THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG:
Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự ổn
định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát triển
nền kinh tế đất nước. Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng
thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội (trong đó có chi tiêu của Chính phủ và
tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phải được lành mạnh hóa. Người vay tiền sử dụng
đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hàng. Chính vì
vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó
đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ
việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh
giá lại toàn bộ hoạt động của các NH. Việc tái cấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi
quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh
tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng
về vốn còn dồn lên vai NH, thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt
quan tâm.
Trước những biến động phức tạp thời gian gần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát
triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền
kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là
3 trụ cột trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Cho đến nay, Việt Nam đã có 5 NHTM Nhà nước (mặc dù một số NH đã được Cổ phần nhưng
Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối), 1 NH Chính sách xã hội, 1 nh phát triển, 37 NHTMCP, 48
chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại diện
NH nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1 QTDTW với 24 chi nhánh và
hơn 1000 QTDND cơ sở. Có thể nói, Việt Nam đã đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình hoạt
động NH, phát triển mạnh mẽ về quy mô, tạo điều kiện cho hệ thống NH huy động vốn trong và
ngoài nước để đáp ứng vốn cho phát triển nền kinh tế. Năm năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng tín
dụng trung bình khoảng 33% năm, so với thế giới thì tốc độ này là cao, nguyên nhân là do thị
trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu
dùng chủ yếu dựa vào NH. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về
gửi tiền và khách hàng của NH. Đây cũng là nguyên tắc được Chính phủ đảm bảo trong quá trình
tái cơ cấu các NH.
Các ngân hàng thương mại Việt nam đang và sẽ phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do chất
lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị và về
quản lý rủi ro. Do vậy, Chính phủ cần phải nhanh chóng đưa ra được chương trình tái cơ cấu
ngành để giúp các ngân hàng không bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán do khánh kiệt về
vốn và khôi phục năng lực của hệ thống ngân hàng giúp thúc đẩy nền kinh tế nhanh hồi phục
Trong năm năm gần đây nhờ có chính sách cởi mở của Chính phủ, hệ thống ngân hàng Việt nam
đã tăng trưởng mạnh kể cả về quy mô tài sản và số lượng các ngân hàng. Tính đến ngày
31/12/2010, theo NHNN, tổng tài sản trong hệ thống đã lên tới hơn 3,5 triệu tỷ VND (175 tỷ USD)
và dự nợ cho vay ở mức 125 tỷ USD tương đương với 120% GDP của nền kinh tế (Thái lan:
100%, Hàn Quốc 80%). Đây là một mức nợ cao báo động so với cung bậc hiện tại của kinh tế Việt
Nam.
Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn rất nhiều so với GDP (30% năm trong ba năm từ 2008
đến 2010), các ngân hàng đã tạo ra một lượng cung tiền cực kỳ lớn ra nền kinh tế và hậu quả là
lạm phát cao. Các doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn rẻ trước đó đã đầu tư tràn lan kém hiệu
quả và vấn đề nợ xấu đang là vấn đề thời sự nhất của ngành ngân hàng.
Nới lỏng chính sách đã làm gia tăng cạnh tranh trong ngành và làm tăng giá trị sản phẩm dịch vụ
cho khách hàng, nhưng không khuyến khích được các ngân hàng phát triển một cách thận trọng và
bền vững. Các ngân hàng đã huy động một khối lượng vốn khổng lồ và tăng trưởng ồ ạt hoạt động
tín dụng trong khi nhiều ngân hàng mới thành lập chưa có đủ chuyên môn, công nghệ và nhân sự
tốt để quản lý hiệu quả nguồn vốn và quản lý tốt rủi ro. Ngành ngân hàng được coi là hấp dẫn và
có lãi, nhưng theo tính toán tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (“ROE”) trung bình theo số liệu
2010 chỉ có 12.9%.
Bên cạnh đó, Việt nam có mức hội nhập cao so với nền kinh tế toàn cầu và là một trong các nền
kinh tế mở nhất thế giới với tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu đạt 150% GDP. Và do đó khủng
hoảng kinh tế và tài chính trong nước đang chịu ảnh hưởng nặng nề của của Khủng hoảng Tài
chính Thế giới và Khủng hoảng Nợ công tại Châu Âu.
NGUYÊN NHÂN PHẢI TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
Bất kỳ một cuộc khủng hoảng tài chính nào cũng liên quan đến bốn vốn đề chính trong ngành
khoản nợ NPL. Lý do là chất lượng tài sản suy giảm làm cho chi phí dự phòng gia tăng, làm ăn
mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn tự có. Theo số liệu của StoxPlus, vốn chủ sở hữu của 43
ngân hành thương mại (không tính ngân hàng phát triển và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài) là
276 ngàn tỷ đồng (khoảng 14 tỷ USD) vào thời điểm 30/12/2010.
