Lê Đại Hành
Lê Đại Hành (941 – 1005) là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005.
Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp lớn
trong chống giặc Tống phương Bắc, giặc Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền
độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến
tạo đất nước Đại Cồ Việt. Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau
đó Lý Công Uẩn có đủ khả năng dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ra một
kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, thủ đô hiện tại của Việt
Nam. Xung quanh vị Hoàng đế này còn nhiều điều chưa được sáng tỏ như vấn đề thân
thế, sự nghiệp và thụy hiệu
Thân thế
Phong cảnh đền vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Đại Hành tên húy là Lê Hoàn (黎黎), sinh ngày 15 tháng
7 năm Tân Sửu, tức ngày 10 tháng 8 năm 941. Ông xuất thân trong một gia đình nghèo,
cha là Lê Mịch, mẹ là Đặng Thị Sen. Các sử có nhiều ý kiến khác nhau về quê hương của
Lê Hoàn là: Hà Nam, Thanh Hóa, Ninh Bình
[1]
Việt sử lược viết từ thời Trần ghi là: “Đại Hành vương húy là Hoàn, họ Lê, người
Trường Châu”. Trường Châu là vùng đất kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình.
[2]
Đại Việt sử ký toàn thư soạn ở thế kỷ 15 lại ghi là: “Lê Đại Hành Hoàng đế họ Lê, tên
húy là Hoàn, người Ái Châu”. Ái Châu là Thanh Hóa ngày nay.
Đại Việt sử ký tiền biên do Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780) ghi: “Xét thấy Lê Đại Hành Hoàng
đế người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm chứ không phải Ái Châu, sử cũ chép nhầm”.
Cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ghi là: “Lê Hoàn quê ở làng Bảo Thái, huyện
Thanh Liêm, nay là làng Ninh Thái, tỉnh Nam Hà” (Nam Hà về sau đã tách thành Nam
Định và Hà Nam). Nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng Lê Hoàn sinh ở Thanh Liêm,
Hà Nam
[3]
.
Các website chính thức của tỉnh Hà Nam và Thanh Hóa đều khẳng định Lê Hoàn là
Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống bên Trung Quốc có ý định cho quân tiến vào
đánh chiếm Đại Cồ Việt. Vua Tống nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt
phải quy phụ đầu hàng:" Nếu quy phục thì ta tha cho,bằng trái lệnh thì ta quyết đánh "
Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga cùng tướng Phạm Cự Lạng và các triều
thần tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn lên ngôi lấy niên hiệu là Thiên Phúc, quốc hiệu
vẫn là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Lê Đại Hành cử Phạm Cự Lạng (Lượng), em của
Phạm Hạp làm đại tướng quân.
Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân sang đánh Đại Cồ Việt, cử các tướng Hầu Nhân
Bảo, Trần Khâm Tộ, Tôn Toàn Hưng, Triệu Phụng Huân, Quách Quân Biện, Lưu Trừng,
Giả Thực, Vương Soạn cầm quân chia hai đường thủy bộ. Cánh bộ đi theo ngả Lạng Sơn
còn thủy thì tiến vào sông Bạch Đằng.
Tại sông Bạch Đằng, thủy quân Tống bị quân Đại Cồ Việt chặn đánh, những chiến
thuyền Tống cũng bị thủng bởi những chiếc cọc sông dày dặc cho dù rất mạnh về thế
trận. Vì thế quân Tống không thể tiến sâu vào nội địa được.
Thủy quân Tống thất bại. Tôn Toàn Hưng dừng quân hơn 70 ngày, chần chừ không dám
tiến. Hầu Nhân Bảo thì hiếu chiến hơn, thúc giục Tôn tướng tiến quân mà không được,
bèn tự đem quân tiến theo sông Thương. Khi quân Hầu Nhân Bảo kéo đến Chi Lăng, vua
Lê liền cho người dụ địch đi theo giả tham quan phong cảnh rồi phục binh đổ ra đánh dữ
dội. Số quân địch hơn phân nửa bị tiêu diệt.
Sau hai trận thắng lớn Trận Bạch Đằng, 981|Bạch Đằng, Tây Kết, quân Lê giết được Hầu
Nhân Bảo, bắt sống Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân. Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng,
Giả Thực, Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn cũng vội vàng rút chạy về nước.
