Tiến trình thực hiện tự do hóa lãi suất ở việt nam cơ hội và thách thức với nền kinh tế việt nam trong thời gian tới - Pdf 94

Nhóm 5:
Chuyên đề: Tiến trình thực hiện tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.
Cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.
= = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = =
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HÓA LÃI SUẤT
1. Khái niệm, phân loại lãi suất
1.1 Khái niệm lãi suất:
Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng - giá cả của
quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc
các dạng thức tài sản khác nhau.
Hai cách thức giải thích cho sự tồn tại của lãi suất:
- Giá trị thời gian của tiền tệ: Hầu hết mọi người chọn lựa có tiền trong hiện tại
hơn là trong tương lai. Khi được yêu cầu để cho vay số tiền hiện tại của họ trong sự
đổi lại một lời hứa trả lại số tiền đó cho họ trong tương lai thì người cho vay chỉ đồng
ý với điều kiện họ được trả hơn số tiền góc mà họ cho vay. Thực tế cho thấy, lãi suất
là sự thanh toán cho việc sử dụng tiền theo thời gian.
- Chi phí cơ hội: Thay vì cho vay thì người có tiền nhàn rỗi có thể dùng tiền
nhàn rỗi vào mục đích sinh lời khác. Trên cơ sở so sánh mức sinh lợi của các hoạt
dộng đầu tư thì người có tiền nhàn rỗi sẽ quyết định cho vay hay không cho vay. Như
vậy, lãi suất có thể xem là chi phí cơ hội của việc sử dụng tiền theo thời gian.
1.2 Phân loại lãi suất:
Nếu căn cứ vào giá trị thực tế, lãi suất gồm:
- Lãi suất danh nghĩa: Là loại lãi suất phải thanh toán.
- Lãi suất thực: Là loại lãi suất đo lường sức mua tiền lãi nhận được. Lãi suất
thực được tính bằng việc điều chỉnh lãi suất danh nghĩa có tính đến lạm phát.
Nếu căn cứ vào phương thức tính toán, lãi suất gồm:
- Lãi suất đơn: Là lãi suất áp dụng trong trường hợp đến mỗi kì hạn của lãi suất,
người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay số tiền lãi của khoản vốn vay. Lãi suất
đơn là số tiền lãi chỉ tính trên số tiền lãi chỉ tính trên số tiền gốc mà không tính trên
số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra.
- Lãi suất kép: Là lãi suất được tính cho một món vay được trả lãi định kì và tiền

ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian.
- Lãi suất cơ bản: Là lãi suất các ngân hàng làm cở để ấn định mức lãi suất kinh
doanh của mình.
Nếu căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất:
- Lãi suất cố định: Là lãi suất được quy định cố định trong suốt thời hạn vay. Nó
có ưu điểm là số tiền lãi được cố định và biết trước, nhưng nhược điểm là bị ràng
buộc vào một mức lãi suất nhất định trong một khoảng thời gian cho dù thị trường đã
thay đổi.
- Lãi suất thả nổi: Là lãi suất được quy định là có thể lên xuống theo lãi suất thị
trường trong thời hạn tín dụng( báo trước hoặc không báo trước). Lãi suất thả nổi vừa
chứa đựng cả rủi ro lẫn lợi nhuận. Khi lãi suất tăng lên thì người đi vay bị thiệt trong
khi người cho vay được lợi, ngược lại với trường hợp lãi suất giảm xuống.
1.3 Khái niệm tự do hóa lãi suất:
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, thực chất
của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu
2
vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng. Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp
bằng các công cụ để điều chỉnh theo định hướng mà thôi. Hay nói cách khác: Tự do
hóa lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng,
ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều
chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của nền
kinh tế.
PHẦN II: QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM
Cùng với các nỗ lực kiềm chế lạm phát như cắt giảm chi tiêu và đầu tư, đẩy
mạnh phong trào tiết kiệm các động thái điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước với
thị trường tiền tệ thông qua công cụ lãi suất rất đáng chú ý. Nhìn lại quá trình tự do
hóa lãi suất ở Việt Nam sẽ cho chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức sử dụng và
tác động của công cụ này.
I - Giai đoạn 1 (trước năm 1988): Lãi suất ở thời kì thực thi cơ chế quản lí kinh
tế theo phương thức quản lí kinh tế hóa tập trung.

hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực hiện chức năng ngân hàng của các
ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện
chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền
kinh tế.
Cơ chế lãi suất cố định thực chất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản,
theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: bảo toàn được vốn, được áp dụng ở các
doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo
biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất
của thị trường tiền tệ quốc tế. Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ
chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơ chế lãi
suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương.
Thông tin về lãi suất giai đoạn này (%/tháng):
1989 1990 1991 1992
Tiền gửi không kỳ hạn (cá nhân) 5,0 2,4 2,1 1,0
Tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (cá nhân & tổ chức kinh tế) 7,0 4,0 3,5 2,0
III - Giai đoạn 3 (06/1992 – 1995): Cơ chế điều hành khung lãi suất
Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo
khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của
ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước
chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi
suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.
Lãi suất tiết kiệm 12 tháng từ năm 1993 đến năm 1995 được duy trì ổn định ở
mức 12%/năm.
IV - Giai đoạn 4 (1996 – 07/2000): Cơ chế điều hành lãi suất trần.
Năm 1996, NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới
căn bản về điều hành lãi suất: Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi -

Năm 1998, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ba lần điều chỉnh giảm mức lãi suất
trần. Quyết định số191/QĐ-NH1 ban hành ngày 15/7/1998 theo đó trần lãi suất cho
vay ngắn hạn giảm xuống còn 1,6%/tháng , trung dài hạn xuống 1,65%/tháng.
Quyết định số 225/QĐ-NH1 ban hành ngày 27/8/1998 hạ trần lãi suất cho vay
ngắn hạn xuống còn 1,5%/tháng , trung dài hạn 1,55%/tháng.
Quyết định số 266/QĐ-NH1 ban hành ngày 27/9/1998 giảm trần lãi suất cho vay
ngắn hạn xuống 1,25%/tháng , trung dài hạn là 1,35%/tháng.
Như vậy, chúng ta thấy trần lãi suất cho vay ngắn hạn của các tổ chúc tín dụng
không ngừng điều chỉnh giảm cùng với sự giảm xuống của tỉ lệ lạm phát lãi suất cho
vay trung dài hạn giảm nhưng tăng trưởng đối với lãi suất ngắn hạn, điều này là hoàn
toàn phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên lý chung . Các quyết định đảm bảo được
cả ba lợi ích : lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung, của người gửi tiền và các tổ
5
chức tín dụng . Đặc biệt, đáng chú ý là lần đầu tiên việc quy định chênh lệch lãi suất
đã thúc đẩy các tổ chức tín dụng đi vào cạnh tranh trong kinh doanh tiền tệ, thay vì
quy định từng lãi suất cụ thể đối với từng nguồn cụ thể như trước đây, Ngân hàng
Nhà nước chỉ khống chế chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi
suất huy động bình quân , các tổ chức tín dụng được tự chủ ấn định các mức lãi suất
huy động cụ thể . Chính sách này đã khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển tăng
trưởng kinh tế cao , tạo việc làm và kiềm chế lạm phát ở mức thấp.
Cho đến tháng 1 năm 2000 Ngân hàng Nhà nước có thêm hai lần điều chỉnh lãi
suất đó là:
- Quyết định số 179/QĐ-NH ban hành ngày 28/5/1999 hạ trần lãi suất xuống
1,00%/tháng , trung dài hạn là 1,10%/tháng.
- Quyết định số 39/QĐ-NH1 ban hành ngày 17/1/2000 tăng dần lãi suất cho vay
ngắn hạn lên 1,2%/tháng, trung và dài hạn là 1,25%/tháng.
Cùng với Quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước còn quy định các mức lãi suất
ưu đãi cho vay phục vụ người nghèo (0,8%/tháng) cho vay với các tổ chức kinh tế và
dân cư thuộc vùng núi cao 0,5 0,6%/tháng, cho vay học sinh, sinh viên 0,7%/tháng,
lãi suất nợ quá hạn 150% mức lãi suất trần cho vay cùng loại. Quy định lãi suất tiền

