TRƯỜNG
KHOA……………
………… o0o………… ĐỀ ÁN
Những đổi mới trong công tác
kế hoạch hóa ở Việt Nam và
những phương hướng tiếp tục
đổi mới công tác kế hoạch hóa
ở Việt Nam
NHÓM X
LỜI MỞ ĐẦU
Một thời gian khá dài trước đây, Việt Nam đã từng duy trì một nền kinh tế
tập trung bao cấp với sự điều tiết trực tiếp những hoạt động kinh tế thông qua quá
trình đưa ra những quyết định mang tính pháp lệnh từ trung ương. Các hoạt động
kinh tế của các cấp địa phương đều tiến hành theo những chỉ tiêu cụ thể do nhà
nước giao. Trong th
ời kỳ này có thể nói rằng KHH nền kinh tế quốc dân là đặc
trưng và là tính ưu việt riêng của cơ chế tập trung, nó đã giúp nước ta huy động
được các nguồn lực phục vụ cho công cuộc kháng chiến thành công.
Tuy nhiên, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung đã thủ tiêu tính năng động và
gian qua.
NHÓM X
Chương 3: Phương hướng tiếp tục đổi mới công tác KHH ở nước ta
trong thời gia tới.
Phần III: Kết luận
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo Ngô Thắng
Lợi, đồng cảm ơn thầy Phạm Thanh Hưng đã giúp đỡ nhóm tác giả trong quá trình
viết bài. Mặc dù đã có nhiều cố gắng xong không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm
tác giả rất mong có được sự đóng góp ý ki
ến từ phía bạn đọc. Nhóm tác giả xin
chân thành cảm ơn.
NHÓM X
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT
ải cách dưới thời kỳ Minh Trị duy tân từ năm 1868,
nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Nhật đã không sử dụng công cụ KHH
trong quản lý kinh tế. Mà ngược lại, hệ thống KHH ở Nhật có những nét độc đáo và
KHH đã đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Điểm nổi bật trong công tác KHH ở Nhật, đó là mô hình KHH “cuốn chiếu”:
mỗi kỳ kế hoạch thườ
ng được kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế
hoạch mới; các kế hoạch thường gối đầu lên nhau. Mô hình KHH này thể hiện tính
NHÓM X
năng động, nhạy bén và đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị
trường.
KHH kinh tế của Nhật Bản chú trọng vạch ra các biện pháp chính sách mà
Chính phủ định sử dụng để quản lý nền kinh tế xét từ góc độ phát triển dài hạn.
Còn các kế hoạch phát triển chủ yếu là kế hoạch định hướng, tạo những tiền đề cho
sự phát triển củ
a các loại hình kinh tế.
Với mô hình KHH kiểu “ cuốn chiếu”, Nhật Bản đã đạt được nhiều thành
công trong quá trình phát triển kinh tế, và đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu
cho Việt Nam trong việc đổi mới công tác KHH thời gian tới.
KHH ở các nước đang phát triển: trong những thập niên đầu tiên của quá
trình phát triển, hầu hết các nước đang phát triển đã coi kế hoạch hoá quốc gia trực
tiếp là cơ chế tổ ch
ức duy nhất giúp họ vượt qua những trở ngại to lớn đối với sự
phát triển và duy trì tăng trưởng cao.
Nhưng đến thập niên 60, thì các nước đang phát triển lâm vào thời kỳ khủng
hoảng KHH. Sự khủng hoảng này đã dẫn đến sự thay đổi lớn, căn bản trong công
tác KHH kể từ thập niên 70: Nội dung của kế hoạch ngày càng đầy đủ hơn, bao
hàm không chỉ về kinh tế mà còn c
ả xã hội, môi trường; Bảo đảm tính chất thực tế
hơn của hệ thống KHH; Quy trình lập kế hoạch cũng được thay đổi theo hướng
c những đòi hỏi và điều kiện mới
của nền kinh tế. Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, đòi hỏi phải đổi mới mạnh
hơn nữa các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công
tác KHH. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã
khẳng định chủ trương
đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội là “ Chuyển
mạnh sang quản lý kinh tế – xã hội bằng tổ chức, luật pháp, chính sách, chế độ, quy
hoạch, giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan trọng là bằng các công
cụ quản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nước(…), đẩy mạnh công tác hoạch
định và hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phảt triển…”.
