Tài liệu Đề án "Bàn về cách tính khấu hao và phương pháp kế toán khấu hao TSCĐ theo chế độ hiện hành trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" - Pdf 95

Đề án "Bàn về cách tính khấu hao và
phương pháp kế toán khấu hao TSCĐ
theo chế độ hiện hành trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay"

Lời mở đầu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, môi trường
cạnh tranh ở nước ta hiện nay ngày càng trở nên gay gắt. Mặt khác hoà chung vào
sự phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa,
giao lưu hợp tác kinh tế với các nước, do đó tính cạnh tranh càng trở nên khốc liệt
hơn và vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Để đứng vững và giành ưu thế đòi hỏi các
doanh nghiệp trong nước phải không ngừng đầu tư, đổi mới và cải tiến công nghệ.
Vì đó là yếu tố quan trọng quyết định đến giá thành và chất lượng sản phẩm và ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Nhưng trong hoạt động
đầu tư doanh nghiệp không chỉ đối mặt với vấn đề làm thế nào để huy động được
vốn đầu tư mà quan trọng hơn là sự hao mòn của tài sản cố định (TSCĐ). Bởi trong
quá trình đầu tư và sử dụng, dưới tác động của môi trường tự nhiên và điều kiện
làm việc cũng như tiến bộ kỹ thuật tài sản cố định bị giảm dần về mặt giá trị và giá
trị sử dụng. Với vai trò cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc ra quyết định
kinh doanh nói chung và quyết định đầu tư TSCĐ nói riêng, công tác kế toán trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là kế toán TSCĐ và kế toán khấu hao
TSCĐ.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, hệ thống chế độ kế toán của Việt Nam
đã có những chuyển biến rất căn bản để công tác kế toán vận hành có hiệu quả hơn,
đảm bảo tính thống nhất chế độ kế toán trong các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách với thông lệ kế toán quốc tế. Tuy nhiên, trước
sự biến đổi to lớn trong hoạt động kinh tế, các qui định đã bộc lộ rõ những hạn chế

cụ có giá trị lớn là rất quan trọng và cần thiết. Theo Quyết định số 166/BTC/2000,
thì tiêu chuẩn để nhận biết TSCĐ là:
*Thời gian sử dụng hoặc thời gian hữu ích là từ 1 năm trở lên
*Giá trị của TSCĐ không nhỏ hơn 5.000.000 đ
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá
trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh. Khác với đối tượng
lao động, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật
chất ban đầu cho đến lúc hư hỏng.
II.Phân loại TSCĐ
Do TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại với nhiều hình thái biểu hiện khác
nhau như , tính chất đầu tư, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau nên để thuận
lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐ, cần sắp xếp TSCĐ vào từng nhóm theo
những đặc trưng nhất định như phân theo quyền sở hữu, phân theo nguồn hình
thành, phân theo hình thái biểu hiện, phân theo hình thái biểu hiện kết hợp tính
chất đầu tư Mỗi một cách phân loại có tác dụng khác nhau đối với công tác
hạch toán và quản lý. Chẳng hạn, theo hình thái biểu hiện kết hợp tính chất đầu tư,
toàn bộ TSCĐ trong sản xuất được chia thành :
-TSCĐ hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm
giữ để sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Theo
chuẩn mực kế toán Việt Nam(chuẩn mực 03), các tài sản được ghi nhận là TSCĐ
hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả 4 tiêu chuẩn sau:

2
* Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó
* Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
* Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm
* Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành
-TSCĐ vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất nhưng
xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong các hoạt động sản