Năm sau, Lê Đại Hành lại mang quân vào nam đánh Chiêm Thành (năm 982) vì trước đó
vua nước này bắt giữ sứ giả của Đại Cồ Việt, đại phá được quân Chiêm Thành, giết chết
vua Chiêm là Phê Mỹ Thuế.
Trị vì
Về các biến cố chính trị liên quan đến cái chết của Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, có các
nhà nghiên cứu, như Hoàng Đạo Thuý, đặt giả thiết không phải Đỗ Thích mà chính Lê
Hoàn, cấu kết với Dương Vân Nga, đã ám sát Đinh Tiên Hoàng và con trưởng để chiếm
ngôi (xem bài Đinh Tiên Hoàng).
7. Lê Long Tung làm Định Phiên vương, đóng ở Tư Doanh, Ngũ Huyện Giang,tỉnh
Thanh Hóa(phong năm 993).
8. Lê Long Tương làm Phó vương, đóng ở Đỗ Động Giang,tỉnh Hà Tây(phong năm
993).
9. Lê Long Kính làm Trung Quốc vương, đóng ở Càn Đà, Mạt Liên (phong năm
993, sau bị giết năm 1005).
10. Lê Long Mang làm Nam Quốc vương, đóng ở Vũ Lung (phong năm 994).
11. Lê Long Đề (Minh Đề) làm Hành Quân vương, đóng ở Bắc Ngạn, Cổ Lãm
(phong năm 995).
12. Con nuôi Dương Hy Liễn làm Phù Đái vương, đóng ở Phù Đái (phong năm 995).
Nhận định
Về tên "Đại Hành"
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, khi vua mới mất mà chưa được đặt thụy hiệu thì được gọi
là "Đại Hành Hoàng đế". Có sách giải thích "đại hành" là đi xa hẳn không trở lại. Có sách
giải thích "đại hành" là đức hạnh lớn (hành và hạnh viết cùng một chữ, âm cổ đọc như
nhau). Do vua nối ngôi là Lê Ngọa Triều đã không đặt thụy hiệu nên "Đại Hành Hoàng
đế" đã trở thành thụy hiệu của Lê Hoàn.
Sử gia Lê Văn Hưu viết:
Thiên tử và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là Đại
Hành Hoàng Đế, Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên thì hợp bầy tôi
bàn xem đức hạnh hay hay dỡ để đặt thụy là mỗ hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không
gọi là Đại Hành nữa. Lê Đại Hành thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu mà truyền đến
ngày nay là làm sao? Vì Ngọa Triều là con bất tiếu (không giống ông cha)
[9]
, lại
không có bề tôi Nho học để giúp đỡ bàn về phép đặt thụy cho nên thế.
Về vua Lê Đại Hành
Tướng cầm quân
Trong sử sách, các sử gia nhiều đời cùng có nhận định về Lê Đại Hành. Ca ngợi võ công
của ông, Lê Văn Hưu viết:
dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để
tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm
nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau,
con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó
sao?" Hoàng Xuân Hãn viết trong Hoàng Xuân Hãn tuyển tập: " việc này trái với khuôn
phép nhà nho. Các sử gia nho xưa đã trịnh trọng chỉ trích như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ
Khi đưa ra nhận định trên, các sử gia không hiểu rằng vào thế kỷ 10 đời Đinh, Tiền Lê
đạo Nho chưa có ảnh hưởng gì sâu vào dân Việt. Sau này, đến nửa đời Trần vẫn còn như
vậy. Dân chúng đã lập đền thờ các vua Đinh Lê trên nền tảng cung điện Hoa Lư mà
không quên bà Dương hậu, không những thế mà còn tự hợp hai vua tô tượng hai vua ngồi
chung một toà với Dương hậu ở giữa. Nhưng đến đầu đời Lê Thái Tổ cho là trái đạo mà
bỏ đi! Tuy vậy các nho gia phê bình cũng không ai trách bà mà chỉ trách Lê Hoàn".
Lê Đại Hành có tới 11 người con trai, tất cả đều được phong vương. Sau khi con trưởng
là Thâu mất (1000), vua Lê không sớm lập người kế vị. Điều đó đã gây ra việc tranh
giành quyền bính giữa các con của ông sau này, là một trong những nguyên nhân dẫn tới
sự sụp đổ của nhà Tiền Lê.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia