không thể đưa ra những chứng
minh đúng cho tất cả mọi trường hợp. Tuy vậy chúng tôi tin rằng những nhận định này
là dựa trên cơ sở lịch sử và logic.
IV. Vai trò của tri thức với kinh tế
1. Tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế
Phát triển là một quá trình qua đó con người trở nên ý thức được các cơ hội và
thách thức, hình thành nên các phản ứng, đưa ra các quyết định và khởi xướng ra các
12
hoạt động có tổ chức. Qúa trình này tuân theo một trình tự từ tri thức tới cảm hứng rồi
tới hành động. Con người tiếp nhận tri thức, qua đó họ nhận thức được các cơ hội và
thách thức. Khi tri thức đó đạt đến một mức nhất định (chín mùi), họ có động lực hay
cảm hứng để chuyển tri thức đó thành hành động. Không quan trọng cơ hội lớn như thế
nào hay sự cần thiết cấp bách ra sao, nếu không có tri thức đó thì chẳng có phản ứng
thích hợp nào xảy ra. Tri thức là nền tảng cho mỗi bước trong quá trình phát triển. Nó
cần cho việc tạo ra sự nhận thức về các cơ hội và thách thức, đánh giá thích hợp các
thay đổi, tạo ra các phản ứng, lập kế hoạch hiệu quả, đưa ra các sáng kiến và thực hiện
các sáng kiến này.
Tốc độ và mức độ phát triển phụ thuộc vào sự sẵn có của nguyên vật liệu, nguồn
lực tài chính và công nghệ, nhưng về cốt lõi, sự phát triển là một quá trình liên quan đến
con người, được xác định thông qua phản ứng của con người đối với môi trường xung
quanh. thức đóng góp cho sự phát triển theo nhiều cách khác nhau: như nguồn lực sản
xuất, như đầu vào chính yếu cho giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ;
như chất xúc tác cho thay đổi xã hội và phát triển kinh tế; và như nền tảng của sự văn
minh và các giá trị văn hoá thúc đẩy sự hài hoà xã hôi
2.Kinh tế tri thức

tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị kinh doanh.Vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí
quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên và công nhân cũng như khả năng của công ty
14
để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất là một nguồn lợi thế cạnh tranh.Hiện có
các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần giá trị vô hình của các công ty công nghệ cao và
dịch vụ đã vượt xa phần giá trị hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty đó,như
các toà nhà hay thiết bị.Ví dụ như các tài sản vật thể của công ty Microsoft chỉ chiếm
một phần rất nhỏ trong tổng giá trị được vốn hoá trên thị truờng của công ty này.Phần
lớn là vốn trí tuệ.Sau hai mươi năm thành lập, số nhân viên công ty tăng 6 nghìn lần,
thu nhập tăng 370 nghìn lần,1/10 số nhân viên trở thành triệu phú.Nguồn vốn con người
là một thành tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa vào tri thức.
Nền kinh tế tri thức sẽ ngày càng làm xuất hiện nhiều sản phẩm thông minh.Đó là
những sản phẩm có khả năng gạn lọc và giải thích các thông tin để người sử dụng có thể
hành động một cách hiệu quả hơn.Ngay cả một chiếc bánh kẹp thịt cũng có thể trở
thành một sản phẩm mới dựa trên tri thức bằng cách làm cho khách hàng biết cách sử
dụng những thông tin về dinh dưỡng.Số lượng ka-lo và chất béo được in lên hoá đơn
hoặc thậm chí trình bày thông tin đó trước khi khách đặt hàng.Thậm chí có những sản
phẩm thông minh vừa có thể truyền đạt thông tin về sản phẩm vừa khuyên khách hàng
nên làm gì từ tình hình vừa được thông tin.
4. Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức
Vốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích
sinh lợi(tăng thêm giá trị).
Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất.Trong văn minh nông
nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công
nghiệp,vốn,đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu
tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội,góp phần chuyển xã hội phong kiến
thành xã hội tư bản trong lịch sử.Còn trong kinh tế tri thức,yếu tố của sự phát triển nền
kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ,đất đai và dựa trên lao động giản đơn mà
15
chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức.Như vốn tri thức trở thành yếu tố thứ

17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giao trình triết học mac lê nin
2.Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần X
3.Trang web: vietbao.com.vn
tailieuhoc.tk
18
LỜI NÓI ĐẦU 1
I. Khái niệm về tri thức và kết cấu của nó 2
1. Khái niệm 2
2. Kết cấu của tri thức 2
II. Vai trò của tri thức với hoạt động của con người 3
1. Trang bị cho con người nhửng tri thức bản chất qui luật khách quan của đối tượng 3
2.Giúp con người xác định đúng mục tiêu ,đưa ra phương hương hợp lí, xác định các biện pháp và thực
hiện được mục tiêu 4
3.Tri thức là sức mạnh của con người 6
III.Vai trò của tri thức với xã hội 10
1. Vai trò tri thức đối với chính trị 10
2. Vai trò tri thức đối với văn hoá-giáo dục 11
IV. Vai trò của tri thức với kinh tế 12
1. Tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế 12
2.Kinh tế tri thức 13
3. Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức 14
4. Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức 15
KẾT LUẬN 17
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status