3
và cộng (+) các khoản thuế ( không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) cùng
các khoản phí tổn mới trước khi dùng (phí vận chuyển, bốc dỡ, thuế trước bạ, chi
phí sửa chữa, tân trang trước khi dùng…)
* TSCĐ do bộ phận xây dựng cơ bản tự làm bàn giao: nguyên giá là giá
thành thực tế của công trình xây dựng cùng với các khoản chi phí khác có liên quan
và thuế trước bạ nếu có. Khi tính nguyên giá, cần loại trừ các khoản lãi nội bộ, các
khoản chi phí không hợp lý, các chi phí vượt quá mức bình thường trong quá trình
tự xây dựng hoặc tự chế.
* TSCĐ do bên nhận thầu (bên B) bàn giao: nguyên giá là giá phải trả cho
bên B cộng với các khoản phí tổn mới trước khi dùng (chạy thử, thuế trước bạ…)
trừ đi các khoản giảm trừ (nếu có).
* TSCĐ được cấp, được điều chuyển đến:
+ Nếu là đơn vị hạch toán độc lập: nguyên giá bao gồm giá trị còn lại ghi sổ ở
đơn vị cấp (hoặc giá trị đánh giá thực tế của hội đồng giao nhận) cộng với các phí
tổn mới trước khi dùng mà bên nhận phải chi ra (vận chuyển, bốc dỡ …)
+ Nếu điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: nguyên giá,
giá trị còn lại và số khấu hao luỹ kế được ghi theo sổ của đơn vị cấp. Các phí tổn
mới trước khi dùng được phản ánh trực tiếp vào chi phí kinh doanh mà không tính
vào nguyên giá TSCĐ .
* TSCĐ nhận vốn góp liên doanh, nhận tặng thưởng, viện trợ, nhận lại
vốn góp liên doanh…Nguyên giá tính theo giá trị đánh giá thực tế của hội đồng
giao nhận cùng các phí tổn mới trước khi dùng (nếu có).
2.Nguyên giá TSCĐ thuê dài hạn
Theo chế độ tài chính quy định hiện hành, ở Việt Nam, khi đi thuê dài hạn
TSCĐ, bên thuê căn cứ vào các chứng từ liên quan do bên cho thuê chuyển đến để
xác định nguyên giá TSCĐ đi thuê. Nói cách khác, nguyên giá ghi sổ TSCĐ thuê
dài hạn được căn cứ vào nguyên giá do bên cho thuê chuyển giao.
3.Nguyên giá TSCĐ vô hình
Nguyên giá TSCĐ vô hình là toàn bộ các chi phí thực tế phải bỏ ra để có đựơc

điều kiện làm việc cũng như tiến bộ kỹ thuật, TSCĐ bị hao mòn. Hao mòn này
được thể hiện dưới hai dạng:
 Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ
sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận.
 Hao mòn vô hình: là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ
thuật đã sản xuất ra những TSCĐ cùng loại có nhiêù tính năng với năng
suất cao hơn và chi phí ít hơn.
Để thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ, người ta tiến hành trích khấu hao bằng
cách chuyển phần giá trị hao mòn của TSCĐ vào sản phẩm làm ra.
Như vậy, hao mòn là hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử
dụng của TSCĐ, còn khấu hao là một biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu
hồi lại giá trị đã hao mòn của TSCĐ.
Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá
trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp.
Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp doanh
nghiệp thu được bộ phận giá trị đã mất của TSCĐ.
Về phương diện thuế khoá, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào lợi
nhuận chịu thuế, tức là được tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ.
Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của TSCĐ
II. Ý nghĩa của tính khấu hao:

Như chúng ta đã biết khấu hao là bịên pháp chủ quan trong quản lý nhằm
thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ,tích luỹ lại hình thành nguồn vốn để đầu tư mua
sắm TSCĐ khi nó bị hư hỏng chính vì thế việc tính khấu hao là vô cùng quan trọng
có ý nghĩa to lớn với mọi loại hình doanh nghiệp về những phương diện sau:
Về phương diện kinh tế : Khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh đuợc giá
trị thực của tài sản đồng thời làm giảm lợi tức dòng của doanh nghiệp

Về phương diện tài chính: Khấu hao sẽ làm giảm giá trị thưc của TSCĐ
nhưng lại làm tăng giá trị củ TSCĐ khác một cách tương ứng (tiền mặt ,tiền ngân

Nguyên giá TSCĐ - Giá trị thu hồi ước tính
Số năm hữu dụng ước tính
sử dụng phổ biến đó là phương pháp khấu hao cố định (phương pháp khấu hao
đềuTheo chế độ qui định các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương
pháp tính khấu hao sau:
-Phương pháp khấu hao đều theo thời gian
-Phương pháp khấu hao theo thời gian sử dụng máy thực tế
-Phương pháp khấu hao theo sản lượng sản xuất

7
-Phương pháp khấu hao giảm dần: Có nhiều phương pháp khấu hao giảm dần
có thể áp dụng, tuy nhiên có hai phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay đó
là: khấu hao giảm dần với tỷ suất giảm dần và khấu hao giảm dần với tỷ suất không
đổi.

