Tài liệu ĐỀ ÁN: " Thúc đẩy đầu tư vào các khu công nghiệp ở Hà Nội" - Pdf 95

ĐỀ ÁN: " Thúc đẩy đầu tư vào các khu công
nghiệp ở Hà Nội"
LỜI MỞ ĐẦU

CNH - HĐH đất nước là xu hướng tất yếu của nước ta trong quá trình
phát triển từ nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị
trường. Hòa nhập với xu hướng chung đó Hà Nội cũng đang từng bước cải thiện
mình trong công cuộc đổi mới. Nhân dân Hà Nội đang nỗ lực lao động và dạt
được những thành tựu trên mọi lĩnh vực. Nền kinh tế ngày càng phát triển, tốc
độ tăng GDP trung bình hàng năm giai đoạn 2001-2000 là 11,6%, hai năm 2001-
2002 là 10,2% đời sống dân cư được cải thiện, thu nhập đầu người tăng 3,2 lần
so với năm 1990.
Để đạt được những thành công đó là do trong những năm qua ban lãnh

Vũ Thị Phương Thảo
PHẦN I. KHU CÔNG NGHIỆP VÀ ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP

I.1. Quan niệm về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp
I.1.1. Quan niệm
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp. Khu công nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định không có dân cư sinh sống, do Chính phủ
hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể
có doanh nghiệp chế xuất và khu công nghệ cao.
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong khu công nghiệp, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch
vụ.
Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hàng
công nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp.
Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động trong khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh (trừ trường hợp có quy định riêng
cho từng loại ban quản lý) là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công nghiệp, khu
chế xuất trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương hoặc ban quản lý trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một khu
công nghiệp (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ cao do Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Doanh nghiệp khu công nghiệp có nghĩa vụ:
- Tuân thủ pháp luật, điều lệ quản lý khu công nghiệp, quyết định chấp
thuận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Đăng ký với Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh: số lượng, khối
lượng sản phẩm xuất khẩu và tiêu thụ từ thị trường trong nước (đối với doanh
nghiệp khu công nghiệp), số lượng phế phẩm, phế liệu còn giá trị thương mại từ

e Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng, cần tách riêng 2 nhóm khu
công nghiệp đã hoàn thành và chưa hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công
trình bảo vệ môi trường như hệ thống thông tin, giao thông nội khu, các công
trình cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, nước thải, các nhà máy xử lý nước
thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
f Theo tình trạng cho thuê, có thể chia số khu công nghiệp thành ba
nhóm có diện tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.
(Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạm thời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ
tất cả các công trình và cho thuê hết diện tích thì 2 tiêu thức đó không cần sử
dụng nữa).
g Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ. Các
chỉ tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp,
tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các khu công
nghiệp lớn được thành lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu
công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành
phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp
vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả.
h Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt
- Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
- Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp
mũi nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v
làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội dài hạn.
i Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong
nước.
- Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư
trong nước và nước ngoài.
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn
đầu tư nước ngoài.

I.2 . Những điều kiện cần thiết thúc đẩy đầu tư vào khu công nghiệp
I.2.1. Công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch là một khâu rất quan trọng để định hướng cho các khu
công nghiệp phát triển và mở rộng. Công tác quy hoạch KCN phải nằm trong
quy hoạch tổng thể của thành phố. Theo chủ trương của thành phố hiện nay, Hà
nội sẽ phát triển công nghiệp theo định hướng, gắn kết các tỉnh xung quanh để
không xảy ra tình trạng các KCN hiện đang và sẽ xây dựng sau 10- 20 năm nữa
lại nằm trong nội thành( vì khi đó đô thị đã được mở rộng). Do đó , dừng việc
xây dựng các KCN chắn chắn trong tương lai sẽ nằm trong nội thành. Đồng thời
xây dựng đồngbộ hạ tầng và khuyến khích đầu tư lấp đầy các KCN mới xa
trungtâm thành phố. Xây dựng trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
chung cho các KCN của hà nội và các tỉnh xung quanh. Thời kì 2001- 2005 xây
dựng 5- 7 KCN vừa và nhỏ, thời kỳ 2001 -2010 xây dựng 10 KCN vừa và nhỏ.
Cải tạo và phát triển cáckhu vực tập trung công nghiệp hiện có để đảm bảo phát
triển các ngành công nghiệp sạch, không gây ô nhiễm, giải quyết nhiều việc làm
và sửdụng công nghệ cao. Chuyển hướng sản xuất và có kế hoạch di chuyển các
doanh nghiệp gây ô nhiễm đến khu vực ít dân cư; đầu tư chiều sâu và mở rộng
các KCN cũ ở ngoại thành còn khả năng về quỹ đất và phù hợp với quy hoạch
chung, chuyển giao một số cơ sở công nghiệp không phù hợp với điều kiện của
thủ đô sang địa phương khác
Thêm vào đó, quy mô đất đai phải đủ lớn từ 50 đến hàng ngàn ha ( Trong
giai đoạn đầu chủ yếu khuyến khíc phát triển các loại KCN sử dụng tài nguyên
thiên nhiên dự trữ nhằmbiến tài nguyên thành tưbản, hạn chế cácloại hình đầu tư
gây ô nhiễmmôi trường nên có những KCN quy mô phát triển chưađến 50 ha)
I.2.2. Chính sách khuyến khích
Các chính sách và cơ chế khuyến khích chính là một trong những nguyên nhân
để thu hút được nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các Khu
công nghiệp. Cơ chế chính sách phải thật sự thông thoáng và có cơ chế ưu đãi
thì mới có khả năng thu hút được nhiều nhà đầu tư. Hà nội đang xây dựng một
số cơ chế ưu đãi đầu tư, như sau:

