Mục lục
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
M
M
Ụ
Ụ
C
CL
L
Ụ
Ụ
C
C
Lời nói đầu................................................................................................................. 1
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ.............................................. 3
I. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ....................................... 3
1. Khái niệm................................................................................................................ 3
2. Tiêu chí xác định SMEs ở Đài Loan và một số nước. ............................................ 4
2.1. Đài Loan...................................................................................................... 4
2.2. Nhật Bản ..................................................................................................... 6
2.3. Khu vực ASEAN ........................................................................................ 7
2.4. Mỹ............................................................................................................... 8
2.5. Liên minh Châu Âu (EU)............................................................................ 8
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ.................. 8
trình công cộng và hoạt động mua sắm của Chính phủ........................... 38
2.7. Kiểm soát ô nhiễm môi trường. ................................................................ 39
2.8. Trợ giúp lẫn nhau và hợp tác. ................................................................... 40
II. Thành tựu và kinh nghiệm phát triển SMES ở Đài Loan và định hướng phát triển
giai đoạn 2001 đến 2010........................................................................................ 42
1. Những thành tựu đạt được của các SMEs........................................................... 42
1.1. Về đặc điểm. ............................................................................................. 42
1.2. Thành tựu của các SMEs của Đài Loan.................................................... 45
2. Những kinh nghiệm thực hiện chính sách hỗ
trợ phát triển SMEs của Đài Loan.51
3. Định hướng phát triển SMEs của Đài Loan trong vòng 10 năm tới kể từ khi gia
nhập WTO........................................................................................................... 53
3.1. Cải thiện môi trường kinh doanh cho các SMES ..................................... 53
3.2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các SMEs .......................................... 54
3.3. Nguồn vốn vay từ phía Chính phủ được khai thác hiệu quả dành cho các
SMEs........................................................................................................ 55
3.4. Ngoài ra, các SMEs của Đài Loan còn được tham gia vào các chương
trình phát triển chiến lược đặc biệt.......................................................... 55
Chương 3: Các giải pháp phát triển SMEs của Việt nam có liên hệ tới đài loan56
I. Thực trạng của các SMEs ở Việt nam ................................................................... 56
1. Khái niệm và tiêu chí xác định SMEs ở Việt Nam............................................. 56
1.1. Khái niệm.................................................................................................. 56
1.2. Tiêu chí xác định SMEs............................................................................ 56
2. Thực trạng các SMEs của Việt Nam..................................................................... 58
2.1. Về số lượng cơ cấu theo ngành của SMEs ............................................... 58
2.2. Vốn của các SMEs.................................................................................... 61
2.3. Công nghệ, thiết bị của các SMEs. ........................................................... 62
2.4. Lao động và đội ngũ lao động của các SMEs........................................... 63
2.5. Môi trường thể chế ở Việt Nam................................................................ 64
2.2. Chính sách thuế......................................................................................... 76
2.3. Chính sách thị trường................................................................................ 77
3. Nhóm giải pháp hỗ trợ tài chính cho SMEs.......................................................... 77
4. Nhóm giải pháp hỗ trợ về công nghệ và nguồn nhân lực. .................................... 81
4.1. Nâng cao trình độ công nghệ của SMEs................................................... 81
4.2. Giải pháp phát triển nhân lực hỗ trợ
SMEs. ............................................. 82
4.3. Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ các SMEs trực tiếp đào tạo và sử
dụng lao động .......................................................................................... 84
Kết Luận .................................................................................................................. 86Mục lục
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
D
D
A
A
N
N
H
HM
M
Ụ
Ụ
C
Biểu 1: Cơ cấu SMEs phân theo ngành kinh tế 2000-2001........................................ 1
Biểu 2: Tỷ lệ sản lượng của SMEs phân theo ngành ................................................ 44
Biểu 3: Lực lượng lao động làm việc trong các SMEs............................................. 46
Biểu 4: Giá trị sản lượng của SMEs 1996-2001 ....................................................... 47
Biểu 5: Giá trị xuất khẩu của SMEs 2000-2001 ....................................................... 48
Lời nói đầu
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 1 -
L
L
Ờ
Ờ
I
IN
N
Ó
Ó
I
I
cảnh thực tế của Việt Nam. Từ những thành công của mô hình SMEs của Đài
Loan và những nét tươ
ng đồng về điều kiện phát triển nền kinh tế giữa hai
nước, tác giả đã chọn nội dung: “Kinh nghiệm và định hướng phát triển SMEs
của Đài Loan và giải pháp phát triển SMEs của Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích của khoá luận tốt nghiệp
- Tìm hiểu khái niệm và vai trò của SMEs tại nhiều nước trên thế giới,
trên hết là
Đài loan, so sánh với những đóng góp kinh tế xã hội và tình hình
của SMEs tại Việt Nam.