8
-Ngoài ra còn có các phương pháp khấu hao theo nhóm hoặc đa hợp
Từ trên ta thấy sự khác biệt lớn nhất của kế toán khấu hao TSCĐ ở Mỹ so với
Việt Nam đó là Mỹ sử dụng giá trị thu hồi TSCĐ trong công thức tính khấu hao.
Đó là sự đúng đắn vì như thế mới phản ánh chính xác giá trị hao mòn của TSCĐ,
qua đó xác định chi phí sản xuất kinh doanh hợp lý hơn.
Một sự khác biệt nữa là: ở Mỹ phương pháp khấu hao nhanh được các doanh
nghiệp sử dụng một cách phổ biến. Đây là phương pháp khấu hao ưu việt, nó cho
phép doanh nghiệp thu hối vốn đầu tư nhanh để đầu tư, đổi mới công nghệ ở Việt
Nam phương pháp này mới đang được thí điểm ở một số doanh nghiệp thuộc ngành
công nghệ cao.
2.Kế toán khấu hao TSCĐ của Pháp
Giống như Mỹ và Việt Nam, ở Pháp cũng có nhiều phương pháp tính khấu
hao TSCĐ. Nhưng có hai phương pháp tính khấu hao được ) và phương pháp khấu
hao giảm dần.

=
Nguyên giá
TSCĐ bình
quân

*
Tỉ lệ khấu
hao bình
quân năm

=
Nguyên giá TSCĐ

Số năm sử dụng

Mức khấu hao phải trích
bình quân tháng
Mức khấu hao bình quân năm
12
Ưu điểm của phương pháp này là: phương pháp này cố định theo thời gian nên
có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản
phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận.
Nhược điểm của phương pháp này là: việc thu hồi vốn chậm, không theo kịp
mức hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình (do tiến bộ khoa học kỹ thuật) nên
doanh nghiệp không có điều kiện để đâù tư trang bị TSCĐ mới.
Hiện nay, đây là phương pháp được dùng phổ biến trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam.
2.Phương pháp khấu hao theo sản lượng
Cách tính này cố định mức khấu hao trên một đơn vị sản lượng nên muốn thu
hồi vốn nhanh khắc phục được hao mòn vô hình đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng ca

hao cao còn những năm về sau TSCĐ đã cũ dần (mất dần tính hữu ích), năng lực
sản xuất thấp hơn nên tính chi phí khấu hao thấp hơn.

12
Công thức tính khấu hao theo phương pháp này là:
Tổng mức khấu hao
bình quân năm

2 x Giá trị còn lại của TSCĐ
Số năm tính khấu hao

Phương pháp này giúp doanh nghiệp có khả năng thu hồi nhanh vốn đầu tư,
mua sắm đổi mới TSCĐ, phản ánh chính xác hơn mức hao mòn TSCĐ vào giá trị
sản phẩm, phù hợp với hầu hết các sản phẩm có giá bán lúc đầu cao sau đó có xu
hướng giảm dần. Đặc biệt nó phù hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công nghệ cao, công nghệ mới mà TSCĐ có tốc độ hao mòn vô hình cao, đòi
hỏi phải khấu hao, thay thế, đổi mới nhanh để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật.
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần là một phương pháp tiên tiến, phù
hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ kỹ thuật.Tuy nhiên, việc thực
hiện phương pháp này phức tạp hơn phương pháp khấu hao đều nên đòi hỏi cán bộ
làm công tác kế toán phải có trình độ cao, cán bộ thuế phải am hiểu về các phương
pháp tính khấu hao, và nó ảnh hưởng đến ngân sách trong những năm đầu. Mặt
khác phương pháp này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp mà giá thành hoặc
chi phí có khả năng chịu được (doanh nghiệp có lãi).
Theo phương pháp này, giá trị còn lại của TSCĐ không khi nào bằng 0. Do
đó khi bán TSCĐ này phần giá trị còn lại của nó phải được trừ đi trong doanh thu
nhượng bán TSCĐ để tính kết quả bất thường chính xác.
Hiện nay, ở nước ta, Bộ tài chính quyết định thực hiện thí điểm trong hai năm
chế độ khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh ( đó là sự kết hợp