Như vậy, đối với Việt Nam, KHH là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết
sức quan trọng. Vì vậy, cần phải tiến hành đổi mới công tác KHH trên tất cả các
phương diện, từ tư duy, quan điểm định hướng, nội dung, phương pháp cho đến cơ
cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch nhằm đáp ứng được đầy đủ hơn các nhu
c
ầu của sự phát triển kinh tế.
n dần từ kế hoạch hoá pháp lệnh sang kế hoạch hoá định hướng với việc
tập trung nỗ lực xây dựng chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quy
hoạch phát triển. Việc tăng cường nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch
phát triển đã tạo ra cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác kế hoạch hoá trung
hạn và kế hoạch hoá hàng năm.
Đại hội đại bi
ểu toàn quốc lần thứ VII của đảng (1991) lần đầu tiên đã đưa
ra bản chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kì 1991 - 2000 với mục tiêu tổng
quát là đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình chính trị –
xã hội phấn đấu vượt qua tình trạng nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống,
củng cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho đất nướ
c phát triển nhanh hơn vào
đầu thế kỷ XXI. Quan điểm phát triển của chiến lược 1991-2000:
NHÓM X
Phát triển kinh tế xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây
dựng CNXH ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại
trong một xã hội mà nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xóa bỏ áp
bức bất công tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc;
Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền s
ở hữu và thu
nhập hợp pháp. Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình
thức tổ chức kinh doanh; Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước; Mở rộng quan hệ kinh tế; Hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chuẩn quan
trọng nhất; Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; Tăng trưởng kinh tế
ph
ải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường;
Dân chủ hoá đời sống xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với ổn
định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt được là nền kinh tế có bước phát tri
2010 đã đề ra năm quan điểm phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường; Coi phát triển kinh t
ế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng
cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết; Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo
động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực; Gắn chặt việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Kết hợp chặt chẽ phát triển
kinh t
ế xã hội với quốc phòng an ninh.
Sự xuất hiện của bản chiến lược đầu tiên đã giúp chúng ta có được cái
nhìn rõ nét hơn về tương lai của đất nước, về cái đích mà đất nước ta sẽ hướng tới,
từ đó, sẽ xác định được hướng đi của mình một cách có cơ sở hơn và thêm tin
tưởng vào những chính sách Nhà nước đề ra.
2.1.2. Về công tác quy hoạch phát triển:
Không thể thiế
u được quy hoạch trong lý thuyết và thực tiễn của KHH. Nêú
chiến lược phát triển là vạch ra các đường nét hướng đạo cho sự phát triển trong
một thời gian dài thì quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lựơc về
thời gian va không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để
chủ động hướng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững.
Trên thực tế
, tập trung sức xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển, các
chương trình dự án lớn trong cả nước và cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực.
Thực hiện phương châm này, trong những năm qua Nhà nước đã thực hiện quy
hoạch một số ngành như: điện lực, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải các
khu công nghiệp, khu chế xuất, tạo cơ sở cho sự phát triển chung của nền kinh tế,
đóng góp một phần không nhỏ cho công cuộc cải cách kinh tế.
Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Nam và miền
Trung đã tạo ra những khu vực phát triển tập trung thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt
là các nhà đầu tư nước ngoài, đã làm thay đổi không những bộ mặt KT - XH ở
nội dung như: tăng cường KHH vĩ mô; Từng bước xoá bỏ
KHH mệnh lệnh và giảm
đến mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hướng, chú ý hơn
đến các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố
gắng xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng
và thực hiện các chương trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng
KT-XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợ
p tác quốc tế.
Phương pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bước đầu có sự đổi
mới trong lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phương pháp truyền thống hay phương
pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm thời kỳ cố định sang phương pháp đổi
mới hay phương pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm theo mô hình cuốn
chiếu. Cụ thể:
Chuyển t
ừ việc thời kỳ của năm năm là cố định sang thời gian của kỳ kế
hoạch là năm năm nhưng thời kỳ kế hoạch có sự thay đổi tức là luân chuyển theo
kiểu cuốn chiếu.
Chuyển từ việc các chỉ tiêu đựơc xây dựng là các chỉ tiêu được tính bình
quân cho một năm của cả kỳ kế hoạch hoặc là tính cụ thể đích đạt đượ
c cho năm
cuối cùng sang xây dựng chỉ tiêu cụ thể cho năm đầu tiên, sau đó dự tính chỉ tiêu
cho năm tiếp theo và dự báo cáo chỉ tiêu cơ bản cho ba năm còn lại; Sau một năm,
NHÓM X
trên cơ sở kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của năm đó kết hợp với những
tình hình cụ thể của thị trường mà chúng ta dự kiến được; Từ đó các nhà kế hoạch
sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể cho năm thứ hai và năm thứ hai sẽ là năm đầu của thời
kỳ mới và xây dựng chỉ tiêu cho năm thư
ba tức là năm thứ hai của thời kỳ mới và
dự báo các chỉ tiêu cơ bản cho năm cuối mới.
2.1.3.2. Về kế hoạch hàng năm.
đã tỏ ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng
được mở rộng và nâng cao.
Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang
chuyển dần sang điều ti
ết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội .
NHÓM X
2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch:
Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản.
Hình thức giao số kiểm tra đã được thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết
nhằm hướng các ngành, địa phương và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch
theo hướng mục tiêu chung của nhà nước. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin
hướng dẫ
n, Bộ kế hoạch và đầu tư còn cử các đoàn đến các địa phương để hỗ trợ,
giúp đỡ và giải quyết các vướng mắc mà các địa phương gặp phải trong khi xây
dựng kế hoạch. Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ
quan của cấp trên với cấp dưới, phát huy được tính chủ động sáng tạo của các
ngành, các cấp chính quyền địa ph
ương cũng như doanh nghiệp trong việc lập và
thực hiện kế hoạch .
Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế
hoạch KH-CN, GD-ĐT, văn hoá- thông tin, y tế, xã hội, thể dục thể thao, xoá đói
giảm nghèo… mà trước đây thường bị xem nhẹ và chưa gắn với các kế hoạch phát
triển kinh tế. Công tác kế hoạch hoá ở các lĩnh vực này sau một th
ời gian dài xuống
cấp, trì trệ thì nay đã có nhiều thay đổi, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế.
Công tác dự báo, thông tin đã bước đầu được tăng cường, phương pháp tính
toán kế hoạch được sửa đổi phù hợp dần với thông lệ quốc tế.
2.1.3.4. Đổi mới phương thức điều hành kế hoạch:
Đổi mới công tác điều hành kế hoạch trong thời gian qua không chỉ
hoá ở Việt Nam:
Mặc dù việc đổi mới KHH trong thời gian qua có ti
ến bộ đáng kể nhưng do
nhiều lý do, kết quả của đổi mới KHH còn hạn chế, thậm chí cả ở trung ương và địa
phương xu hướng giữ lại hoặc trở lại KHH kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong
một bộ phận của nhà nước và một phần dư luận của công chúng không khí bao cấp
còn nặng.
Những hạn chế chủ yếu là:
2.2.1. Về nhữ
ng cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc đổi mới công
tác KHH:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta chưa xây dựng được một
cơ sở lý luận và phương pháp luận về KHH phù hợp với thực tế đổi mới của đất
nước, do vậy không khỏi lúng túng khi thiết kế nội dung kế hoạch cũng như
phương thức điều hành kế hoạch .
Vai trò của nhà n
ước với tư cách là người điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều
khi bị nhầm lẫn với vai trò nhà nước là chủ đầu tư đã dẫn tới kết quả đó là nội dung
kế hoạch còn nặng về phân bổ đầu tư nhà nước mà chưa coi trọng đúng mức việc
vận dụng chính sách để huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác
cũ
ng như nguồn lực từ nước ngoài. Vì thế, KHH chưa bao quát, chưa phát huy hiệu
lực đầy đủ đvới tổng thể nền kinh tế .
Công tác kế hoạch chỉ được quan tâm đến nhiều ở cấp trung ương, trong khi
bộ máy kế hoạch không đủ khả năng có được hệ thống thông tin giám sát ở mọi cấp
từ cơ sở, do vậy việc thực hiện nhiều khi diễn ra sai l
ệch với ý đồ của kế hoạch .