- Phân tích kinh nghiệm và định hướng phát triển SMEs trong nền kinh
tế của Đài Loan.
- Đưa ra những những hướng đi và giải pháp để Chính phủ hỗ trợ SMEs
phát triển , và để giúp khu vực SMEs có chiến lược phát triển phù hợp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghi
ệp (KLTN) đi sâu vào vấn đề nghiên cứu kinh
nghiệm và thành tựu phát triển khu vực SMEs ở Đài Loan, cũng như các nước
khác so sánh với thực trạng phát triển SMEs của Việt Nam, đồng thời đưa ra
Lời nói đầu
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 2 -
một cái nhìn tổng quát so sánh những khả năng ứng dụng những vấn đề
nghiên cứu
KLTN cũng đề cập đến những định hướng mang tính chiến lược nhằm
phát triển SMEs của Đài Loan trong giai đoạn 2001-2010 và phướng hướng
phát triển SMEs của Việt Nam trong ngắn hạn như những so sánh thực tế nhất
để đi tới những kiến nghị cụ thể nhất.
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 3 -
C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G1
1
:
:T
T
Ổ
Ổ
N
N
G
G
N
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
PV
V
Ừ
Ừ
A
AV
V
À
ÀN
N
lý thấp các tiêu chí này có
ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng
thường khó xác định trên thực tế. Dó đó, nó chỉ làm cơ sở để tham khảo, kiểm
chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng: có thể sử dụng các tiêu chí như: số lao động,
giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận, trong đó:
- Số lao động có thể là lao độ
ng trung bình trong danh sách, lao động
thường xuyên, lao động thực tế.
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản cố định
(hay vốn cố định), giá trị tài sản còn lại.
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 4 -
- Doanh thu có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện
nay, có xu hướng sử dụng chỉ số này).
Ở hầu hết các nước trên thế giới, các SMEs thường được quy định bởi các
quy mô về vốn, về số lao động không lớn. Một điểm chung ở các nước là
không có nước nào quy định các yếu tố về công nghệ về quản lý và chất
lượng sản phẩm. Phải ch
ăng các yếu tố nay không có ranh giới giữa doanh
nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ.
2. Tiêu chí xác định SMEs ở Đài Loan và một số nước.
2.1. Đài Loan
Khái niệm SMEs được chính thức sử dụng ở Đài Loan vào tháng 9 năm
1967 khi Chính phủ đưa ra các tiêu chuẩn xác định SMEs để hỗ trợ và hướng
dẫn các doanh nghiệp này.
Theo quy định này, các tiêu chí xác định SMEs bao gồm vốn kinh doanh,
doanh thu và lao động. Từ đó đến nay, trị giá các tiêu chí này đã được điều
Đơn vị : Đô la Đài Loan (NT$)
Năm Ngành sản xuất Ngành khai khoáng
Ngành Thương mại,
vận tải, dịch vụ khác
1967
-Vốn kinh doanh < 5 triệu hoặc
-Lao động <100 người
-
-Doanh thu < 5triệu
-Lao động < 50 người
1973
-Vốn kinh doanh < 5 triệu và
-Tổng giá trị tài sản <20 triệu
hoặc
-Vốn kinh doanh < 5 triệu và
- Số lao động < 300 người
1977
-Vốn kinh doanh < 20 triệu và
-Tổng tài sản <60 triệu hoặc
-Lao động <300 người
-Vốn kinh doanh < 20triệu
hoặc
-Lao động < 500 người
-Doanh thu/năm < 20
triệu hoặc
-Lao động<50 người
1979 nt -Vốn kinh doanh < 20triệu nt
1982
tế Đài Loan giai đoạn này phát triển rất nhanh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
mức hai con số, đặc biệt vào các năm 1976 tốc độ tăng trưởng là 13,9%, năm
1977 là 10,2% và năm 1978 là 13,6%.