trước

+
Số khấu hao của
những TSCĐ tăng
thêm trong tháng
trước

-
Số jhấu hao của
mhững TSCĐ giảm
đi trong tháng
trước

Do khấu hao TSCĐ được tính vào ngày 1 hàng tháng (nguyên tắc tròn tháng)
nên để đơn giản cho việc tính toán, quy định những TSCĐ tăng (hoặc giảm) trong
tháng này thì tháng sau mới tính (hoặc thôi) tính khấu hao.
Đối với TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn được sử dụng thì không được trích
khấu hao nữa kể từ thời điểm khấu hao hết.
Đối với những TSCĐ chưa khấu hao hết mà đã hư hỏng phải tiến hành thanh
lý thì giá trị còn lại phải được xử lý thu hồi một lần và không tính khấu hao ở các
kỳ tiếp theo.
Đối với những TSCĐ được sửa chữa nâng cấp hoàn thành thì phải xác định lại
giá trị phải khấu hao và thời gian khấu hao. Mức trích khấu hao hàng tháng được
tính theo công thức sau:

Mức khấu hao phải
trích trong tháng
Giá trị còn lại trước khi nâng cấp + Giá trị nâng cấp
Số năm ước tính sử dụng sau khi sửa chữa *12

như sau:
- Bên Nợ: phản ánh các nghiệp vụ tăng nguồn vốn khấu hao cơ bản
- Bên Có: phản ánh các nghiệp vụ làm giảm nguồn vốn khấu hao (nộp cho
cấp trên, cho vay, đầu tư, mua sắm TSCĐ )
- Dư Nợ: Số vốn khấu hao cơ bản hiện còn.
2.Phương pháp hạch toán
6.2.1.Hạch toán khấu hao TSCĐ hữu hình
- Định kỳ (tháng, quý, năm) kế toán tiến hành trích khấu hao TSCĐ và phân
bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh:
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 2141: Tổng số khấu hao phải trích
Đồng thời phản ánh tăng nguồn vốn khấu hao:
Nợ TK 009
- Số khấu hao phải nộp ngân sách hoặc cấp trên (nếu có):

15
Nợ TK 411: Ghi giảm nguồn vốn kinh doanh nếu không được hoàn lại
Nợ TK 136 (1368): Ghi tăng khoản phải thu nội bộ nếu được hoàn lại
Có TK 336: Số phải nộp cấp trên.
- Trường hợp giảm giá trị hao mòn do nhượng bán, thanh lý:

16
Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế.
Nợ TK 811: Giá trị còn lại
Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ
- Trường hợp giảm giá trị hao mòn do góp vốn liên doanh bằng TSCĐ hữu
hình:
Nợ TK 222: Giá trị vốn góp liên doanh dài hạn được ghi nhận.
Nợ TK 128: Giá trị vốn góp liên doanh ngắn hạn được ghi nhận.
Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế

lại của TSCĐ thuê ngoài phải tính vào chi phí chờ phân bổ (nếu giá trị lớn)
hoặc phân bổ hết vào chi phí kinh doanh trong kỳ (nếu giá trị còn lại nhỏ) :
Nợ TK 142 (1421): Chuyển giá trị còn lại chưa khấu hao hết (nếu có)
Nợ TK 2142: Giá trị hao mòn luỹ kế
Có TK 212: Nguyên giá TSCĐ đi thuê
+Nếu được quyền sở hữu hoàn toàn hay mua lại TSCĐ, thì sau khi kết chuyển
nguyên giá TSCĐ phải kết chuyển giá trị hao mòn:
Nợ TK 2142
Có TK 214 (2141, 2143): Giá trị hao mòn luỹ kế
2.3.Hạch toán khấu hao TSCĐ vô hình
-Trong kỳ, trích và phân bổ khấu hao vào chi phí kinh doanh
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 2143: Giá trị hao mòn
Đồng thời ghi tăng nguồn vốn khấu hao:
Nợ TK 009
-Các trường hợp nhượng bán, giảm TSCĐ vô hình do góp vốn liên doanh, trả
vốn góp liên doanh: phản ánh tương tự như hạch toán khấu hao TSCĐ hữu
hình. Ngoài ra, khi đã trích đủ khấu hao phải xoá sổ TSCĐ :
Nợ TK 2143: Giá trị hao mòn luỹ kế
Có TK 213: Nguyên giá TSCĐ vô hình
-Cuối năm tài chính doanh nghiệp cần xem xét lại thời gian trích khấu hao và
phương pháp khấu hao TSCĐ vô hình, nếu có sự thay đổi mức khấu hao cần điều
chỉnh số khấu hao ghi trên sổ kế toán như sau:
+Nếu mức khấu hao TSCĐ vô hình tăng lên so với số đã trích trong năm, số
khấu hao chênh lệch tăng, ghi:
BT 1) Nợ TK 627, 641, 642: Số chênh lệch khấu hao tăng
Có TK 2143: Giá trị hao mòn tăng thêm
BT 2) Nợ TK 009
+Nếu mức khấu hao TSCĐ vô hình giảm so với số đã trích trong năm thì số
chênh lệch khấu hao giảm ghi:

