TIỂU LUẬN vấn đề CON NGƯỜI - Pdf 94

MỤC LỤC

Trang
Mục lục 01
PHẦN MỞ ĐẦU 02
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI 05
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI NGOÀI TRIẾT HỌC
MÁC – LÊ NIN 06
1.2. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ BẢN CHẤT
CON NGƯỜI 07
1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã
hội 08
1.2.2. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội
09
1.2.3. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội 12
1.3. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (CNXH) LÀ SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN
DIỆN CỦA CON NGƯỜI 13
CHƯƠNG 2 – ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NHÂN
TỐ CON NGƯỜI 15
2.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY 15
2.2.1. Trên phương diện con người là động lực của sự phát triển xã hội- -15
2.2.2. Trên phương diện con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội- -16
2.3. NHỮNG NHIỆM VỤ CƠ BẢN ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 18
2.3.1. Xây dựng tư tưởng đạo đức và lối sống 18
2.3.2. Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo 20
2.3.3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 22
2.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa 25

nhiều tố chất và năng lực tốt đẹp đã được chứng minh trong lịch sử dân tộc
và cho đến ngày nay. Với những lý luận về vấn đề con người được trình
bày khoa học trong triết học Mác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đặt ra là phát huy nhân tố con người Việt
Nam hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với việc nghiên cứu đề tài tiểu luận triết hoc: “Vấn đề con người
trong triết học Mác – Lênin và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” nhằm đạt những mục đích sau:
• Đối với cá nhân tôi:
- Củng cố những kiến thức triết học thời đại học của mình .
- Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học dựa trên việc tìm kiếm và
tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau.
• Đối với nội dung đề tài:
- Tìm hiểu khái quát những quan điểm về vấn đề con người được đề
cập trong triết học Mác – Lê nin.
- Quan điểm của Đảng ta về nhân tố con người
- Tìm hiểu cách phát huy yếu tố con người việt nam hiện nay.
- Những nhiệm vụ cơ bản xây dựng con người việt nam hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích của đề tài này, tác giả cần thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tham khảo và chọn lọc tài liệu từ nhiều nguồn.
- Nghiên cứu lý luận về vấn đề con người trong triết học Mác - Lê
nin
- Vận dụng lý luận về con người trong triết học Mác – Lênin để xây
dựng mục đích phát triển con người Việt Nam hiện nay.
3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề hoàn thành đề tài tiểu luận triết học này tôi đã sử dụng một số

2.3. Những nhiệm vụ cơ bản định hướng phát triển nhân cách con người
Việt Nam hiện nay
5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI NGOÀI TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN
Trong lịch sử triết học, con người là một đề tài được các triết gia triết
học phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu. Có rất nhiều quan
điểm khác nhau về con người đã được đưa ra, có thể chú ý đến những quan
điểm sau:
Quan điểm triết học trước Mác, coi con người là một thực thể tự nhiên
– thực thể xã hội. Song họ cũng không vượt qua tính chất siêu hình và thậm
chí còn là duy tâm. Theo triết học Phương Đông với sự chi phối bởi thế giới
quan duy tâm hoặc duy vật chất phác thơ ngây. Điều này được biểu hiện trong
tư tưởng triết học Phật giáo, Nho Giáo, Lão Giáo, quan niệm về bản chất con
người củng thể hiện một cách phong phú. Chẳng hạn như Khổng Tử quy tính
thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng bởi phong tục, tập
quán xấu mà bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp. Cũng như Khổng Tử, Mạnh
Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người
hường tới các giá trị đạo đức tốt đẹp. Tuân Tử cho rằng bản chất con người
khi sinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, qua một quá trình chống lại cái
ác ấy thì con người mới tốt được. Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “
Đạo”. Do vậy con người cần phải sống theo lẽ tự nhiên thuần phát, không
hành động một cách giả tạo, gò ép trái với quy luật tự nhiên.
Cũng như triết học phương Đông, triết học phương Tây cũng có nhiều
quan niệm khác nhau về con người. Đặc biệt là Kitô giáo, họ nhận thức con
người trên cơ sở thế giới quan duy tâm và thần bí. Triết học Hy Lạp cổ đại
bước đầu cũng đã có sự phân biệt con người với giới tự nhiên, nhưng cũng chỉ
là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người. Triết học thời kỳ phục hưng cận
6

Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những
thành tựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào,
triết học Mác đã khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của
giới tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người. Con
người là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội – là thực thể
sinh vật – xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của
giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,
tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự
tồn tại của con người. Vì vậy giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”.
Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt
của con người với thế giới loài vật là mặt xã hội . Tính xã hội của con người
biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động
sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu
cuộc sống của mình; Hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; Xác lập
quan hệ xã hội. Bởi vậy lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội
của con ngươi, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã
hội. Theo Mác, xã hội suy cho cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa
người với người. Con người tạo ra xã hội, là thành viên của xã hội. Mọi biểu
hiện sinh hoạt của con người là biể hiện và là khẳng định của xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển, con người luôn phải chịu sự tác động của ba hệ thống quy luật khác
nhau, nhưng thống nhất với nhau. Bao gồm: Hệ thống quy luật tự nhiên chịu
8
sự quy định của mặt sinh học, hệ thống quy luật tâm lý ý thức hình thành và
vận động trên nền tảng sinh học của con người , hệ thống quy luật xã hội quy
định các quan hệ giữa người với người trong xã hội.
1.2.2. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội

không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi
giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người trong
mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng
không phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ
thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con
người. Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực
trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất
con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận
động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khắp)
với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó
chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo
khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh
một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác
nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển
của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con
người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con
người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
10
1.2.2.2. Con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Từ khi xuất hiện đến nay, loài người luôn cháy bỏng hoài bão được
sống tự do, hạnh phúc và không ngừng đấu tranh để hoài bão đó được trở
thành hiện thực. Trong các chế độ xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất (chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản). Các
giai cấp thống trị luôn dùng mọi thủ đoạn để tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự
do và hạnh phúc của số đông quần chúng lao động. Cho nên loài người không
ngừng đấu tranh chống lại sự áp bức bất công đó.

tiến bộ xã hội. Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển. Nhưng
theo qui luật tiến hoá của lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp
hơn. Một xã hội không có tình trạng áp bức, bóc lột, một xã hội thống nhất và
văn minh với nhân đạo, một xã hội mà trong đó mọi người có cuộc sống tự
do, hạnh phúc, và xã hội đó chỉ có thể là XHCN.
1.2.3. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối
lập với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo
thành bản chất của con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con
người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản
chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội”.
Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản
chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con
người. Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới
12
động vật trước hết là bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu sót
của những nhà triết học trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con
người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính
quy luật. Vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa
dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng
xã hội.
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn
toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật,
trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử. Với vai trò là chủ thể của
lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả
năng của mình. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ
điều kiện để phát triển toàn diện. Vì vậy, một vấn đề đã và đang đặt ra là các

xã hội. Trong giáo dục, thực hiện: giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành
một xã hội văn minh.
Những mục tiêu trên đang được Đảng và nhân dân ta thực hiện nhằm
xây dựng một xã hội: dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng, dân chu, văn
minh.
14
CHƯƠNG 2 : ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
Ngay từ những ngày đầu xây dựng CNXH, Đảng ta đã khẳng định
“Con người là vốn quý nhất” và “Muốn xây dựng thành công XHCN thì phải
có con người XHCN”.
Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hộ, nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, lợi ích riêng và lợi ích chung.
Đại hội lần thứ VII của Đảng: “Mục tiêu và động lực chính của sự
phát triển là vì con người, do con người, trước hết là người lao động”.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng: “Lấy việc phát huy yếu tố con người là
nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản
của sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm xây
dựng và phát huy nguồn lực con người. Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã
nêu: “Moi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo,
có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc,
trách nhiệm cao trong lao đông, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công
nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nhân nghĩa, có lối sống văn hóa, quan
hệ hài hòa trong gia đình và cộng đồng xã hội”.
2.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT

phải là con người trừu tượng mà là những cá nhân, những tập thể, những tầng
16
lớp người cụ thể. Vì hạnh phúc của mỗi người “dân” của “đồng bào” và của
cả dân tộc Việt nam là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh và của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Hiện nay, trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước để đi
lên Chủ Nghĩa Xã hội, mục tiêu xây dựng con người được đặt ra một cách
thiết thực và trực tiếp. Vấn đề con người là mục tiêu của sự nghiệp phát triển
kinh tế, xã hội ở nước ta là một vấn đề có tính chiến lược. Đại hội của Đảng
đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: Xuất phát từ tình
hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đường lối
kinh tế của Đảng ta được xác định là đẩy mạnh CNH – HĐH, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ đưa nước ta thành môt nước công nghiệp, ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất phù hợp theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, phát
huy cao nội lực. Đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững. Tăng
trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện cơ sở vật chất
và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và
cải thiện môi trường. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc
phòng, an ninh và trật tự xã hội.
Đây là con đường phát triển bền vững đất nước, con đường phát triển
nhắm tới một mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển con người và
xã hội, vừa phấn đấu để dân giàu, nước mạnh, công bằng xã hội và dân chủ,
văn minh.
Lấy phát triển con người làm mục tiêu chiến lược, chúng ta cần chú ý đến
những vấn đề sau:
- Cần quan tâm đến lợi ích của con người bao gồm lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần, trước hết là lợi ích vật chất. Hồ Chí Minh cho rằng: “Không
có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân đúng đắn và
17
bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ

- Cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào
hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn hiện nay và trước những biến đổi sâu rộng
của thời đại mới. Tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu biết đầy đủ sâu
sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, củng cố lòng tin của nhân dân va tư tưởng Hồ Chí
Minh đã lựa chọn.
- Khắc phục những biểu hiện dao động, hoài nghi về con đường đi lên
CNXH; Phủ nhận những thành quả của CNXH hiện thực trên thế giới; Phủ
nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta; Phủ nhận lịch sử Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự mơ hồ, bàn quan mất cảnh giác trước những luận điệu
xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta của các thế lực thù địch. Đồng thời đấu tranh phê
phán chống lại những tư tưởng phản động, chống phá cách mạng nước ta và
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
- Xây dựng tinh thần yêu nước có ý chí xây dựng đất nước vì mục
tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Biến tinh thần
đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây thành tinh thần phục hưng đất nước
trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước hiện nay. Quyết tâm xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc Việt Nam XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc và của
mỗi con người.
- Xây dựng đạo đức và lối sống mới phấn đấu vì lợi ích con người với
tư cách là mỗi cá nhân và cả cộng đồng, gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích
của cộng đồng, ở từng cơ sở, từng địa phương và trong cả nước. Hình thành
lối sống mới, lối sống văn minh tác phong công nghiệp, trật tự kỷ cương và
trách nhiệm. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đẹp đẽ và
19
“những thuần phong mỹ tục” của dân tộc, của từng địa phương. Phê phán lối
sống thực dụng, chạy theo đồng tiền hay quan liêu, cửa quyền, cục bộ mà ở
nhiều địa phương đã trở thành hiện tượng nổi cộm trong đời sống xã hội hiện
nay.
- Cần nêu gương người tốt, việc tốt những cá nhân đơn vị, tập thể tiêu