đựoc xem xét phê duyệt cấp giấy phép đầu tư, sau khi đã xin ý kiếncác Bộ
chuyên ngành và trình UBND thành phố phê chuẩn)
 Nội dung thẩm định
- Rút ngắn quy trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài từ 22 nội dung
xem xét đánh giá xuống còn 5 nội dung cơ bản: tư cách pháp lý, năng lực
tài chính của chủ đâu tư, mức độ phù hợp của dự án với quy hoạch ; lợi
ích kinh tế- xã hội ; trình độ khoa học và công nghệ; tính hợp lý của việc
sử dụng đất
 Một số chi phí đầu tư ở Hà nôi
- tiền thuê đất : vùng nội đô thị ( 1-12 USD/m
2
/ năm) ; ngoại ô ( 0,35- 7,2
USD/ m
2
/ năm ); xa trung tâm thị trấn, thị xã ( 0,03- 1,08 USD/ m
2
/ năm )
- giá điện : sản xuất công nghiệp( 0,075 – 0,092 USD/kWh);dịch vụ ( 0,098
– 0,15 USD/kWh)
- tiền nước: sản xuất côngnghiệp ( 0,2 USD/ m
3
); dịch vụ ( 0,43 USD/ m
3
)
- thuê nhà xưởng( trong KCN: 5-8 USD/m2/tháng);lao động lành nghề : 85-
170 USD/ tháng; quản lý 150- 250 USD/ tháng)

I.2.3. Hoạt động xúc tiến đầu tư
Đi đôi với các cơ chế khuyến khích đầu tư, các khu công nghiệp đòi hỏi
cũng phải đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, tích cực quảng bá và tìm

thành phẩm ) cho công nghiệp trong KCN
- Sẵn có tiện nghi đầy đủ về ăn,ở ( khách sạn), giải trí và giáo dục
PHẦN II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

II.1. Đặc điểm của các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Hiện nay hà nội có 5 khu công nghiệp với tổng diện tóch đất quy hoạch là
788 ha, trong đó diện tích đất xây dựng công nghiệp là 597 ha. Đãcó 250/597 ha
đãhoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I, thu hút được 34 dự án đầu tư
với tổng số vốn là 345 triệu USD
c Khu công nghiệp Sài Đồng B
Khu công nghiệp Sài Đồng B được cấp giáy phép từ 1992 chủ đầu tư là Công ty
điện tử Hanel, Hà nội . Tổng diện tích 97 ha, trong đó đất khu công nghiệp là 79
ha và còn lại là khu dân phục vụ cho KCN
- Giá thuê đất có hạ tầng: từ 50-60USD/m
2
/năm.
- Phí quản lý hạ tầng: từ 0,55-0,8 USD/m
2
/năm.
- Phương thức thanh toán: từ 2-4 lần/50 năm.
- Đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 48,57 ha.
- Đã cho thuê: 48,58 ha (100%), đã có 19 doanh nghiệp vào KCN với
tổng số vốn đầu tư là 299.223.320 USD và 6,5 tỷ VNĐ
Các ngành sau đây được khuyến khích đầu tư vào KCN này
- Thiết bị và dụng cụ chính xác, điện tử
- Dụng cụ quang học
- Điện gia dụng
- Thiết bị thông tin liên lạc
- Thiết bị dụng cụ y tế,dụng cụ thí nghiệm