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 6 -
Tháng 2/1979, để đơn giản hoá các tiêu chí xác định SMEs, nhằm bảo
đảm hiệu quả cao cho các chính sách hỗ trợ và quản lý của Chính phủ đối với
các SMEs trong ngành khai khoáng. Chính phủ quy định tất cả các doanh
nghiệp chỉ cần có số vốn kinh doanh nhỏ hơn 20 triệu NT$ đều được coi là
SMEs, bất luận số lao động thường xuyên của các doanh nghiệp này là bao
nhiêu.
Tháng 9/1995 là lần sửa đổi cuối cùng các tiêu chí xác định SMEs của Đài
Loan. Theo lần sửa đổi này các doanh nghi
ệp trong các ngành chế tạo, xây
dựng và khai khoáng có số vốn kinh doanh thấp hơn 60 triệu NT$ hoặc có số
lao động thường xuyên thấp hơn 200 người là các SMEs. Còn trong lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp, cung cấp điện, ga, dầu, thương mại, vận tải, kho bãi,
viễn thông, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ bất động sản, dịch vụ công nghiệp,
thương mại, xã hội và con người, tất cả các doanh nghiệp có doanh số hàng
nă
m nhỏ hơn 80 triệu NT$ hoặc có số lao động thường xuyên ít hơn ít hơn 50
người đều là SMEs.
Cũng trong lần sửa đổi này, ngoài khái niệm về SMEs, Đài Loan còn đ-
ưa ra các tiêu chí để xác định thế nào là một doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Theo đó các doanh nghiệp thoả mãn các điệu kiện sau được gọi là doanh
nghiệp có quy mô nhỏ:
- Trong lĩnh vực chế tạo, xây dựng và khai khoáng: Số lượng lao động
thường xuyên của các doanh nghi
Vốn
(Triệu yên)
Lao động
(Người)
Vốn
(Triệu yên)
Doanh
nghiệp nhỏ
Khai khoáng,
Chế tạo, vận
tải, XD
≤ 300
≤ 50
≤ 300
≤ 100
≤ 20
(người)
Bán buôn
≤ 30 ≤ 10 ≤ 100 ≤ 30 ≤ 20
(người)
Bán lẻ và
dịch vụ
≤ 30 ≤ 10 ≤ 50 ≤ 10 ≤ 20
(người)
yếu căn cứ vào quy mô về vốn và lao động của nó. Do đó cách xác định
SMEs cũng mắc phải một số nhược điểm như cách phân loại một số nước
trong khu vực EU, Tức là chưa xét đến yếu tố đặc
điểm kinh tế ngành.
2.4. Mỹ
Tại Mỹ, nơi mà khi nhắc tới, người ta nghĩ ngay đến những tập đoàn kinh
tế hùng mạnh thì vai trò của các SMEs cũng được rất đề cao ở đây. Việc phân
loại các SMEs cũng đã tính đến sự khác biệt giữa các ngành. Bên cạnh những
tiêu chuẩn về mặt định lượng như: Lợi nhuận với mức tăng trưởng hàng năm
dướ
i 150.000 USD trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và thương mại;
hay các tiêu chuẩn về lao động để phân loại quy mô SMEs tùy thuộc vào từng
ngành riêng biệt như sau:
- Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Tổ chức có từ 250 lao động trở
xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ.
- Trong ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại bán lẻ: doanh nghiệp
có dưới 100 lao động thì được coi là nhỏ; từ
100-1.000 lao động được coi
là vừa và từ 1.000 lao động trở lên được coi là lớn và rất lớn.
Luật SMEs của Mỹ còn có thêm một số tiêu chuẩn về mặt định tính như:
SMEs là một xí nghiệp độc lập, không ở vào địa vị chi phối trong ngành của
mình liên quan. Theo khái niệm của Mỹ, các SMEs không phải là công ty con
hoặc xí nghiệp vệ tinh của những công ty lớn. Điều này khác hẳn với các
SMEs ở Nhật, các công ty con hoặc xí nghiệp v
ệ tinh thuộc công ty lớn vẫn
được hưởng những đặc quyền của các SMEs.
2.5. Liên minh Châu Âu (EU).
Khu vực SMEs được phát triển rất mạnh ở các nước EU, 80% số doanh
nghiệp ở EU có số nhân công dưới 100 người. Tiêu chí phân loại SMEs ở EU
thường căn cứ vào số lao động và doanh số hoặc vốn kinh doanh. Các doanh
bán buôn và (3) Nhóm thương nghiệp bán lẻ và dịch vụ.
- Vùng lãnh thổ: Do trình độ phát triển kinh tế giữa các vùng khác nhau
cho nên quy mô các SMEs cũng khác nhau. Một SMEs ở các vùng đô thị
nhưng nó có thể là doanh nghi
ệp lớn ở các vùng nông thôn và miền núi.
Các chỉ tiêu của SMEs ở thành thị thường cao hơn các chỉ tiêu SMEs ở
nông thôn. Theo kết quả điều tra năm 1990 của Viện Khoa học Lao động
và Các vấn đề xã hội thì ở thành thị, mỗi doanh nghiệp nhỏ bình quân tạo
ra 15,5 chỗ làm việc, vốn bình quân của một doanh nghiệp là 25.636 USD
; tổng giá trị tăng thêm là 10.260 USD doanh thu bình quân là 40.883
USD. Trong khi đó, ở nông thôn, mỗi doanh nghiệp nhỏ bình quân tạo ra
10,4 chỗ làm việ
c (bằng 67% doanh nghiệp ở thành thị); tổng giá trị tăng
thêm bằng một nửa của các doanh nghiệp ở thành thị; doanh thu bình
quân một doanh nghiệp là 13.548 USD (bằng 33% so với doanh nghiệp ở
thành thị).
- Tính lịch sử : Một doanh nghiệp có quy mô lớn trong quá khứ nhưng
hiện tại hoặc tương lai nó lại là SMEs. Chẳng hạn ở Đài Loan, năm 1967
Chính phủ quy định rằng : trong ngành công nghiệp, các doanh nghiệp có
vốn kinh doanh nhỏ
hơn 5 triệu NT$ (tương đương với 130.000 USD) là
SMEs nhưng tới năm 1989, tiêu chí này là 40 triệu NT$ (tương đương
1,40 triệu USD) và năm 1995, tiêu chí này lại tăng lên tới 60 triệu NT$.
MỤC ĐÍCH PHÂN LOẠI: Khái niệm SMEs sẽ khác nhau nếu mục đích
phân loại khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm SMEs với mục đích phân loại để
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 10
hỗ trợ các doanh nghiệp yếu, mới ra đời sẽ khác khái khái niệm SMEs với
chủ doanh nghiệp và đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh cũng như chính
sách khấu hao tài sản cố định của Nhà nước....
- SMEs thường sử dụng các loại máy móc công nghệ trung bình, đòi hỏi
sử dụng nhiều lao động, đặc bi
ệt trong lĩnh vực, dệt, giầy da... Tuy nhiên,
các SMEs dù có quy mô nhỏ nhưng vẫn có điệu kiện sử dụng các máy
móc trang thiết bị hiện đại, năng suất cao, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Ví dụ, các SMEs trong lĩnh vực chế tạo ở Nhật được trang bị máy móc
thiết bị rất hiện đại và thường là các nhà thầu phụ cung cấp một phần linh
kiện, phụ tùng trong các sản ph
ẩm hoàn chỉnh của các công ty lớn, mặc dù
điệu kiện kỹ thuật đòi hỏi rất cao.
