Về những giá trị tư tưởng triết học cơ bản của nho gia trong xã hội việt nam ngày nay - Pdf 95


DẪN NHẬP
Nho học là học thuyết do Khổng Tử sáng lập, thời Khổng Tử gọi là Nho
học hay là Khổng học, là một trong những học thuyết quan trọng nhất của văn
hoá Trung Hoa, văn hoá Phương Đông và loài người. “Hán thư văn ký” xếp
Nho ở hàng đầu cửu lưu (là chín học phái khác nhau thời Tiên Tần). Nội dung
của học thuyết này chủ yếu là “Tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiến chương Văn,
Võ” (trình bày tư tưởng của Nghiêu Thuấn, bắt chước theo vua Văn, vua Võ).
Đề cao “Lễ nhạc” và “Nhân nghĩa” chủ xướng đạo “Trung thứ” (hết lòng vì
người, điều mình muốn đạt được cũng giúp người khác đạt được, điều gì mình
không muốn, thì không áp đặt cho người khác), và đạo “Trung Dung” (không
thiên lêch, không thừa thiếu). Về chính trị chủ trương “Đức trị” (cai trị bằng
đạo đức), “Nhân chính” (chính sách nhân từ). Coi trọng việc giáo dục đạo đức
luân lý và cả sự tu thân dưỡng tính.
Ở thời Chiến Quốc, Nho Gia gồm tám phái mà quan trọngnhất là hai
phái Mạnh Tử, Tuân Tử. Sau khi Hán Vũ Đế ( 140 TCN- 87 TCN) bãi truất
bách gia, độc tôn Nho Gia, học thuyết này dần dần trở thành dòng chính của
văn hoá Trung Hoa thời phong kiến. Để đáp ứng nhu cầu của giai cấp phong
kiến thống trị trãi qua các triều đại, các nhà Nho đã không ngừng từ học thuyết
của họ Khổng mà diễn dịch ra những lý thuyết khác nhau phù hợp với từng
thời kỳ.
Trong suốt quá trình phát triển của mình (tính đến thời điểm hiện nay
khoảng hơn 2 ngàn năm), Nho Gia phân chia thành 2 thời kỳ lớn:
- Nho nguyên thuỷ (Nho Tiên Tần 221 TCN) gồm có các tác gia Khổng
Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử.
- Giai đoạn sau nguyên thuỷ có: Hán Nho 206 tcn - 220 tcn; Nguy, Tấn,
Nam Bắc Triều 220- 590; Nhà Tuỳ 590; Đường Nho 618- 906; Ngũ Đại Thập
Quốc 906 - 970; Tống Nho 970- 1209; Nhà Nguyên 1279; Minh Nho 1369-
1644; Thanh Nho 1644- 1911.
1



đạo đức và một số lĩnh vực tích cực khác của Nho Giáo có những điều tốt đẹp
mà chúng ta phải tiếp thu vận dụng trong quản lý giáo dục con cái, gia đình,
xã hội.
Trên con đường phát triển, xã hội Việt Nam cần kế thừa nhiều truyền
thống tốt đẹp của dân tộc trong đó có Nho Giáo. Kế thừa Nho Giáo chúng ta
phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, đánh giá đúng học
thuyết Nho Giáo, gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, khai thác nnhững yếu tố tích
cực để hộ trợ giúp đẩy đất nước đi lên, và giữ gìn văn hoá nhân loại. Đó cũng
là chủ trương của Đảng ta hiện nay “đối với học thuyết ngoài học thuyết Mác
-Lê Nin, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan biện chứng”***
Chính vì lý do trên mà tác giả chọn đề tài “Về những giá trị tư tưởng
triết học cơ bản của Nho Gia trong xã hội Việt Nam ngày nay”
Qua thực hiện đề tài này, giúp tác giả rất nhiều trong việc mở mang
kiến thức về tư tưởng Nho Gia nói chung và Nho Gia ở Việt Nam nói riêng.
Điều này giúp tác giả tích luỹ vốn tri thức phục vụ thiết thực cho công tác
nghiệp vụ sau này.
II. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Chỉ rỏ tư tưởng cơ bản của Nho Giaó nguyên thuỷ.
- Chỉ rỏ ảnh hưởng cơ bản của nho Giáo nguyên thuỷ trong xã hội
Việt Nam hiện nay
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề quan niệm thế giới, chính tri - xã hội, con người, đạo đức của các
nhà tư tưởng Nho Giáo thời nguyên thuỷ ở Trung Quốc và ảnh của Nho Giaó
nguyên thuỷ đối với xã hội Việt Nam ngày nay.
3

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦ ĐỀ TÀI
Đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh để nghiên cứu Nho Giaó. Cụ thể là: Phương pháp xuyên suốt đề

2.5. Những ảnh hưởng tiêu cực của Nho gia đối với xã hội Việt Nam
hiện nay.
Chương 1.
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA
1.1. Vài nét về Khổng Tử người sáng lập ra trường phái Nho Gia
và các học trò tiêu biểu của ông thời Nho Gia.
Khổng Tử (551-480 TCN), sinh ra ở làng Xương Bình, huyện Khúc
Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay, trong một gia đình quý tộc nhỏ đang bị sa sút.
Mẹ Khổng Tử là Nhan Trưng Tại còn gọi là Nhan Thị, cha là Thúc Lương
Ngột. Khi sinh ra trên đầu gồ, giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu (tức là cái gò).
Tên tự là Trọng. Ông là người sáng lập ra đạo Nho. Đạo Nho chủ trương làm
chính trị lấy đức làm gốc (Đức trị) nhưng có nghĩa là lấy nhân làm gốc vì theo
Khổng Tử người có đức là người có nhân.
Thời đại của Khổng Tử là thời đại loạn lạc. Nhà Chu suy yếu, các chư
hầu không nghe theo thiên tử nhà Chu mà nổi lên xưng vương xưng bá
“Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” đang nổi lên lấn át “Vương đạo” của nhà Chu
trật tự lễ phép của nhà Chu bị đảo lộn Khổng Tử than phiền rằng “Vua không
ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con” (Quân bất quân,
thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử)
5

Khổng Tử muốn khôi phục lại trật tự, pháp chế, kỷ cương của nhà Chu
với một nội dung phù hợp, ông lập ra học thuyết của mình, mở trường dạy
học, đi chu du khắp nơi (Khổng Tử đã từng đến các nước Tề, Lỗ, Vệ, Trần),
tranh luận với các phái khác nhau để tuyên truyền lý tưởng của mình. Sau
nhiều năm cùng học trò bôn ba mong gặp được người sử dụng học thuyết của
mình song ý nguyện đó không thành ông quay về nước Lỗ dạy học san định
các sách vở đời trước(2). Tương truyền rằng học trò của Khổng Tử đông đến
3000 người và khi ông mất có người để tang ông, hàng trăm người làm nhà,
lập cứ bên phần mộ của ông, tạo thành làng Khổng(3). Tư tưởng của Khổng

722 TCN đến Lỗ Ai Công 480 tcn. Trong kinh Xuân Thu với thâm ý của
mình, Khổng Tử ngầm phê phán về đường lối cai trị của nước Lỗ và của
Trung Quốc nói chung ở thời đại đó và theo Khổng Tử do sự sai lầm về đường
lối chính trị đẩy đất nước vào tình trạng chiến tranh liên miên, đạo đức suy
giảm. Trước sự suy bại và loạn nghịch ấy Khổng Tử lấy làm lo sơ. Mới biết
Xuân Thu khen thiện, chê ác, dạy phép trị nước cho các Thiên tử. Phép trị
nước là thuyết “chính danh” thuyết xuyên suốt sách Xuân Thu mà trọn đời
Khổng Tử tuân theo.
Kinh Dịch nhằm nêu lên sự biến đổi của vũ trụ và của nhân sinh.
Triết học Khổng Tử được lý giải khác nhau qua các triều đại. Đến thế
kỷ II tcn những quan điểm của Khổng Tử được danh nho nhà Hán là Đổng
Trọng Thư thần bí hoá và biến nó thành một hệ thống đạo đức, tôn giáo chính
trị thống trị trong đời sống tinh thần của Trung Quốc.
Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người gốc nước Trâu thuộc
miền nam tỉnh Sơn Đông ngày nay. Ông sống khoảng năm 372 đến 289 tcn, là
người theo phái Nho Gia của Tăng Tử nước Lỗ, ông thuộc dòng công tộc
Mạnh Tôn, cha là Khích Công Nghi, mẹ là Cừu Thị. Khi ông lên ba tuổi thì
cha chết, được mẹ nuôi dưỡng, giáo dục lễ nghĩa.
Để bảo vệ và phát huy tư tưởng của Khổng Tử mong muốn dùng thuyết
của mình cứu đời. Mạnh Tử đi khắp các nước chư hầu để truyền bá tư tưởng
7