năm
đưa
vào
sử
dụng
Số
hiệu
TSCĐ
Nguyên
giá
TSCĐ
Tỉ lệ
(%)
khấu
hao
Mức
khấu
hao
Khấu
hao đã
tính
đến
khi
ghi
giảm
TSCĐ
Số
hiệu
Ngày
tháng

Số
lượn
g
Số tiền
Số
hiệu
Ngày
tháng
Số
hiệu
Ngày
tháng
tính 3.2. Hạch toán trên sổ tổng hợp:
Trên đây là 2 hình thức sổ kế toán chi tiết mà các doanh nghiệp ở Việt
Nam hiện đang áp dụng, và sau đây là một số hình thức sổ kế toán tổng hợp được
dùng để phản ánh nghiệp vụ biến động TSCĐ và Khấu hao tài sản cố định
Như chúng ta đã biết có 4 hình thức sổ kế toán tổng hợp được áp dụng để phản ánh
sự biến động của TSCĐ và Khấu Hao TSCĐ
* Đối với hình thức sổ Nhật Ký Chung :
+ sổ sách sử dụng :
- Sổ Nhật ký chung:
- Sổ cái TK 211,212,213,21
* Đối với hình thức sổ Nhật Ký Sổ Cái :
+ sổ sách sử dụng :
-Sổ Nhật ký sổ cái TK 211,212,213,214
* Đối với hình thức sổ Nhật Ký Chứng Từ:
+ sổ sách sử dụng :

1.Tình trạng thiếu những quy định cụ thể, chi tiết, hoàn thiện cho việc
phân loại và sử dụng TSCĐ.
a. Điều kiện ghi nhận TSCĐ:
Trong chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định hữu hình số 16, điều
kiện ghi nhận tài sản có thể xem là một nguyên tắc nền tảng. Tài sản chỉ được phép
ghi nhận khi và chỉ khi nó có thể mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh
nghiệp và nguyên giá có thể xác định một cách đáng tin cậy. Điều kiện “có thể đem
lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp” nêu ra trong nguyên tắc này đã đưa
ra cơ sở lý luận tổng quát phân biệt giữa chi phí và tài sản. Sau đó dựa trên nguyên
tắc này, các quy định hạch toán chi tiết đối với từng trường hợp sẽ được xây dựng
cụ thể. Sự thiếu vắng các nguyên tắc kế toán làm nền tảng trong quy định kế toán
tài sản cố định hiện nay các nội dung như điều kiện ghi nhận tài sản, xác định