- SMEs cần diện tích nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ tầng không quá cao. Vì thế
nó có thể được đặt ở nhiều nơi trong nước, từ thành thị cho tới các vùng
nông thôn, miền núi và hải đảo... Đó chính là đặc điểm quan trọng nhất
của SMEs để có thể giảm b
ớt sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 12
vùng trong một nước, giảm bớt luồng chảy lao động tập trung vào các
thành phố, để tiến hành công nghiệp hoá nông thôn.
Ngoài ra, các SMEs còn có ưu thế ở chỗ được quản lý chặt chẽ, quan hệ
giữa người sử dụng lao động và người lao động gần gũi, thân thiện hơn so với
các doanh nghiệp lớn. Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các SMEs có ảnh
hưởng ít hoặc không gây nên khủng hoảng kinh tế-xã hộ
i, đồng thời các
SMEs ít bị ảnh hưởng hơn bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế...
1.2. Hạn chế:
sản lượng (%)
Đài Loan 98,6 78,0 50
Canada 98,1 70,0 50
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 13
Nhât Bản 99,1 79,2 51,8
Pháp 98,2 73,5 52
Hồng kông 98 60 57
Phi-lip-pin 95,4 73,5 52
Singapo 98 48 -
Đức 98,6 75 45,5
Hàn Quốc 98 77,8 50,2
Hoa Kỳ 98 78,5 50
Trung Quốc 99,1 - 66,9
Ấn Độ 90 80,2 50
Thái Lan 80 80 52
Nguồn: PTS Lê Thanh Hà-Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển SMEs ở VN Tạp
chí phát triển kinh tế số 12 - Tháng 10/96, Trang 36.
Tuy các SMEs chưa đóng góp vào tổng giá trị sản lượng tương xứng với
tỷ lệ của nó (chiếm khoảng trên 1/2 tổng giá tri sản lượng của các nước),
nhưng tỷ lệ việc làm mà các doanh nghiệp này tạo ra thì thật đáng kể, hầu hết
các nước tỷ lệ này là khoảng 60%-70%, riêng Thái Lan nước có tỷ lệ SMEs
trong tổng số thấp nhất (so với các nước liệt kê) thì tỷ lệ lao động làm trong
các doanh nghiệ
p này lại chiếm rất cao, tới 80% và thấp nhất là Singapore
cũng chiếm 48%.
Vậy có thể nói các SMEs đang chiếm tuyệt đại đa số trong tổng số các
doanh nghiệp ở các,với số lượng hùng hậu như vậy các doanh nghiệp này
mô của các hãng lớn. Người ta tính rằng 3/4 các hãng, các công ty lớn của
Nhật sử dụng từ 100 xí nghiệp gia công chế biến trở lên. Một công ty lớn
có thể hợp đồng gia công chế biến tới 50% số lượng trực tiếp tạo ra sản
phẩm của nó. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều hình thức gia công
chế biến là công nghiệp lắp ráp, những ngành mà sản xuất thường đi qua
nhiều công đoạn khác nhau trong một nhà máy, hoặc dây chuyền sản xuất.
Do đó, tính bền vững của các mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn và
SMEs ở một khía cạnh nào đó được quyết định bởi tính chất “kỹ thuật”
của quá trình sản xuất. Đứng về phía mình các SMEs trở thành một bộ
phận của dây chuyền sản xuất trong một công ty lớn, thậm trí ở các công
ty khác nhau, đã cho phép phát huy lợi thế
của mình. Về phía công ty lớn,
ích lợi do việc phân phối là không thể thiếu được. Hơn thế nữa, đứng trên
quan điểm chung, chính sự phân công này đã tạo ra nhiều ưu thế, cho
phép khai thác tối đa tiềm năng của cá nhân, xí nghiệp và đưa lại hiệu quả
cao, với chi phí thấp góp phần hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản
phẩm.
- Thứ hai, Việc tìm kiếm và huy động các nguồn vốn củ
a SMEs cũng là
một cách để duy trì hoạt động bình thường của cả quy trình sản xuất khi
coi xí nghiệp lớn, xí nghiệp vừa và nhỏ nằm trong một hệ thống có quan
hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ cơ cấu này còn thể hiện rất rõ trong
việc phát triển kinh tế và cải tổ sản xuất. Bản thân các công ty nhỏ phải tự
vươn lên đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chấ
t lượng để có thể giữ uy tín với
công ty “mẹ”. Chính vì lẽ đó, việc liên tục vươn lên của chính mình là
một yêu cầu khách quan trong điệu kiện cạnh gay gắt và đến lượt nó lại là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung. Điều quan trọng nữa là
nhờ đó mà có thể giúp công ty liên tục thay đổi từng phần kỹ thuật và
công nghệ của mình.
mà bạn hàng của họ là các SMEs đã thực hiện để cho công nhân của
mình tự làm lấy. Điều đó đã buộc các công ty vừa và nhỏ phải tự điều
chỉnh và thường là gặp khó khăn: phả
i giảm giá thành, vốn.... Vì thế,
người ta nói trong quan hệ này các SMEs như các cái “van” để điều tiết
khi kinh tế suy thoái hay hưng thịnh.
- Thứ năm, Dù có nhiều điểm bất lợi trong kinh doanh, song không vì thế
mà những ưu thế của SMEs bị lu mờ. Trái lại tính năng động và tự chủ
của nó là biểu hiện rất rõ về tính độc lập tương đối trong quá trình phát
triển. Để đáp ứng nhu cầ
u đa dạng của thị trường và tìm chỗ đứng trong
thương trường cạnh tranh ngày một gay gắt trong nước cũng như quốc tế,
nhiều công ty vừa và nhỏ đã đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển sản
phẩm mới và xuất hiện bằng những sản phẩm độc đáo và phương thức
kinh doanh độc lập của mình. Nhiều công ty lớn đã trưởng thành từ những
SMEs như vậy. Chẳng hạn như tập đoàn khổng lồ Sony về thiết bị nghe
nhìn, hoặc Kyacera về thiết bị điện tử, Daiei về kinh doanh siêu thị. Đặc
biệt là khi nền kinh tế Nhật lâm vào thời kỳ suy thoái từ đầu thập kỷ 90,
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 16
các SMEs lại thể hiện rất rõ tính độc lập tương đối của mình. Các công ty
này vẫn duy trì được hoạt động của mình và kịp điều chỉnh, phục hồi và
đứng vững trên thị trường. Một biểu hiện rất rõ tính độc lập rất rõ tính
độc lập của các SMEs ở Nhật Bản là sự phát triển mạnh mẽ đầu tư ra
nước ngoài. Chỉ riêng, năm 1993 các SMEs Nhật Bản đã th
ực hiện 698 dự
án đầu tư ra nước ngoài bao gồm 432 dự án của các công ty sản xuất, 110
dự án của các công ty thương mại và 19 dự án của các công ty xây dựng,
u
có thu nhập khá, vừa làm giảm người nghèo, đồng thời góp phần nâng cao
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 17
tiêu dùng của dân cư với nhu cầu đa dạng, nhiều chủng loại sản phẩm chất
lượng cao.
- Các SMEs còn thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, đặc biệt những vùng mà
các doanh nghiệp lớn không với tới được, góp phần làm tăng thu nhập, tạo
việc làm cho dân cư nơi mà doanh nghiệp hoạt động và đặc biệt là duy trì
và phát triển các ngành nghề truyền thống vì các loại ngành nghề này phù
hợp với loại hình SMEs....