Việc rà soát cụ thể và chính sác khả năng mất vốn của hệ thống ngân hàng là cấp thiết hơn bao giờ
hết. Chúng ta chỉ có thể biết được tình hình tài chính và vốn thực tế của các ngân hàng sau khi
thực hiện xong công tác rà soát này.
Thứ ba, liên quan đến vấn đề thanh khoản, các diễn biến về cuộc đua lãi suất gần đây của các
ngân hàng đã cho thấy những khó khăn về thanh khoản của hệ thống và nó đã phản ánh vào mức
lãi suất qua đêm lên đến hơn 20% trong đầu tháng 10/2011. Theo biểu đồ đường cong lãi suất dưới
đây, các ngân hàng đã sẵn sàng trả lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài dạn và các ngân hàng phải
huy động vốn bằng mọi giá để giải tỏa tạm thời vấn đề căng thẳng về luồng tiền.
Vấn đề thanh khoản của hệ thống còn thể hiện ở việc nhiều cán bộ tín dụng tại nhiều ngân hàng
cũng được giao nhiệm vụ đi tiếp thị trực tiếp khách hàng để huy động vốn tiết kiệm. Rất hiếm như
ở Việt Nam, người gửi tiết kiệm lại được “mặc cả” với ngân hàng về lãi suất.
Trên thị trường quốc tế, khi Lehman Brothers phá sản vào thời điểm tháng 10/2008, thị trường tiền
tệ hoảng loạn các ngân hàng không còn tin tưởng nhau nữa và dừng cho vay lẫn nhau hoặc đòi lãi
cao, lãi suất LIBOR qua đêm đã tăng lên đến 8% trong khi đó lãi suất LIBOR kỳ hạn 6 tháng chỉ
có 3%.
KINH NGHIỆM CÁC GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
Nhóm giải pháp 1: Tái cấu trúc về vốn tự có của các ngân hàng
Mục tiêu chính của nhóm biện pháp này là phải xác định được mức vốn chủ sở hữu thực tế (sau
khi đã lập dự phòng đầy đủ cho nợ dưới chuẩn NPL và giảm giá các tài sản) của hệ thống ngân
hàng. Từ đó Chính phủ mới đưa ra được các biện pháp cụ thể ví dụ như yêu cầu các ngân hàng
phát hành thêm vốn, cho vay thêm hoặc phải yêu cầu các ngân hàng có mức an toàn vốn thực tế
dưới mức tối thiểu phải sáp nhập hoặc giải thể. Nếu các ngân hàng không có đủ số vốn tối thiểu tự
có sẽ khó tồn tại và khó huy động được vốn trên thị trường do được coi là có mức đội rủi ro mất
khả năng thanh toán cao.
Giải pháp 1.1 Mua lại ngân hàng hay quốc hữu hóa một phần để tăng vốn
Chính phủ có thể đầu tư vào vốn cổ phần của các ngân hàng. Đây là giải pháp đã được thực hiện
chỉnh chỉ còn 200 tỷ. Khi đó Chính phủ Thái bơm thêm 200 tỷ vào vốn điều lệ tức là đã được sở
hữu 50% ngân hàng này.
Đây đã được xem là biện pháp rất cứng rắn của Chính phủ Thái Lan trước sức ép của Ngân hàng
Thế giới WB và Quỹ tiền Tệ Quốc tế IMF, những đơn vị tài trợ chính cho cuộc tái cấu trúc này.
Giải pháp 1.3: Vốn đối ứng (Matching Fund Scheme)
Chính phủ tiến hành rà soát và xác định nhóm ngân hàng “xấu” cần phải tái cấu trúc và lúc đó
Chính phủ sẽ khuyến khích nhà đầu tư từ bên ngoài. Đây là hình thức đồng tài trợ hay đầu tư. Ví
dụ nếu nhà đầu tư bỏ 1.000 tỷ vào tăng vốn cho ngân hàng nào đó gặp khó khăn thì Chính phủ
cũng cam kết góp vốn thêm 1.000 ngàn tỷ để vực dậy ngân hàng này. Vốn này thường được dùng
từ các quỹ đặc biệt do Chính phủ lập ra để tái cấu trúc ngành.
Giải pháp 1.4: Mở rộng room sở hữu nước ngoài trong thời gian nhất định
Đây là biện pháp mà Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng thành công. Một số ngân hàng được
tăng hạn mức cho nhà đầu tư nước ngoài (room) lên mức rất cao, ví dụ 75% từ mức 30% hiện tại
của Việt Nam, để nhà đầu tư mới có thể vào kiểm soát, chi phối và vực dậy trong khoảng thời gian
10 năm. Cổ đông nước ngoài phải cam kết sau thời hạn 10 năm thì phải giảm tỷ lệ sở hữu của họ
xuống mức theo luật định thông qua việc bán lại cho cổ đông trong nước hoặc chỉ phát hành cho
cổ đông trong nước để giảm tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Đây là biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước
có thể tính để nhằm thu hút nhà đầu tư nước ngoài trong khoảng thời gian khó khăn nhất định của
một nhóm ngân hàng.
