Tài liệu Tiểu luận "Phật giáo một hiện tượng tôn giáo và triết học của dân tộc" - Pdf 95


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA



Tiểu Luận

Phật giáo một hiện tượng tôn giáo
và triết học của dân tộc
thói quên thờ cúng thành hoàng . Người Việt Nam mang các tín
ngưỡng trên không khỏi ngỡ ngàng trước Phật giáo. Họ đã xa
lánh, thậm trí chê bai, đả kích.
2

2,Vào thời kỳ sau của sự truyền bá, lúc Phật giáo đã làm
quen với dân tộc nó vẫn còn liên tục bị sự mổ xẻ của một số
người. Người ta đã đặt nó trên bình diện chính trị - xã hội để
khảo nghiệm và thấy rằng ở Phật giáo có những điều không
thích hợp. Do đó, nhiều người Việt Nam trong những thời kỳ
khác nhau đã phê phán, kỳ thị Phật giáo như : Đàm Mĩ Mông
(thế kỷ XII); Lê Quát, Trương Hán Siêu (thế kỷ XIV); Bùi Huy
Bích, Phạm Nguyễn Du (thế kỷ XVIII); Phạm Quý Thích (thế kỷ
XIX) đều xem Phật giáo là điều có hại cho xã hội.
Nhưng ở một phía khác, trên phương diện tín ngưỡng,
người Việt Nam xưa lại tìm đến Phật giáo. Dần dần, họ đi đến
tôn sùng và đề cao nó. Các vua Lý, vua Trần từ các thế kỷ XI
đến XIV đều đề cao Phật giáo. Thời Lê, thời Nguyễn tuy tôn
sùng Nho, nhưng vẫn để cho Phật giáo lưu hành. Lê Sát, Lê
Ngân là những đại thần thời Lê sở và những hoàng thân, quốc
thích thời Nguyễn trong nhà đều có chùa thờ Phật. Thậm chí
Trương Hán Siêu trước chống Phật giáo sau lại theo Phật giáo.
Còn quần chúng nhân dân thì lẳng lặng đi theo Phật giáo.
Hai khuynh hướng phủ nhận và thừa nhận trên đã đan xen
nhau, kế tiếp nhau trong lịch sử. Nhưng khuynh hướng thừa nhận
mạnh hơn khuynh hướng phủ nhận và là khuynh hướng chung
của lịch sử, làm cho Phật giáo trở thành một tôn giáo và là một
hiện tượng triết học lâu dài của dân tộc.
Trở thành một hiện tượng đó, rõ ràng không phải là sự áp
đặt, cũng không phải là sự lầm lỡ nhất thời, mà như là một sự tất

tin theo Phật giáo để mong giầu sang
5
CHƯƠNG II
PHẬT GIÁO LÀ MỘT NHU CẦU TINH THẦN CỦA NGƯỜI
VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
Con người ta gồm các cá nhân khác nhau, sống trong thời
gian và không gian khác nhau, nhưng để sống, ở họ đều có chung
một tâm lý: mong muốn ấm no, mạnh khoẻ, sống lâu, giàu sang
Mong muốn đó ở người dân Việt Nam được gửi vào hình tượng
"Tam đa": Phúc, Lộc, Thọ. Đó là tâm lý, vừa mang tính chất tự
nhiên, vừa mang tính chất xã hội, vừa lâu dài, vừa cấp bách. Nó
gắn liền với con người như sự tồn tại của chính họ.
Xã hội phong kiến là một xã hội trì trệ lâu dài. Người ta
bằng lòng với nền kinh tế tự cấp, tự túc, với tri thức hạn hẹp và
nếp sống làng xã khép kín. Người ta không thể hiểu được những
nguyên nhân thực sự đưa đến những số mệnh khác nhau của con
người, không thể hiểu được vì sao ở người này thì có số phận
hẩm hiu, ở người khác thì có số phận may mắn Mỗi con người
nghèo khổ đều băn khoăn và mong muốn có một ngày nào đó
được đổi đời. Trong một chế độ xã hội người bóc lột người như
chế độ phong kiến, con người chưa tìm được sức mạnh để giải
phóng mình ở chính bản thân mình. Người ta đặt hy vọng vào
một lực lượng siêu nhiên, đặt niềm tin vào tôn giáo.
Tín ngưỡng nguyên thuỷ đã thoả mãn phần nào nhu cầu của
con người Việt Nam trong lịch sử. Tín ngưỡng đó với các
nguyên lý: Thờ tổ tiên thì được tổ tiên phù hộ, thờ thổ công thì
được thổ công cho phúc, thờ thành hoàng thì được thành hoàng
bảo vệ đã gieo vào lòng người những niềm tin.
6
Nhưng tín ngưỡng thô sơ đó không thoả mãn được nhu cầu

Phật Quan thế âm, với quan niệm sống từ bi hỉ xả, thì khi chết sẽ được
về nơi tịnh thổ, được lên cõi niết bàn, được thoát khỏi cảnh trầm luân
khổ ải ở kiếp sau, đã đánh đúng vào yêu cầu thoát khổ thoát nạn của
con người trần gian, nên đã có sức lôi cuốn đặc biệt. Người ta dốc lòng
tin theo Phật Quan thế âm. Người ta còn tạo nên Phật Bà Quan âm
nghìn mắt, nghìn tay để chứng tổ rằng có một vị Phật có thể thấy được
hết khổ ải của chúng sinh, có thể cứu vớt được hết mọi người khổ đau.
Chính do chủ trương cứu khổ, cứu nạn, đổi đời người như thế nên Tịnh
độ tông trở thành tông phái chủ đạo của Phật giáo Việt Nam và xuyên
suốt trong lịch sử.
Có thể nói Phật giáo, nhất là Tịnh độ tông là một phương thức
thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người Việt Nam trong lịch sử.
Chừng nào thế giới quan vô thần và khoa học chưa đủ điều kiện để
thống trị trong đầu óc họ thì những vị Phật do con người tạo ra dù âm
thầm ngồi dưới mái chùa chật hẹp , hay đứng phơi ngoài không gian
rộng lớn vẫn còn sức hấp dẫn nhiều người.
8
CHƯƠNG III
PHẬT GIÁO TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA NGƯỜI VIỆT
NAM
Như bất cứ một cộng đồng nào khác, cộng đồng người
Việt Nam trong thời kỳ cổ đại muốn tồn tại và phát triển thì phải
lợi dụng, chế ngự và cải tạo thiên nhiên xung quanh mình, phải
tổ chức cải tạo xã hội của mình, phải duy trì và phát triển giống
nòi. tính chất đó đã làm cho hoạt động thực tiễn của họ ngay từ
đầu trở đã có tính toàn diện. Vì vậy thế giới quan với đặc trưng
là hình ảnh của sự vận động đó của họ cũng ngay từ đầu đã mang
tính chất toàn diện.
Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, mặc dù nền sản xuất thấp
kém, khoa học tự nhiên chưa xuất hiện, công nghiệp không có

quan hệ xã hội, nó chỉ chú ý đến quan hệ vua - tôi, cha - con,
chồng - vợ. Bước vào lĩnh vực khác của đời sống xã hội, của
sinh hoạt con người nó bỏ qua và tỏ ra bất lực.
Lão giáo, một học thuyết yếm thế, chủ trương xã lánh sự
phát triển của xã hội, quay về bắt trước giới tự nhiên, có vẻ như
mâu thuẫn với chủ trương nhập thế của Nho giáo, với cách sống
của nhà nho nhưng bao đời nay vẫn được con người phong kiến
vin lấy, ngân nga tán thưởng. Chế độ phong kiến đã dầy vò con
người, đã chà đạp lên tài năng của con người khiến cho những
con người tích cựu nhất cũng phải rơi vào cảnh trầm luân để rồi
phải lấy đạo Lão - Trang làm niềm an ủi cho mình. Nguyễn Trãi,
10
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ .v.v tuy con đường
hoạn lộ khác nhau, đóng góp cho xã hội khác nhau, nhưng cùng
chung một hoàn cảnh là hướng vào đạo Lão lúc cuối đời.
Nhưng đạo Nho và đạo Lão - Trang lảng tránh hoặc có thái
độ hư vô chủ nghĩa đối với những vấn đề cơ bản có liên quan
đến đời sống con người, như các vấn đề: sống chết, thọ yểu,
phúc họa, sướng khổ Chủ nghĩa tôn quân của đạo Nho cho rằng
chưa biết việc sống làm gì phải biết việc chết, cho rằng thọ hay
yểu là do số mệnh, phúc hay họa là do trời Chủ nghĩa tương
đối của đạo Lão - Trang cho rằng sống hay chết, thọ hay yểu là
điều tự nhiên con người không cần can thiệp vào, còn về phúc
hoạ thì cho rằng trong cái phúc có ẩn náu cái hoạ, trong cái hoạ
có ẩn náu cái phúc Tất cả những lý lẽ đó không đủ để thoả mãn
những nhu cầu về mặt tâm lý cũng như nhận thức của người Việt
Nam. Đạo Phật đã giành lấy một vai trò trong chỗ trống đó trong
tinh thần người Việt Nam.
Sự phân công giữa Nho và Phật trong thế giới quan người
Việt hình như là điều tự nhiên. Thế mà điều tự nhiên này lại

Phật giáo là một tôn giáo, nhưng trong đó hai yếu tố tôn
giáo và triết học quện vào nhau, làm cơ sở luận chứng cho nhau.
Ở đây, chúng ta chú ý tới yếu tố triết học. Về mặt này, Phật giáo
đã có ảnh hưởng lớn tới phương pháp tư duy của người Việt
Nam. Trong đó có những giá trị, đồng thời cũng có nhiều hạn
chế.
Tiếp thu Phật giáo, tư duy người Việt có thêm một loạt
khái niệm và phạm trù nói lên bản thể luận, nhận thức luận là
những vấn đề cơ bản của triết học. Trong thế giới quan phức hợp
nhiều thành phần của người Việt Nam thì Phật giáo là thành
phần có ý nghĩa triết học nhiều nhất.
Hơn tất cả các học thuyết khác của Phương Đông, Phật giáo
chú ý đến mặt phát triển tự nhiên của con ngườ
i, đó là sinh, lão,
bệnh, tử. Bốn chặng đó của cuộc đời phản ánh sự phát triển tất
yếu của cơ thể con người, mà nếu ai đó nhận thức được thì sẽ
không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí còn bình
thản, lạc quan trước cái chết. Nhiều nhà sư trong thời Lý - Trần
đã có một quan niệm như thế.
Phật giáo đề cậ
p đến vấn đề ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành,
thức là những vấn đề có ý nghĩa nhận thức luận sâu sa. Tuy đối
tượng của nhận thức đó là tâm và tính chất là duy tâm nhưng ở
trong quá trình ngũ uẩn chứa đựng một quá trình nhận thức gồm
các bước hợp lý: từ sự vật khách quan (sắc), con người cảm thụ
13
được (thụ), suy nghĩ (tưởng), rồi đem thực hiện (hành) và cuối
cùng là hiểu biết (thức). Ở đây, nếu bóc cái vô thần bi ra, ta thấy
có những hạt nhân hợp lý.
Phật giáo đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những quan niệm

không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Do đó,
không thấy được nguyên nhân xã hội đưa đến sự khổ ải của con
người, không thấy được sự cần thiết phải đấu tranh chống áp
bức, bóc lột vì thế quan niện từ bi, bác ái trong một số trường
hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi
nhà sư bước sang lĩnh vực chính trị - xã hội, họ phải sử dụng các
tư tưởng của nhà Nho hay Lão - trang. Nhà sư Viên Thông cho
rằng: "Lòng dân là gốc trị loạn", trong đó "lòng dân" là khái
niệm và tư trưởng của nhà nho; hoặc nhà sư Đỗ Pháp Thuận nói:
"Vô vi cư diện các, xứ xứ tức đao binh" (nếu đường lối vô vi ngự
trị trong triều đình, thì nơi nơi sẽ tắt chiến tranh) trong đó " vô
vi" là khái niệm của Lão - Trang, mặc dù khái niệm đó đã được
giải thích theo quan niệm nhà Phật.
Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với phương pháp tư
duy của người Việt Nam là quan điểm duy tâm thần bí. Quan
điểm này khiến người ta không hướng vào hiện thực, mà hướng
vào nghiệp, vào quả báo, vào thần linh để mong được phù hộ, độ
15
trì. Và một khi tư duy như vậy thì không cần gì đến sự tìm tòi và
khám phá, sáng tạo và hành động.
Tóm lại: Phật giáo là một tôn giáo. Vì vậy nó có những
thiếu sót, những tiêu cực về mặt khoa học và nhân sinh quan.
Song với thái độ khách quan, chúng ta cần nhận thức rõ những
yếu tố tích cực trong tư tưởng Phật giáo. Trong lịch sử và cho
đến ngày nay, Phật giáo là tôn giáo duy nhất chống lại thần
quyền. Trong những tư tưởng của nó có những yếu tố duy vật và
biện chứng. Đạo Phật là tiếng nói chống chế độ đẳng cấp khắc
nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội;
nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của

sót, tác giả rất mong muốn sự góp ý của các thầy cô và các bạn
để bài viết được hoàn chỉnh hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status