Như
vậy, dù với quy mô khiêm tốn song vị trí của các SMEs xét về số
lượng và mức độ đóng góp trong nền kinh tế Nhật Bản thì quả thực là hoàn
toàn không nhỏ (có thể minh hoạ qua con số thống kê năm 1991, các SMEs ở
Nhật Bản chiếm 99,1% số các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp và sử
dụng 79,2 lao động trong các ngành đó. Riêng ngành chế tạo, các doanh
nghiệp này chiếm 99,5% số doanh nghiệp, 73,8% số lao động và 51,8% giá trị
hàng hoá bán ra). Vậy có thể nói rằng n
ền công nghiệp Nhật bản đang thực sự
dựa vào các SMEs. Đặc biệt, loại hình doanh nghiệp này hoạt động trong hầu
hết các ngành sản xuất và dịch vụ tuy mức độ có khác nhau. Một đặc điểm
khá rõ nét là các SMEs hoạt động ở những nơi có quy mô thị trường nhỏ hoặc
những ngành mà cung cấp kỹ thuật hiện đại khó khăn. Còn các doanh nghiệp
lớn thường hoạt động trong các ngành sản xu
ất có ưu thế về quy mô. Thực tế,
những lĩnh vực nào phù hợp với các SMEs về mặt kỹ thuật thì nhất định nó
tồn tại, còn trong lĩnh vực hoạt động mới thì liên tục nảy sinh và các SMEs
thu hút lực lương lao động rất đông đảo. Trong khi các doanh nghiệp lớn
giảm công nhân viên và ít nhận người mới, thì riêng trong năm 1997 toàn bộ
chỗ làm việc tăng thêm đều là do các SMEs tạo ra.
Các SMEs của Mỹ không những đã tạ
o ra khá nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động mà chúng còn thu hút một số lượng lao động lớn những người
trẻ tuổi, phụ nữ, người tàn tật, quân nhân xuất ngũ, các thành viên của những
dân tộc ít người và những người già bị những doanh nghiệp lớn đẩy ra ngoài.
Hơn nữa, trong những năm gần đây, ngành sản xuất thứ 3 (ngành dịch vụ
hiểu theo nghĩa rộng) và các ngành kỹ thuậ
t cao của Mỹ đã không ngừng xuất
hiện những lĩnh vực mới và ngành nghề mới.Và ở giai đoạn mới bắt đầu, cơ
sở phát triển của chúng chính là các SMEs. Ví dụ năm 1975, khi Bill Gates
cùng với một người nữa đi đầu trong việc lập ra Công ty phần mềm vi tính thì
chỉ có 900 USD tiền vốn, đến năm 1994 mức bán ra của công ty đã tăng lên
40 tỷ USD, đồng thời thuê 16.400 người làm ở
49 nước. Vì vậy mà ngày nay
khi mức độ tích luỹ tư bản ngày càng cao, trong khi nhu cầu về sức lao động
của các doanh nghiệp lớn ngày càng giảm bớt, thì các SMEs ở Mỹ lại có khá
nhiều công việc phù hợp cho mọi đối tượng lao động.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, Chính phủ Mỹ bắt đầu coi trọng vai trò
của các SMEs. Cơ cấu kinh tế nhà nước Mỹ phải chuyển từ thời chiến sang
th
ời bình, từ quân sự sang dân sự. Rất nhiều công nhân viên từ ngạch quân sự
chuyển sang dân sự hoặc về các địa phương. Do đó, giải quyết việc làm cho
đội quân khổng lồ này đã trở thành một vấn đề lớn nan giải và trong thực tế
các doanh nghiệp lớn không nhận nổi số đông người như vậy. Đến lượt mình,
các SMES đã phát huy vai trò giải quyết việc làm cho người lao động. Theo
số
liệu thống kê của Cục quản lý các SMEs của Mỹ (SBA) thì vào năm 1958
a
mình Tổng thống B.Clinton cho biết, năm 1997 1/3 GDP tăng trưởng của Mỹ
đạt được là nhờ mở rộng hoạt động xuất khẩu”. Trong đó có phần đóng góp
rất tích cực của các SMES. Thực vậy, trong thời gian 1987-1996 kim ngạch
xuất khẩu của các SMEs tăng từ 67 tỷ USD lên tới 184 tỷ USD, bình quân
hằng năm tăng 12%, đấy là chúng ta chưa kể giá trị tạo của các SMEs kết tinh
trong hàng hoá xuất khẩu c
ủa các doanh nghiệp lớn. Không những thế, số
SMEs làm hàng xuất khẩu lại có chiều hướng tăng lên, từ 1987-1992 tăng lên
64%. Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp lớn thì các SMEs còn gặp khó khăn
trong việc xuất sản phẩm của mình, dù là họ có những sản phẩm tốt đi nữa. Vì
vậy, nếu chính phủ Mỹ hỗ trợ tốt cho khu vực doanh nghiệp thì họ sẽ còn
đóng góp nhiều hơn cho xuất khẩu, góp phần nhiề
u hơn vào tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế Mỹ.
Tóm lại, từ thập niên 70 đến nay, đóng góp của các SMEs trong nền kinh
tế Mỹ là quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực tạo công ăn việc làm. Sự tăng
trưởng lâu dài và ổn định về số lượng việc làm do các SMEs tạo ra, đã có tác
dụng bù đắp những ảnh hưởng bất lợi do các doanh nghiệp lớn cắt giảm nhân
viên gây ra. Những công việc do các SMEs tạo ra đã làm cho mức thu nhập
của quần chúng lao động nói chung được giữ vững hoặc nâng cao, khiến sức
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 20
mua của xã hội được duy trì ở một mức thích đáng, có tác dụng tăng cường
tính linh hoạt và khả năng nhanh nhậy cho nền kinh tế Mỹ, đồng thời còn góp
phần làm dịu bớt một loạt mâu thuẫn xã hội. Đặc biệt là trong thời kỳ suy
thoái, thông qua việc thu hút một số lượng lớn lao động, các SMEs không
những đã kìm chế được nạn thất nghiệp, mà còn hạ thấp được tỷ lệ th
có thể làm rõ vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế Đức
thông qua những thực tế sau đây:
- Một là, các SMEs bảo đảm cho tính năng độ
ng của nền kinh tế. Chúng có
khả năng tạo ra một lượng cung về hàng hoá và dịch vụ đủ sức đáp ứng
đầy đủ, kịp thời, với giá cả hợp lý các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của
xã hội. Chính nhờ tính linh hoạt, khả năng thích ứng với thị trường và
chấp nhận rủ ro của chúng, mà loại hình doanh nghiệp này có được khả
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trần Trí Dũng – Nhật 3 – K38
- 21
năng đổi mới, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế và do đó mà tự nó đã
thể hiện được các chức năng kinh tế to lớn đối với xã hội.
Do quy mô và tổ chức xí nghiệp, SMEs không tiến sản xuất hàng loạt lớn,
nhưng lại có khả năng tạo ra những mặt hàng sản xuất chuyên biệt với số
lượng nhỏ và giá thành hợp lý. Đặc biệt, chúng rất nhanh nhạy trong vi
ệc
phát hiện nhu cầu của thị trường và do đó có khả năng bù đắp kịp thời
những thiếu hụt về cung đối với xã hội.
Đặc biệt cần nhấn mạnh rằng, loại hình doanh nghiệp này hiện diện ở
khắp mọi miền đất nước, kể cả ở nông thôn và vùng núi, những nơi thưa
dân, cơ cấu kinh tế chưa phát triển. Nhờ đó, chúng có khả
năng huy động
mọi nguồn lực chưa được huy động, cung cấp vững chắc hàng hoá và dịch
vụ cho dân cư địa phương và những vùng phụ cận. Chúng cung ứng sản
phẩm tại chỗ với 95% sản phẩm tiêu thụ nội địa, mà chủ yếu là tiêu thụ
trong vùng (80% sản phẩm tiêu thụ trong vòng bán kính 30 km); 5% sản
phẩm dành cho xuất khẩu. Như vậy, các SMEs ở Đức thực sự góp phần
đắc lực cho sự tăng trưởng kinh tế (thực hiện chức năng tăng trưởng) và