6
nước, và kết quả, như trên Hình 5, là lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân vượt trên
trần lãi suất.
Một điểm đáng chú ý nữa là lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại,
mặc dù luôn cao hơn lãi suất cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong
năm 2000 và 2001, cả hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời gian đó, lãi
suất tiền gửi lại tăng lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất
huy động
v
ốn, nhưng lãi suất cho vay vẫn không tăng và nằm trong biên độ lãi
suất cơ bản. Chênh lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt.
Vào tháng 11 năm 2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho
phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lãi suất với các ngân
hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài.
Nói chung, có ba ý kiến khác nhau bình luận về cơ chế điều hành lãi suất bằng
lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước:
- Ý
kiến thứ nhất cho rằng lãi suất cơ bản cộng
v

i
biên độ không có gì khác
với trần lãi suất trước đây và, do vậy, sẽ không tạo ra tác động gì nhiều tới các
mức lãi suất cũng như hành vi huy động và cho vay vốn của các ngân hàng. Đặc
biệt, chính sách này cũng như trần lãi suất, hoàn toàn loại bỏ những người vay vốn
nhỏ (như tiểu thương, hộ sản xuất nhỏ và cá nhân) ra khỏi thị trường tài chính chính
thức. Đó là do chi phí cho vay các đối tượng này thường lớn nên không thể cho vay
trong khuôn khổ
trần
lãi suất hay lãi suất cơ bản cộng biên độ.

tức nhích lên.
7
Từ năm 2003, lãi suất cho vay cầm cố được điều chỉnh dần để đóng vai trò là lãi
suất trần của thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu được qui định làm sàn
của thị trường liên ngân hàng. Mức chênh lệch giữa lãi suất trần và lãi suất sàn đã
được nới rộng từ 0,05%/tháng tức là 0,6%/năm (tháng 3/2003) lên 2,4%/năm (tháng
6/2003) và từ tháng 9/2003 là 2%/năm phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo ra một
khung lãi suất để cho các mức lãi suất liên ngân hàng biến động. Lãi suất thị trường
mở được điều hành linh hoạt trong khung lãi suất cho vay cầm cố và lãi suất tái chiết
khấu. Từ khi thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận, lãi suất thị trường có lúc tăng lên,
rồi lại giảm do NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cho
vay cầm cố và lãi suất tái chiết khấu, sửa đổi cơ chế cho vay ngắn hạn, chiết khấu
giấy tờ có giá của NHNN đối với NHTM để mở rộng khả năng tiếp cận kênh tái cấp
vốn cho các NHTM, các NHTM Nhà Nước đã hiệp thương thoả thuận thống nhất
việc giảm LSTG và khống chế chung mức trần LSTG, các NHTM khống chế tăng
trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng chung và trên cơ sở nguồn vốn
huy động. Như vậy, lãi suất tái cấp vốn đã bước đầu có tác động đến lãi suất thị
trường. Song tác động này còn hạn chế. Do qui mô, độ sâu của thị trường tiền tệ ở
mức thấp và trong điều kiện dư thừa vốn khả dụng thì việc điều chỉnh giảm lãi suất
chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng chỉ có tác dụng phát tín hiệu nới lỏng tiền tệ để
định hướng lãi suất thị trường, ít có tác động đến khối lượng tiền cung ứng và cung
cầu vốn ngắn hạn trên thị trường. Dầu vậy, việc thường xuyên điều chỉnh lãi suất tái
cấp vốn căn cứ vào mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ để hoàn thiện khung lãi suất
chỉ đạo của NHNN vẫn rất cần thiết để lãi suất tái cấp vốn phát huy tác động hiệu
ứng của nó.
Lãi suất cho vay và huy động bình quân trong giai đoạn này như sau:
VII - Giai đoạn 7 (2008 – đầu năm 2010): Điều hành theo cơ chế lãi suất cơ bản
Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN
ngày16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam. Các TCTD
ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay)bằng Đồng Việt