- Đất đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 84,7 ha
- Đã cho thuê: 33 ha (38%) ,đã có 6 doanh nghiệp đầu tư vào KCN, tổng
số vốn là 123.350.000 USD
f Khu công nghiệp Hà nội - Đài Tư
Khu công nghiệp Hà nội - Đài Tư đựoc cấp giýa phép đầu tư ngày 23/08/
1995. Đây là dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài của Đài Loan với tổng diện
tích là 40 ha.
- Hình thức đầu tư: 100% vốn nước ngoài.
- Giá thuê đất có hạ tầng: từ 60- 65 USD/m
2
/năm
- Phí quản lý hạ tầng: từ 0,5- 0,8 USD/m
2
/năm.
- Phương thức thanh toán: 1 lần / 50 năm.
- Đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 32 ha.
- Đã cho thuê: 5 ha (15%),đã có 4 doanh nghiệp đầu tư vào KCN, tổng số
vốnlà 6.210.000 USD
g Khu công nghiệp Daewoo - Hanel (Khu công nghiệp Sài Đồng A).
Khu công nghiệp Daewoo – Hanel được cấp giáy phép ngày 17/06/ 1996.
Đây là KCN liên doanh giữacông ty điện tử Hanel và tập đoàn Deawoo , Hàn
quốc. Tổng diện tích sử dụng là 407 ha
- Đất đã xây dựng khu công nghiệp: 197 ha.
- Chưa triển khai giải phóng mặt bằng do đối tác nước ngoài gặp khó khăn
về vốn.
Bảng 1: Các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội
KCN
Năm
thành
lập

FDI
6 50,74
3. KCN Hà
Nội - Đài Tư
1995 Gia Lâm Đài Loan 121/84
,7
- 4 6,21
4. KCN
Daewoo-
Hanel
1997 Gia Lâm Hàn
Quốc –
Việt Nam
407/19
7
-
5. KCN
Thăng Long
1996 Đông
Anh
Nhật Bản
– Việt
Nam
121/84
,7
SP điện, điện tử,
viễn thông và tiêu
dùng
6 123,35
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội

12/2003 là 59 dự án (54 dự án có đầu tư nước ngoài và 5 dự án có vốn đầu tư
trong nước). Trong đó:
- 31 dự án đã đi vào sản xuất tháng đầu năm 2003.
- 16 dự án đang triển khai.
- 12 dự án chưa triển khai.
Các khu (cụm) công nghiệp đã có 22 doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Doanh thu từ các doanh nghiệp trong KCN tập trung trong năm 2003 đạt
22,9 triệu USD
- Nộp thuế ước đạt 8,5 triệu USD
Một số doanh nghiệp vẫn duy trì sản xuất ổn định và tăng trưởng khá so
với năm 2002 đó là: Công ty Cannon Việt Nam (gấp 59 lần), Công ty Sumi
Hanel (+28%), Daewoo Hanel (+7%), Orion Hà Nội kim loại (+5%)
Bên cạnh đó cũng có một vài doanh nghiệp có biểu hiện chững lại do thu
hẹp về thị trường tiêu thụ và mặt hàng sản xuất như: Công ty TNHH đèn hình
Orion Hanel (-22%), sản phẩm thép Việt Nam (-11%)
Trong năm 2003, Ban quản lý KCN - KCX Hà Nội đã phê duyệt 177 giấy
phép nhập khẩu với trị giá 417.914.150 USD. Trong đó:
- Tổng giá trị xuất khẩu: 166.461.312 USD (tăng 138% so với năm
2002).
- Tổng giá trị nhập khẩu: 216.743.668 USD (tăng 127% so với năm
2002).
Cùng với việc mở rộng và phát triển cả về quy mô, vốn đầu tư, các KCN
trên địa bàn thành phố đã tạo việc làm mới cho 11.833 người (tăng 85,18% so
với năm 2002). Trong đó, lao động trong nước là 11.593 người (tăng 89% so với
năm 2002); lao động nước ngoài có 240 người tăng (25% so với năm 2002).
Đến nay Ban quản lý đã ra quyết định thừa nhận nội quy lao động cho 16
doanh nghiệp, đang hướng dẫn và chuẩn bị ra quyết định cho 6 Công ty về nội
quy lao động; 5 doanh nghiệp đã có quyết định thừa nhận thỏa ước lao động tập
thể. Trong các KCN đã có 15 công đoàn cơ sở với tổng số 7.142 đoàn viên.
Trong những năm tới bên cạnh việc tăng cường công tác xúc tiến đầu tư