và chủ trương của mình ( Mạnh Tử đã từng đi qua Tề, Lương) nhưng đi đến
đâu ông cũng không đạt được ý muốn. Ông lui về dạy học cùng các học trò
của mình xếp đặt lại thứ tự trong Kinh Thư, Kinh Thi. Thuật lại các ý của
Khổng Tử , ghi lại những lời Mạnh Tử đã bàn luận đối đáp với các chư hầu và
ghi lại những lời phê bình của ông đối với học thuyết khác làm ra bảy thiên
sách có tên là Mạnh Tử.
Trong quá trình đấu tranh chống lại các trường phái triết học khác thời
Chiến Quốc nhằm kế thừa và phát triển hơn tư tưởng của Khổng Giáo, Mạnh

như vậy một cách trang trọng cốt chỉ đủ làm chỗ dựa mạnh mẽ, thiêng liêng
cho học thuyết và đạo lý của mình là được. Vì vậy các câu hỏi trời là gì? do
đâu và tại sao mà có?. Trời với muôn vật, muôn loài như thế nào? thì trong tài
liệu kinh điển của Nho Gia ít thấy, mà trường phái Nho Gia hay nói nhiều về
mối quan hệ giữa trời và người mặc dù không rành mạch sáng tỏ. Vì thế sau
Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử quan điểm về trời đất lần lượt được bổ sung
bởi các danh Nho đời sau. Trong các tác phẩm của Khổng Tử người ta không
thấy có từ vũ trụ được dùng với tính cách là một thuật ngữ của một học thuyết
mà thông dụng nhất với tính cách đó có hai nhóm từ: Một là trời, đất và trời
đất với tinh thần trừu tượng hoà mọi vật thể trên trời dưới đất trực tiếp tác
động vào giác quan con người, hai là nhóm Càn, Khôn và Càn Khôn được coi
như là những dấu hiệu biểu hiện trời đất những dạng vô hình của triết học
Trung Quốc cổ đại.
Chịu ảnh hưởng quan điểm vũ trụ của người Trung Hoa thượng cổ,
những quan điểm lưu truyền trong dân gian được ghi trong sách Dịch, quan
niệm này cho rằng vũ trụ ban đầu là khối hổn mang hay còn gọi là vô cực. Từ
cái hỗn mang chứa đựng ”thái cực”, ”thái cực” chứa đựng hai mặt đối lập liên
hệ nhau đó là âm - dương. Âm - dương là hai thế lực đối lập tương tác lẫn
nhau tạo ra sự biến hoá của vũ trụ. Sự biến đổi vô cùng, vô tận ấy Khổng Tử
gọi là ”đạo”. Bởi vì đạo không có đặc tính, hình thể cho nên không xác định
được bản thể nhưng có thể xác định được động thể. Gộp trời đất muôn vật vào
một thể Khổng Tử thường chú ý đến tính chất động nhiều hơn là tính chất
9

tĩnh. Ông hình dung tất cả trôi đi, trôi mãi từ nơi này đến nơi khác, từ lúc này
đến lúc khác. Khổng Tử thường dạy học trò “cũng như dòng nước chảy mọi
vật trôi đi không có vật gì ngừng nghỉ”(4) (Luận Ngữ, Tư Hãn), hoặc “trời có
nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành, vạn vật cứ sinh hoá mãi” (Luận ngữ,
Dương hoá).
Quan diểm về vấn đề này biểu hiện một cách rõ ràng đầy đủ bao quát