Việt Nam chắc chắn sẽ tiến hành việc tự do hóa lãi suất trong thời gian tới, đây
là xu thế khách quan, là cần thiết của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thời điểm
thực hiện tự do hóa lãi suất sẽ phụ thuộc vào khả năng chống đỡ của nền kinh tế
cũng như tiến độ xây dựng đồng bộ “cơ sở hạ tầng” đi kèm để đáp ứng yêu cầu cho
quá trình tự do hóa lãi suất.
PHẦN III: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Cơ hội:
VN đang trong quá trình phát triển nền kinh tế và hội nhập (là thành viên của
ASEAN từ năm 1997, gia nhập AFTA và WTO, chúng ta đã có mối quan hệ với IMF,
WB, ADB ), trong bối cảnh toàn cầu hóa và xét trong điều kiện kinh tế VN hiện tại
việc tự do hóa lãi suất mang lại những thuận lợi sau:
Tự do hóa lãi suất, chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành
chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp của NHNN và điều hành bằng các công cụ hành
chính trực tiếp là góp phần chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợp với thông lệ
quốc tế, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Tạo thuận lợi cho việc cải cách hệ thống ngân hàng theo định hướng thị trường,
nâng cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn và khả năng
hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Lãi suất được xác định trên cơ sở cung- cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm
đối với khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng
lưới để huy động cho vay vốn với mức lãi suất phù hợp, đáp ứng đầy đủ và nhan hơn
vốn cho người cần vay. từ đó sẽ trả lãi suất đúng vai trò là đòn bẩy kích thích nền
kinh tế phát triển, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế.
Tự do hóa lãi suất sẽ thúc đầy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, các tổ
chức tín dụng trong nước và các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại VN,
giúp các ngân hàng trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tiếp
cận công nghệ tiên tiến hơn.
Đối với các khách hàng của ngân hàng thương mại đó là các doanh nghiệp, các
tầng lớp dân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phù hợp với đặc điểm

khó khăn chưa xử lý triệt để về thanh khoản, nhưng lại không muốn giải thể, sáp
nhập hoặc cổ phần hoá theo yêu cầu Do vậy, việc tự do hóa lãi suất huy động có
thể, trong thời gian đầu, làm gia tăng ít nhiều một số hoạt động huy động vốn với lãi
suất cao (kể cả sự gia tăng luồng vốn gián tiếp nước ngoài rẻ đổ vào VN với những
hệ luỵ có thể, gây sốc vốn và thanh khoản cho các ngân hàng như khi rút vốn đột
ngột) và có thể cả các hành vi tìm cách lách luật hoặc vi phạm luật để: hoặc sử dụng
nguồn vốn huy động bổ sung vào vốn điều lệ; hoặc tiến hành các hoạt động kinh
doanh mạo hiểm do sức ép phải cho vay lại với lãi cao; hoặc tạo hiện tượng lòng
vòng vốn xã hội, kiểu “mua rẻ bán đắt- ăn chênh lệch lãi suất”, coi nhẹ mục tiêu tín
dụng lành mạnh đối với xã hội và quản lý nhà nước cho các ưu tiên phát triển kinh
tế và tái cơ cấu. Điều này cũng có nghĩa là trực tiếp và gián tiếp tạo sự cạnh tranh
thiếu lành mạnh, thậm chí cấu thành các tội phạm và hành vi lừa đảo và vỡ nợ tín
dụng dây chuyền mang tính xã hội, làm tăng tính rủi ro và nhạy cảm, sự mất ổn định
của hệ thống ngân hàng và kinh tế vĩ mô trong nước.
Ngoài ra, tự do nâng lãi suất huy động quá mức sẽ làm gia tăng lạm phát do các
chi phí vốn tăng sẽ được DN chuyển trả vào chi phí giá thành sản xuất và tăng giá
bán ra; cũng như có thể gây thu hẹp sản xuất, làm tăng mất cân đối cung-cầu hàng
hóa - dich vụ trên thị trường. Cần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh nhạy cảm hiện nay,
11
mặt trái của cuộc đua lãi suất huy động là rất lớn, không chỉ có thể làm tăng chi phí
đầu vào, giảm quy mô đầu tư sản xuất, kinh doanh, mà thể gây ra một số mất ổn định
chung trong hệ thống ngân hàng và đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ ba, phân tích thực trạng Việt Nam cho thấy khả năng chống đỡ của khu vực
sản xuất hiện nay đối với việc tăng lãi xuất thực rất thấp, tính thụ động của hệ thống
Ngân hàng đối với môi trường kinh tế còn ở mức cao trong một cơ chế lãi suất mở –
chỉ có trần lãi suất tín dụng – nhưng hầu như các tổ chức tín dụng vẫn không tự điều
chỉnh lãi suất kinh doanh theo diễn biến giảm phát liên tục của nền kinh tế năm 1999,
mà thường chỉ điều chỉnh khi Ngân hàng nhà nước can thiệp và hầu như cho vay ở
mức kịch trần, thậm chí còn vượt trần bằng cách tăng các chi phí lãi suất. Trong khi
đó, việc nới lỏng dần hoạt động quản lí lãi suất hướng tới tự do hoá có khuynh hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status