3 Chế biến rác thành VLXD VLXD 37 100.000
4 Chế biến rác thành điện năng Điện 28 12.000
5 Sản xuất phụ tùng ôtô Phụ tùng ô tô 30 20.000
6 Sản xuất lốp ô tô,xe máy lốp ô tô, 30 20000
7 Sản xuất linh kiện xe máy sử
dụng công nghệ cao
Phụ tùng xe máy 40
8 Sản xuất lắp ráp máy tính Máy tính các loại 12 15.000
9 Sản xuất máy ảnh điện tử Máy ảnh kỹ thuật
số
15 15.000
10 Sản xuất thiết bị xử lý chất thải Thiết bị xử lý chất
thải
20 20.000
11 Xử lý rácthải công nghiệp Rác công nghiệp 50 40.000
12 Sản xuất lắp ráp máy thi công
xây dựng
Máy thi công xây
dựng
15 30.000
13 Sản xuất lắp ráp ôtô chuyên
dùng
Xe chuyên dụng
cho các ngành
30 35.000
14 Sản xuất thiết bị y tế Thiết bị y tế 12 20.000
15 Sản xuất vác xin công nghệ
gien
Vắc xin 3 5.000
16 Trung tâm nghiên cứu công


b. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Một số KCN đi vào hoạt động đã mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là
KCN Sài Đồng B, trong đó có 5 doanh nghiệp liên doanh với Hanel đạt 240
triệu USD, còn 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% của nước ngoài. Hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu CN đã đóng góp thiết thực
làm tăng tỷ trọng CN trong GDP của thành phố. Công nghiệp Hà nội chiếm 10%
GDP của cả nước và 32% GDP của Hà Nôi. Khu CN đã thực sự là nơi tiếp cận
công nghiệp hiện đại, phương pháp tổ chức quản lý tiên tiến và cơ sở hạ tầng
hoàn chỉnh, là yếu tố quan trọng vừa thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế, vừa nâng
cao sức cạnh tranh của CN Hà Nội. Theo thống kê mới nhất từ ban quản lý KCN
& CX Hà Nội đến nay đã xét duyệt 30 giấy phép nhập khẩu, 40 giấy chứng nhận
xuất khẩu, đưa tổng giá trị xuất khẩu ủca doanh nghiệp đạt 155.021.590 USD,
giá trị nhập khẩu 202.126.752 USD. Các mặt hàng xuất khẩu như đèn hình màu,
sáng điện tử, ti vi màu, tủ lạnh, biến áp, dây dẫn cho ô tô, ba lô, túi sách. Các
mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, vật tư xây dựng cơ bản, nguyên vật
liệu phục vụ sản xuất v.v
c. Về tình hình đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng cho doanh nghiệp.
Hiện nay, việc xây dựng cơ sở hạ tầng của cả 5 khu công nghiệp trên địa
bàn Hà Nội đều do Công ty phát triển cơ sở hạ tàng KCN thực hiện. Việc huy
động vốn của các Công ty này tùy thuộc vào từng KCN. Có thể là liên doanh với
các nhà đầu tư nước ngoài như các KCN Nội Bài, Daewoo - Hanel, Thăng Long,
cũng có thể là 100% vốn của nước ngoài như KCN Hà Nội - Đài Tư. Cho đến
nay chỉ có Công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN Sài Đồng B hoạt động tương
đối hiệu quả với hình thức huy động nguồn vốn hoàn toàn trong nước. Do hạn
chế về nguồn vốn nên phương châm của Công ty là thực hiện xây dựng theo
hình thức “cuốn chiếu”, vừa xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa cho thực tế lấy vốn tái
đầu tư tiếp. Với phương châm nà, Công ty đã thu được kết quả khá khả quan.
Trong khi đó 4 KCN còn lại đều có sự tham gia góp vốn của phía nước ngoài
nhưng kết quả lại ít khả quan hơn với nhiều lý do có cơ sở hạ tầng tương đối tối