phục tùng mệnh trời ”không có việc gì xẩy ra mà không do mệnh trời, người
ta phải thuận theo mà nhận lấy số mệnh chính đáng ấy”(Mạnh Tử, Tận Tâm
Thượng)***.
Không những thế với chủ nghĩa duy tâm thần bí Mạnh Tử còn cho rằng
vũ trụ vạn vật đều tồn tại trong ý nghĩ của con người: ”thành là đạo của trời và
suy nghĩ sao cho thành là đạo của người”(5). Sự thành “là hợp với đạo” khi
thành thì vạn vật đều ở trong ta” (Mạnh Tử, Tận Tâm Thượng)***. Bên cạnh
đó, Mạnh Tử còn xuyên tạc tính duy vật thô sơ của học thuyết Ngũ Hành gán
lắp nó vào thuyết đạo đức của mình và thần bí hoá nó: Thần Mộc là Nhân,
Thần Kim là Nghĩa, Thần Hoả là Lễ, Thần Thuỷ là Trí, Thần Thổ là Tín. Bốn
đức Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí do Tâm (Tín) mà ra, cho nên Thần Thổ ở giữa và có
mặt khắp nơi.
Cũng mong muốn kế thừa và phát triển Nho Gia, Tuân Tử một trong
những học trò xuất sắc của Khổng Tử sống vào cuối thời Chiến quốc, trong
quan niệm về thế giới lập trường cơ bản của Tuân Tử là chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa vô thần. So với triết học Khổng Tử, triết học của Tuân Tử là một
bước phát triển ở trình độ cao hơn. Trái với học thuyết ”thiên mệnh” của
Khổng Tử, “thiên chí” của Mặc Gia coi trời là một lực lượng thiên nhiên tối
cao, chi phối vạn vật và con người, Tuân Tử khẳng định rằng toàn bộ thế giới
có ba bộ phận: Trời-Đất-Người (Thiên-Địa-Nhân)”, trời có bốn mùa, đất có
sản vật, người có văn trị”, mỗi lĩnh vực có quy luật vận động và chức năng
riêng của nó. Sự vận dộng của trời của giới tự nhiên tồn tại một cách khách
quan không phụ thuộc vào xã hội và con người, xã hội dù tốt, dù xấu cũng
không cảm động được giới tự nhiên. Ông nói: ”trời vận hành theo luật lệ sẵn
11

có không vì vua Nghiêu mà còn, không vì vua Kiệt mà mất”,*** hoặc “không
phải người ta ghét giá lạnh mà trời bỏ mùa đông, không phải người ta ngại xa
xôi mà đất rút hẹp bề mặt lại”.*** Do đó thuyết ”thiên nhân cảm ứng” là hư
cấu.

con người kính trọng nhưng chẳng gần gũi làm gì để gây thành những mối mê
tín hại cho việc nhân nghĩa. Cho nên Khổng Tử khuyên ”vụ dân chi nghĩa,
kính quỷ thần nhi viễn chi” (vụ lấy việc nghĩa của người, còn quỷ thần thì
kính mà xa ra)***. Như vậy lập trường của ông trong vấn đề này là mâu
thuẫn, ông muốn gạt bỏ mà không gạt bỏ nổi quan điểm thần học từ thời Ân -
Chu. Quan điểm này của Khổng Tử được Mạnh Tử hệ thống hoá thành khía
cạnh duy tâm trong triết học Nho Gia . Riêng đối với Tuân Tử, vì ông luôn
phủ nhận sự can thiệp của “thiên mệnh” vaò đời sống con người và đời sống
xã hội, cho nên tư tưởng vô thần của ông rõ ràng nhất quán hơn. Ông cho rằng
do tâm lý sợ hãi của con người mà sinh ra quỷ thần, không những thế quan
niệm tôn giáo thần bí là không có cơ sở.
1.2.2 Nhận thức luận.
Con người có nhận thức được thế giới hay không?, Tri thức bắt nguồn từ
đâu?, là những câu hỏi được các nhà triết học rất quan tâm giải quyết. Trong
chừng mực có thể bằng khả năng, lập trường kinh nghiệm, các nhà triết học
thuộc trường học Nho Gia, nhất là Khổng Tử tổng kết và đề ra được nhiều quy
luật nhận thức có giá trị.
Trong thuyết “chính dạnh”, Khổng Tử lấy ”danh” định “thực” (Luận
Ngữ, Tử Lộ) [7***] đã đề cập đến bản thân nhận thức luận. Nhưng đáng tiếc
Khổng Tử đã đảo lộn quan hệ ”danh” và “thực” coi ”danh” có trước quyết
định”thực”. Về sau Mặc Tử, Tuân Tử đã đảo lộn lại mới phù hợp với quy luật
nhận thức của con người.
Về tri thức Khổng Tử cũng như các nhà thời Tiên Tần đều nhấn mạnh
tri thức bắt nguồn từ học tập, mặc dù ông từng nói ”sống rồi sẽ hiểu”. Khi bàn
về tri thức Khổng Tử cho rằng trời đất vạn vật rất phức tạp nhưng có thể tìm
ra điều lý, thì có thể hiểu được sự khác nhau của vạn vật, thí dụ chữ “Nhân”
13

bao hàm cả phép làm vua, làm cha, làm tôi và làm con. Đấy là cái phức tạp
tìm ra cái đơn giản, trong cái khó tìm ra cái dễ. Do đó Khổng Tử yêu cầu con

bất khả tri luận, tiên nghiệm luận đương thời. Tuy nhiên, trong lý luận nhận
thức của Tuân Tử cũng đã mắc phải một số hạn chế như phóng đại vai trò, tác
dụng hoạt động của tâm, coi tâm là chủ thể của ý thức, là cái cao hơn hết có
thể điều khiển ngũ quan bất thể, nên nhận thức luận của ông nghiêng về chủ
nghĩa duy tâm
1.2.3. Quan điểm giáo dục của Nho Gia
Một quan điểm quan trọng trong lĩnh vực nhận thức của Nho Gia không
thể không nói đến đó là những đóng góp trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là
Khổng Tử. Khổng Tử cho rằng ý nghĩa của giáo dục là cải tạo nhân tính. Ông
ít nói đến nhân tính thiện ác, nhưng rất coi trọng hiệu quả giáo dục đối với
thiện ác. Muốn dẫn nhân loại đến chỗ tính gần nhau, tức là bản nhiên, thì phải
giáo dục. Giáo dục có thể hoá ác thành thiện. “Trung Dung” viết: “Giáo dục
là tu sửa đạo làm người”. “Đại học” viết: “Đạo của đại học là ở chỗ làm sáng
tạo đức sáng”, “Tu sửa đạo làm người”. Nhưng sự giáo dục và tự giáo dục của
Nho Gia không hướng vào phương diện kỹ nghệ và kinh tế mà hướng vào
chuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa được nêu gương
sáng trong cổ sử. Có thể kể ra đây những đóng góp lớn trong lĩnh vực giáo dục
của trường phái Nho Gia, nhất là Khổng Tử như tư tưởng: ”Tiên phú hậu
giáo”; mục đích giáo dục là ứng dụng có ích với đời, với xã hội chứ không để
làm quan và hưởng bổng lộc; học là để có nhân cách và học để tìm tòi chân lý,
hoặc Khổng Tử đã đề xuất được tư tưởng trong giáo dục gần như vĩnh cữu
“hữu giáo vô loài”(giáo dục không chia hạng người). Với luận điểm này
Khổng Tử được lịch sử Trung Quốc đánh giá ông là người mở ra một cục diện
mới trong lịch sử Trung Quốc, đó là cục diên khanh tướng áo vải, và ông được
xem là nhà mô phạm đầu tiên của giáo dục “hữu sinh thả cách”. Không dừng
lại ở đó, khi bàn về phương pháp giáo dục, Khổng Tử cũng có những tư tưởng
rất quan trọng. Ông viết rằng: “học nhi thời tập chi” (học để mà hành), ”học dĩ
trí dũng”(???).*** Phương pháp đào tạo một người hiền tài Khổng Tử cho
15


Trên cơ sở những gì trực tiếp quan sát được, Khổng Tử và các đồ đệ của
ông muốn xây dựng một học thuyết để giúp vua lập lại kỉ cương duy trì sự ổn
định trong xã hội. Và để giải quyết các vấn đề xã hội, Nho Gia không xuất
phát từ việc phân tích cơ sở kinh tế xã hội, mà Nho Gia quy toàn bộ quan hệ
xã hội về những quan hệ chính trị- đạo đức, coi đó là quan hệ nền tảng của xã
hội. Trong các mối quan hệ xã hội triết học Nho Gia xác định năm mối quan
hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ gọi là ngũ luân
gồm các quan hệ: Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bè-bạn (quân thần, phụ
tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu) (Trung Dung). Mỗi quan hệ lại có những
tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng như cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan,
chồng biết tình nghĩa vợ nghe lẽ phải, bề trên từ hiếu bề dưới kính thuận, vua
nhân từ tôi trung. Trong “ngũ luân” có ba mối quan hệ cơ bản nhất Nho Gia
gọi “tam cương” là “quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vị thê cương”
(quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ). Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc
gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ gia đình. Điều này nói lên rằng trong
quan hệ xã hội của Nho Gia đặc biệt quan tâm tới quan hệ nền tảng xã hội là
quan hệ gia đình. Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc dòng họ.
Theo các nhà triết học Nho Gia xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ có
giữ vững được ba quan hệ ấy hay không, và ba mối quan hệ trên được các nhà
triết học Nho Gia, đặc biệt là Khổng Tử đặt ra cho tiêu chuẩn riêng. Chẳng
hạn, trong quan hệ vua tôi Khổng Tử lên án việc chức tước duy trì theo kiểu
huyết thống, dòng dõi. Theo ông, người cầm quyền phải có đức tài không cần
tính đến xuất thân của họ. Một ông vua tốt là một ông vua phải đảm bảo cho
dân được no ấm, xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu, đặc biệt là phải chiếm
được lòng tin của dân. Ngoài ra ông vua đó phải trọng dụng người đức độ và
có năng lực làm việc. Trong quan hệ cha con, Khổng Tử nói đến chữ “hiếu”.
Ông không nhấn mạnh đến của cải do con cái giành cho cha mẹ mà nói đến
“tâm” để đánh giá lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Một người con có
hiếu không chỉ phụng dưỡng người sinh ra mình mà trước hết phải có lòng
thành kính. Đặc biệt quan hệ về hiếu của Khổng Tử, không phải là quan hệ

Khổng Tử nói:
18

- Chắc chắn phải chính danh trước!
Tử Lộ nói:
- Sao thầy viển vông thế. Chính danh để làm gì?
Khổng Tử nói:
- Anh này rõ thật quê mùa quá! Cái danh mà không chính thì lời nói
không thuận, lời nói không thuận thì sự việc không thành, việc không thành
thì không sao làm cho lễ nhạc phồn thịnh, lễ nhạc không phồn thịnh thì hình
phạt không đúng thì dân biết đặt chân tay vào đâu(9).
Đã mang cái danh vua thì phải làm tròn trách nhiệm của ông vua, nếu
không thì sẽ mất danh và sẽ mất luôn cả ngôi.
Như vậy để có một xã hội trật tự mọi người phải “chính danh”, còn nếu
không thì xã hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà
nguyên tắc chính danh bị vi phạm. Nhưng để thực hiện được “chính danh” thì
xã hội phải có một nền giáo dục tốt, mỗi người phải tự giáo dục và được giáo
dục, và có như vậy con người mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hành
động cho đúng trong cuộc sống.
Trong khi những kẻ nắm quyền thuộc giai cấp chủ nô quý tộc ban hành
hết sắc luật này đến sắc luật khác, thì Khổng Tử cũng như các đồ đệ của ông
cho rằng không nên lạm dụng luật pháp. Để ổn định trật tự xã hội, theo Khổng
Tử là phải thực hiện đường lối đức trị và nhân nghĩa. Đạo đức cũng là công
cụ để thực hiện “chính danh” và những chuẩn mực đạo đức mà Nho Gia đề
cao là: Nhân- Lễ Nghĩa -Trí -Tín (hay còn gọi là ngũ thường), và trong đó
nhân giữ vị trí là giá trị chính trị đạo đức đầu bảng của các giá trị. Lễ là hình
thức và chính danh là con đường đạt đến điều nhân. Giữ , lễ, trí, tín mà thiếu
lòng nhân thì những cái đó chỉ mang ý nghĩa hình thức mà thiếu cái thực. Cốt
lõi nhân là lòng yêu thương con người.
19

20

loài có tâm hồn, có trí tuệ. Xã hội loài người là cuộc sống xã hội và quan hệ
giữa con người và cuộc sống xã hội không giống như con người với cuộc sống
tự nhiên. Con người có “tính của con người”. Tính là trời phú cho là “gần
nhau”, nhưng cuộc sống bằng hoàn cảnh này, môi trường khác mà gây nên
những tập tục khác nhau. Do đó, “tập là xa nhau” và nhiều người không giữ
được tính trời đã mệnh nên phải “lập lại đạo người của người nói???*** nhân
nghĩa” (Trung Dung) và nhân nghĩa là hai yếu tố cơ bản quyết định lớn nhất
đạo làm người.
Tách riêng đức Nhân ra thì Khổng Tử, Mạnh Tử đều coi Nhân là đỉnh
cao chót vót của lâu đài đạo đức con người. Nhân theo quan điểm của Khổng
Tử là lòng yêu thương con người và theo Mạnh Tử “lòng trắc ẩn” hai quan
điểm đó nhất trí với nhau. Như vậy Nho Gia coi Nhân là đạo đức hoàn thiện
nhất bao gồm tinh tuý của tất cả các đức khác gắn với đạo đức chung, đức
Nhân thể hiện trong mối quan hệ giữa người và người(10). Trong bất kỳ mối
quan hệ nào nếu có sự hư hỏng về đức riêng thuộc mối quan hệ ấy, thì đồng
thời cũng là một tình trạng trái với đức Nhân. Chẳng hạn: bạn hữu không có
tín với nhau cũng trái với đức Nhân, không cung kính bề trên, không trung
thực với kẻ khác, không cương trực đều trái với đức Nhân. Đức hiếu là gốc
của đức Nhân cho nên bất hiếu là tội nặng nề nhất. Khi nói đến đức Nhân là
đỉnh cao chót vót của trường phái Nho Gia, thì mặt khác ta thấy đức Nhân gần
gũi với con người hơn, gần với bản chất tự nhiên của con người hơn. Khổng
Tử nói: “Nhân có xa xôi gì đâu, ta muốn Nhân thế là Nhân tới”. Đương nhiên,
hiếm có Nhân, có nghĩa là ”không thể là Nhân”, còn “gần với Nhân” cũng có
nghĩa là “chưa phải là Nhân””***. Người muốn có Nhân là phải ham học.
Ham Nhân mà không ham học, cái hại che lấp cái Nhân là ngu. Cho nên Nhân
hay đi đôi với Trí và Dũng ở những con người có chí khí cao, sự nghiệp lớn.
Để đạt được điều Nhân, Khổng Tử chủ trương dùng Lễ nhà Chu duy trì
đẳng cấp trên dưới, tôn ti. Khái quát quan điểm Lễ của Khổng Tử - Mạnh Tử

Hoàng còn thi hành những chính sách phản nhân đạo, phản văn hoá như vơ
22

vét của cải và khai thác một cách khánh kiệt sức lực của nhân dân để xây dựng
những công trình lớn như Vạn Lý Trường Thành, cung A Phòng và chính sách
tàn khốc nhất của Tần Thuỷ Hoàng trên lĩnh vực tư tưởng là giết nhà Nho và
đốt sách (chôn sống 460 nhà Nho ở Hàm dương) (12). Với chính sách phản
nhân đạo như vậy, lại không chăm lo phát triển kinh tế xã hội nhà Tần đã đẩy
xã hội vào tình trạng rối ren, các cuộc khởi nghĩa chống lại thể chế nhà Tần
của nông dân đã liên tiếp nổ ra. Trong đó có hai phong trào nổi bật nhất của
Lưu Bang và Hán Võ, lật đổ nhà Tần năm 206 tcn dựng nên nhà Hán kéo dài
từ 206 tcn đến 220 scn, chia làm hai thời kỳ: Tây Hán 206 scn???*** đến 25
scn, Đông Hán 25 scn đến 220 scn.
Thời kỳ Lưỡng Hán là thời kỳ lịch sử có nhiều biến động chính trị xã
hội sâu sắc đặc biệt là sự sụp đổ của nhà Tần hình thành nên nhà Hán. Đây là
thời kỳ nhờ những cuộc cải cách xã hội, mà kinh tế - xã hội, nền khoa học kỹ
thuật và văn hoá so với đời Tần có bước phát triển với những thành tựu đáng
kể.
Với những đặc điểm lịch sử - xã hội của thời Lưỡng Hán, đặc biệt là với
sự chuyển biến về mặt chính trị, trực tiếp nhất là nhu cầu hình thành một hệ tư
tưởng chính trị phục vụ giai cấp thống trị đương thời, mà bài học nhãn tiền
của nhà Tần còn nóng hổi, trên cơ sở đó các học thuyết triết học ra đời phát
triển, thời kỳ này xuất hiện nhiều trường phái triết học, nhiều nhà tư tưởng lớn
nhưng trong đó triết học duy tâm thần học của Đổng Trọng Thư là nổi bật
nhất.
Đổng Trọng Thư (179 tcn đến 104 tcn), ông được đánh giá là một nhà
tư tưởng lớn, người học rộng biết nhiều, đam mê chính trị. Đổng Trọng Thư
ba lần dâng đối sách cho Hán Vũ Đế. Nếu như đế chế nhà Tần là đế chế hùng
mạnh trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần tồn tại 15 năm (221- 206 tcn), thì
nhà Hán kế tục nhà Tần duy trì tồn tại của mình hơn bốn thế kỷ. Sự tồn tại

kinh Xuân Thu của Khổng Tử thành bộ thánh kinh Nho Giáo .
24

Đổng Trọng Thư cho rằng tính con người tuy thiện nhưng không phải
hoàn toàn thiện, vì vậy cần có ông vua ở địa vị thật cao và quyền hành tuyệt
đối để sửa trị, và ông vua đó có ba nhiệm vụ chính: Thừa thiên ý: trên là thừa
mệnh trời. Minh giáo hoá: dưới phải giáo dục cho dân. Chính pháp độ: giữ cho
pháp luật ngay thẳng.
Có thể nói rằng Đổng Trọng Thư đã kết hợp thành công Nho Gia với
Pháp Gia cộng thần học để đi đến một đường lối cai trị nhất nhất phỏng theo
đạo trời.
Trên cơ sở hệ thống hoá quan điểm của Khổng Tử, Mạnh Tử , Tuân Tử
về mối quan hệ xã hội và phẩm chất của con người, Đổng Trọng Thư đã xây
dựng một hệ thống các phạm trù: ”Ngũ luân”, ”Tam cương”, ”Ngũ thường” để
quản lí xã hội và giáo hoá con người, Đổng Trọng Thư gọi đó là hệ thống quy
phạm đạo đức.
Ngũ luân là năm mối quan hệ cơ bản giữa người trong xã hội: vua tôi,
chồng vợ, cha con, anh em, bạn bè (quân thần, phu thê, phu tư, huynh đệ, bằng
hữu). Mối quan hệ vua tôi được đặc trưng bằng chữ ”Trung”. Mối quan hệ cha
con được đặc trưng bằng chữ “Hiếu”. Mối quan hệ vợ chồng được đặc trưng
bằng chữ “Tiết”, cùng nhiều quy định nghiêm nghặt đối với người vợ như
“Tam tòng”, ”Tứ đức” Mối quan hệ anh em được đặc trưng bằng chữ “Đệ”.
Mối quan hệ bè bạn được đặc trưng bằng chữ ”Thành”, ”Tín”.
Những mối quan hệ này trước đây đã được Khổng Tử, Mạnh Tử đề cập
và nó có nghĩa vụ hai chiều, có điều kiện, chiều nào cũng có nghĩa vụ cả.
Khổng Tử nói: ”Cha thì nhân từ con thì có hiếu”. Thế nhưng đến Đổng Trọng
Thư , để phục vụ cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền ông đã tước bỏ
tính chất nhân đạo và tiến bộ đó, đưa vào quan hệ một chiều khắc nghiệt,
người dưới phải có nghĩa vụ phục tùng tuyệt đối yêu cầu của người trên. Sự
tuyệt đối hoá quan hệ một chiều đã tạo ra sự tuỳ tiện của kẻ trên và tạo nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status