Một số ý kiến cho rằng nên cho nước ngoài chi phối các ngân hàng tại Việt Nam để tăng tính hấp
dẫn của cổ phiếu ngành ngân hàng Việt nam. Điều này sẽ làm gia tăng rủi ro bị nước ngoài chi
phối ngành huyết mạch này của chúng ta. Nếu bị nước ngoài chi phối thì hậu quả có thể sẽ vô cùng
lớn chứ không phải như một số ngành khác như thức ăn chăn nuôi, một số mặt hàng nông sản vốn
đã bị phía Trung Quốc chi phối.
Nhóm giải pháp 2: Giải quyết vấn đề thanh khoản
Theo nhóm biện pháp này, Ngân hàng Nhà nước có thể đưa ra cơ chế thanh khoản đặc biệt hay
còn gọi là Special Liquidity Scheme và dùng các giao dịch phi tiền mặt như bảo lãnh các khoản
vay trên thị trường liên ngân hàng để tạo sự tin tưởng khi các ngân hàng và các tổ chức cho vay
lẫn nhau.
Ngoài ra, để giải quyết thanh khoản, NHNN có thể cho vay nhưng có đảm bảo dưới hình thức trái
Ngành nghề kinh doanh của VCB: Bao gồm (Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công
ty cổ phần số 0103024468 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.Hà Nội cấp ngày 02 tháng 6 năm 2008):
1. Hoạt động chính là dịch vụ tài chính:
Trọng tâm là hoạt động ngân hàng thương mại với lĩnh vưc truyền thông là ngân hàng bán
buôn (kinh doanh phục vụ khách hàng doanh nghiệp)
Hoạt động ngân hàng bán lẻ:
o Hoạt động trong lĩnh vực tiêu dùng
o Dịch vụ cho vay gắn với bất động sản – cho vay cầm cố, cho vay mua nhà…
o Kinh doanh dịch vụ tài chính phục vụ khách hàng thể nhân…
Bảo hiểm:
o Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
o Bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm…
Ngân hàng đầu tư:
o Kinh doanh và đầu tư chứng khoán
o Hoạt động quản lý tài sản/quỹ đầu tư…
o Dịch vụ tư vấn mua, bán, chia tách, sáp nhập công ty…
Dịch vụ tài chính khác…
2. Hoạt động phi tài chính:
Kinh doanh và đầu tư bất động sản
Đầu tư xây dựng và phát triển các dự án kết cấu hạ tầng
Hoạt động khác…
Các hoạt động kinh doanh chiến lược của VCB:
1. Huy động vốn:
Bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá
khác để huy động vốn, vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay vốn của NHNN
và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN
2. Hoạt động tín dụng
Bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác,
bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy định của NHNN
3. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra
từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là NHNN).
Theo Quyết định nói trên, NHNT đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên
và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải,
bảo hiểm ), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các
ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ,
viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)
Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý
ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng
Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống
đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo mô
hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng
03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ.
Trải qua gần 45 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm 2006,
NHNT đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với 58 Chi nhánh, 1 Sở
Giao dịch, 87 Phòng Giao dịch và 4 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 2 Văn
phòng đại diện và 1 Công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán bộ gần 6.500 người.
Ngoài ra, NHNT còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và
ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất
động sản, quỹ đầu tư
Ngày 02/06/2008, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động
theo mô hình công ty cổ phần với tên gọi Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103024468 do Sở kế
hoạch đầu tư Tp.Hà Nội cấp.
Trong năm 2010, VCB đã hoàn tất 2 lần tăng vốn điều lệ thành công với mức tăng
9,28% (vào tháng 8/2010 và 33% vào tháng 2/2011, đưa tổng vốn điều lệ lên mức
17.588 tỷ đồng.
Ngày 30/9/2011, Vietcombank đã ký kết thành công thoả thuận hợp tác chiến lược với
- Thành lập công ty chuyên xử lý tài sản xấu.
Về vốn tự có: chỉ số CAR của VCB là: 8,37%, cao hơn mức quy định của NHNN nhưng
dưới mức tối thiểu quy định của chuẩn mực quốc tế (IFRS). Các đề xuất:
- Kêu gọi đầu tư của các tổ chức nước ngoài bằng cách bán bớt lượng cổ phần của
Nhà nước hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây cũng là cách để VCB cải thiện
khả năng cạnh tranh, trình độ quản lý.
- Mua lại, sáp nhập với các Ngân hàng khác để tăng quy mô để có thể cạnh tranh với
các Ngân hàng nước ngoài.
Vấn đề về thanh khoản:
- Tăng chất lượng dịch vụ khách hàng để giữ chân khách hàng gửi tiền. Giao chỉ tiêu
đến từng nhân viên.
- Nâng cao công nghệ để khuyến khích người dân thanh toán không dùng tiền mặt:
thanh toán qua điện thoại di động, Internet các hóa đơn, dịch vụ tài chính,….