còn thâm nhập vào một số thị trường khó tính như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.
Với 14 trong tổng số 3361 doanh nghiệp của cả Hà Nội nhưng kim ngạch xuất
nhập khẩu của nó không ngừng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao. Năm 1998, kim
ngạch xuất khẩu là 93,9 triệu USD (chiếm 30,6%) thì năm 1999 đạt 107,5 triệu
USD (chiếm 35,7%) và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2000 đạt 165,4 triệu USD
chiếm (35,7%).
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn, giải quyết việc
làm cho người lao động. Do hầu hết các khu công nghiệp đều nằm ở khu vực
ngoại thành nên nó không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở khu vực
này, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người lao động mà còn phá vỡ
tính khép kín của làng, xã, nâng cao trình độ dân trí cho người dân ở địa phương
và làm giảm bớt được sự cách biệt với các khu vực khác. Ngoài ra các khu công
nghiệp tại Hà Nội đã tạo ra khoảng 3.800 chỗ làm việc trực tiếp và hàng chục
ngàn việc làm gián tiếp khác.
- Hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn, tăng cường hoạt động chuyển
giao công nghệ góp phần thực hiện CNH - HĐH thủ đô. Các nhóm ngành hàng
phải kể đến là các nhóm mặt hàng cao cấp, bao gồm đèn hình màu, súng điện tử,
ti vi màu, tủ lạnh, máy ảnh, máy trắc địa Nhóm hàng phục vụ dân dụng gồm
ba lô, túi sách, sản phẩm sơn mài và nhóm hàng thay thế nhập khẩu bao gồm
bao bì các tông phục vụ cho đóng gói xuất khẩu.
- Đã có nhiều dự án xin mở rộng quy mô sản xuất như công ty Orvon -
Hanel, Zamil Steel, Daewoo - Hanel và Công ty công nghiệp Tân Á.
- Ngoài ra, các khu công nghiệp ở Hà Nội còn tạo lập được một số cơ sở
hạ tầng hiện đại, tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa, phát triển kinh tế vùng,
đóng góp cho phát triển chung của cả nước.
II.4. Những hạn chế về đầu tư vào các khu công nghiệp và nguyên nhân
II.4.1. Hạn chế
Cơ chế chính sách để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước còn nhiều
bất cập, thiếu đồng bộ và linh hoạt. Chính sách về giá thuê đất và các ưu đãi đầu
tư khác trong khu công nghiệp đang là bài toàn khó để vận dụng triển khai cụ

mặt bằng chậm trễ, làm cho thời gian xây dựng kéo dài. Các công trình kết cấu
hạ tầng gây thiệt hại cho chủ đầu tư phát triển hạ tầng và bỏ lỡ cơ hội thu hút
đầu tư.
Công tác tiếp thị vận động đầu tư chưa được chú trọng nên việc phát huy
tác dụng của khu công nghiệp còn hạn chế. Việc cung cấp lao động có tay nghề
còn thấp xa so với nhu cầu. Bên cạnh tình trạng thể chế thiếu đồng bộ điều đáng
chú ý hơn là việc thực hiện pháp luật chưa nghiêm, giữa ý tưởng của pháp luật
và việc thực thi pháp luật còn khoảng cách lớn.
Vậy nguyên nhân sâu xa của việc phát triển chậm trễ này là do đâu?
II.4.2. Một số nguyên nhân gây cản trở đầu tư vào các khu công nghiệp Hà Nội
Theo kết quả khảo sát mới đây của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu
chế xuất Hà Nội, có tới 68,7% doanh nghiệp được hỏi đều trả lời là đang gặp
phải nhiều khó khăn về mặt bằng sản xuất, kinh doanh.
Lý do các doanh nghiệp chưa tìm đến với các khu chế xuất để thuê lại đất
là do hầu hết các chủ doanh nghiệp dân doanh đều cho rằng việc thuê lại đất
trong các khu công nghiệp còn là điều xa xỉ đối với họ. Ngoài ra không phải các
doanh nghiệp không muốn vào các khu công nghiệp, nơi có đầy đủ các điều kiện
phát triển sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp không muốn lo đến chuyện đảm
bảo môi trường cho người dân sống xung quanh mà do qu mô sản xuất và doanh
nghiệp còn nhỏ, khả năng về tài chính còn hạn chế, nền đành tận dụng mặt bằng
sẵn có. Một trong những nguyên nhân nữa là các ưu đãi về giá thuê đất trong các
khu công nghiệp chưa đến được với doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, giá
thuê đất trong các khu công nghiệp do chủ đầu tư cơ sở hạ tầng và doanh nghiệp
xin thuê lại đất tự thỏa thuận trong hợp đồng. Điều này có nghĩa là, khi Nhà
nước giảm giá cho thuê đất trong khu công nghiệp thì người được hưởng đầu
tiên là chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp. Còn sau đó, việc
giảm hay không giá thuê lại đất cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp là
quyền của các chủ đầu tư.
Mọi vấn đề khác là việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn quá
chậm chạp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vai trò đặc biệt quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status