thường xuyên suốt đời .
- Điều chỉnh hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng
trong hệ thống giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân,
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú trọng
giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông. Mở rộng đào tạo
công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ. Phát
triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học, tập trung xây dựng
một số trường đại học trọng điểm quốc gia mang tầm khu vực, tiến tới đạt
trình độ quốc tế. Phát triển giáo dục thường xuyên và đào tạo từ xa. Nhà nước
dành ngân sách đưa người giỏi đi đào tạo ở các nước phát triển, khuyến khích
tạo thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu nước ngoài. Coi trọng đào tạo
đội ngũ công nhân tay nghề cao, có kỹ thuật thực hành và nhà kinh doanh
giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn,
miền núi, xuất khẩu lao động, một số nghành mũi nhọn. Phát triển và nâng
cao chất lượng các trường dân tộc nội trú, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ dân tộc thiểu số.
- Khẩn trương điều chỉnh và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước
chương trình đào tạo đại học và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu
cầu phát triển mới. Ngoài tiếng phổ thông, các dân tộc có chữ viết riêng được
21
khuyến khích học chữ dân tộc. Đổi mới chương trình đào tạo đại học, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề theo hướng thiết thực, hiện đại. Chú trọng
trang bị và năng cao kiến thức tin họ, ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên.
- Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng
lực đào tào của người học, coi trọng thực hành thực nghiệm, ngoại khóa làm
chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chạy. Đổi mới và thực hiện
nghiêm chỉnh chế độ thi cử. Đề cao tính tự chủ của trường học. Phát triển đội
ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi
ngộ. Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo
viên so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học. Có cơ chế chính sách bảo

đất nước.
Để phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội và con
người. Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã đặt ra các nhiệm vụ xây
dựng và phát triển nền văn hóa giai đoạn 2011 – 2020 như sau:
- Thứ nhất, cần tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển
về thể lực, trí lực và tình cảm, có lý tưởng và nhiệt tình cách mạng, trung
thành với sự nghiệp đổi mới, có kỹ năng lao động và sáng tạo, có ý chí và bản
lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu vì xã
hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các phẩm chất cơ
bản của con người cần xây dựng là con người công dân, con người khoa học
và con người nhân văn. Đề cao việc xây dựng ý thức công dân, tinh thần tôn
trọng và làm theo hiến pháp và pháp luật; Nâng cao trình độ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ; Đề cao các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái tốt và
23
cái đẹp trong hoạt động thực tiễn của mọi người. Tăng cường giáo dục lý
tưởng chính trị, đạo đức xã hội và bản lĩnh văn hóa cho thanh niên, học sinh,
sinh viên. Thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.
- Thứ hai, cần nâng cao chất lượng toàn diện của việc xây dựng đời
sống văn hóa và môi trường văn hóa thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua
yêu nước và cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
Đẩy mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa trong tổ chức Đảng và cơ quan
Nhà nước, các Đoàn thể chính trị xã hội, trong các doanh nghiệp, trong gia
đình và trong cộng đồng dân cư Xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội,
nhất là nơi công cộng.
- Thứ ba, cần mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp và dịch
vụ văn hóa, gắn kết chặt chẽ văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế, khai
thác tài nguyên văn hóa một cách hợp lý để phát triển du lịch dịch vụ. Đa
dạng hóa các ngành nghề sáng tạo và sản xuất các sản phẩm văn hóa, nâng

trưởng kinh tế. Tập trung xây dựng một số trung tâm văn hóa lớn gắn kết với
văn hóa, thể thao, du lịch như làng văn hóa các dân tộc việt Nam, trung tâm
thể thao quốc gia và các trung tâm đào tạo về văn hóa, thể thao ngang tầm khu
vực.
- Thứ chín, mở rộng giao lưu văn hóa, thể thao quốc tế. Đầu tư thích
đáng cho việc truyền bá ở trong các nước giá trị văn hóa của loài người và
giới thiệu đất nước, văn hóa con người Việt Nam với thế giới.
2.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa
Xây dựng môi trường văn hóa và đời sống văn hóa ở cơ sở. Nói đến
môi trường văn hóa là nói đến những quan hệ vô cùng rộng lớn của con người
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status