21
nguyên giá, khấu hao,… đã dẫn đến những mâu thuẫn tất yếu đang tồn tại đó là:
các quy định quá đi sâu vào chi tiết , tiểu tiết đồng thời trong một số trường hợp lại
không quy định rõ ràng, đầy đủ và không phản ánh hết các trường hợp nghiệp vụ
kinh tế phát sinh trong thực tế. Điều này được thể hiện rõ qua điều kiện ghi nhận
TSCĐ. TSCĐ được ghi nhận căn cứ vào thời gian sử dụng (1 năm trở lên) và giá trị
tối thiểu của TSCĐ (5 triệu đồng trở lên). Giới hạn chi tiết về thời gian sử dụng và
giá trị tối thiểu của tài sản không thể phù hợp hoàn toàn với mọi loại hình doanh
nghiệp và thời đIểm ghi nhận. Sự đa dạng về loại hình doanh nghiệp, quy mô hoạt
động cũng như sự thay đổi về thời giá đặt ra yêu cầu khác nhau về giá trị tài sản.
Một tài sản có thể được xem nên ghi nhận là TSCĐ hữu hình ở một tổ hợp sản
xuất thủ công nghiệp nhỏ nhưng đối với một công ty sản xuất lớn có thể chỉ được
xem là gía trị công cụ, dụng cụ phân bổ thẳng vào chi phí sản xuất trong kỳ. Ngoài
ra cùng với tính phức tạp của những nghiệp vụ kinh doanh đặc biệt những nghiệp
vụ liên quan đến hạch toán TSCĐ vô hình như chi phí nghiên cứu phát triển, chi
phí lợi thế thương mại…thì điều kiện ghi nhận này không thể phân biệt được rõ
những chi phí nào được phép vốn hoá vào tài sản và chi phí nào cần phải được hạch

bình quân hàng năm Thời gian sử dụng TSCĐ

Theo công thức này giá trị thu hồi của TSCĐ không được tính đến. Như vậy
làm cho cách tính giản đơn, loại bỏ được một yếu tố ước tính. Song việc không đưa
giá trị thu hồi vào công thức xác định mức khấu hao là một sự thiếu sót rất lớn vì
các nguyên nhân sau:
+ Trên thực tế có nhiều TSCĐ khi thanh lý sẽ thu hồi hoặc bán được với số
tiền lớn, chẳng hạn như: nhà cửa, ô tô, nếu không tính tới giá trị thu hồi thì chính là
đã gián tiếp làm cho mức khấu hao được hạch toán vào chi phí sản xuất cao hơn
thực tế.
+ Giá trị thu hồi là phần giá trị vốn có của TSCĐ, việc sử dụng giá trị thu hồi
sẽ làm cho TSCĐ không bao giờ được phép khấu hao hết nguyên giá. Ví dụ: một
TSCĐ có nguyên giá 104 triệu đồng, giá trị thu hồi ước tính 4 triệu, thời gian sử
dụng 10 năm, mức khấu hao 1 năm là 10 triệu. Sau năm thứ 10 nếu TSCĐ vẫn còn
sử dụng tại doanh nghiệp thì doanh nghịêp có thể không phải trích khấu hao nhưng
giá trị còn trên sổ sách kế toán vẫn là 4 triệu đồng. Điều này không những hợp lý
mà còn có tác dụng làm tăng cường trách nhiệm quản lý của doanh nghiệp đối với
TSCĐ. Đồng thời nếu có sự mất mát, hư hỏng…TSCĐ do các yếu tố chủ quan của
con người thì sẽ dễ dàng cho việc xác định mức trách nhiệm vật chất và mức bồi
thường thiệt hại đối với người phạm lỗi.
+ Việc sử dụng chỉ tiêu giá trị thu hồi còn có tác dụng trợ giúp đắc lực cho
quản trị tài chính khi tiến hành công tác thanh lý TSCĐ.
+ Theo chế độ kế toán của các nước tiên tiến (kể cả kế toán Mỹ), người ta
vẫn đưa giá trị thu hồi vào công thức xác định mức khấu hao, ngay cả khi sử dụng
phương pháp khấu hao nhanh hay khấu hao theo sản lượng thì giá trị thu hồi được
coi là một chỉ tiêu giới hạn để khống chế mức khấu hao luỹ kế của TSCĐ.
Chính vì vậy, những doanh nghiệp có tỉ trọng TSCĐ đã hết khấu hao thì
đương nhiên chỉ tiêu mức khấu hao hàng năm sẽ nhỏ. Điều không hợp lý này sẽ

23

của Bộ tài chính thì chỉ ghi giảm TSCĐ, phần giá trị còn lại ghi vào chi phí (TK
641, 642, 627) hoặc ghi vào chi phí chờ phân bổ (TK 142). Song trong thực tế có
nhiều doanh nghiệp lại ghi phần giá trị còn lại đó chuyển từ vốn cố định sang vốn
lưu động (tuy vẫn ở trong một tài khoản 411 “Nguồn vốn kinh doanh”. Nhưng việc
ghi chép thiếu thống nhất này ảnh hưởng tới việc xác định chính xác nguồn vốn

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status