Mối quan hệ giữa bộ KH&ĐT với các bộ khác chưa được tăng cường và đổi
mới kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới chung của nền kinh tế .
2.2.2. Về nội dung phương pháp KHH:
kinh tế quốc dân. Sự phân cấp giữa trung ương và địa phương cũng như phân công
giữa các ngành với nhau là chưa rõ ràng dẫn đến hậu quả khi gặp phải diễn biến bất
thường thì hầu hết là đều đưa lên chính phủ, vì vậy chính phủ luôn phải xử lý công
việc trong thế bị động do đó là không có lợi cho nền kinh tế nói chung.
Sự can thiệp trực tiếp thường xuyên của các cơ quan nhà nước nhi
ều khi lại
làm giảm tính ổn định của các chính sách và gây khó khăn cho các nhà kinh doanh.
Việc xây dựng quy hoạch ở nhiều địa phương đạt chất lượng chưa cao, tính
thực tế thể hiện chưa rõ nét. Sự phối hợp giữa trung ương và địa phương trong công
tác quy hoạch còn kém đã làm cho nhiều địa phương làm lại quy hoạch mặt bằng
của mình.
NHÓM X
Nhiều chương trình quốc gia chưa được xây dựng chu đáo, không xác định
rõ mục tiêu, đối tượng cụ thể được hưởng lợi; Chưa có cơ chế phù hợp cho việc tổ
chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá cụ thể. Số lượng chương trình quá
nhiều, chồng chéo cả về đối tượng hưởng lợi và địa bàn thực hiện. Trong khi tính
“lồng ghép” của các chương trình chưa cao thì xu hướng “chia
đều” đã làm giảm
đáng kể hiệu quả của các chương trình.
2.2.4. Về cơ chế điều hành xã hội :
Mọi việc trong công tác xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hầu như nằm trong tay chính phủ và một số
cơ quan tổng hợp, vì vậy khả năng điều hành cần được tăng cường thích đáng, nếu
không thì tính khả
thi một số mục tiêu sẽ bị hạn chế.
Cơ chế điều hành cân đối một số sản phẩm chủ yếu, mà thực chất là cân đối
hiện vật đã tỏ ra có giới hạn rõ rệt nhất là trong xuất khẩu và kinh tế đối ngoại.
Tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ diễn biến phức tạp hơn nhiều trong
thời gian tới đòi h
ỏi công tác KHH, đặc biệt là khâu điều hành kế hoạch phải linh
Việc chuyển đổi điều hành nền kinh tế theo khiểu mệnh lệnh sang điều hành
kiểu gián tiếp là một sự thay đổi rất lớn, đòi hỏi phải sử dụng nhiều phương tiện kỹ
thuật và kiến thức mới. Do vậy, lực lượng cán bộ cần được nâng cao hơn cả về số
lượng và chất l
ượng, bộ máy tổ chức cần được sắp xếp lại để có thể tạo ra sự phối
hợp hài hoà giữa các ngành các cấp. Bộ máy tổ chức trong ngành kế hoạch chưa
đưa ra được một hệ thống đánh giá kết quả công việc của mỗi bộ phận cũng như
của mỗi thành viên phù hợp với cơ chế quản lý mới. Cơ chế xử phạ
t còn có xu
hướng bình quân, trách nhiệm chưa rõ ràng.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong đổi mới công tác KHH trong
những năm qua ở Việt Nam:
2.3.1. Nguyên nhân:
Thứ nhất, những sai lầm của cơ chế quản lý sơ cứng cũ đã kéo dài trong
nhiều năm, làm đứt mối liên hệ khách quan giữa sản xuất kinh doanh với thị
trường.
Bộ máy quản lý vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc. Đây là “mi
ếng đất ” nảy
sinh lối quản lý hành chính quan liêu tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn
vị kinh tế cơ sở. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện tinh
giảm biên chế gián tiếp, đổi mới bộ máy tổ chức, thực hiện cải cách hành chính
nhưng kết quả chưa được là bao.
Thứ hai, Đội ngũ cán bộ lập kế hoạch có trình độ chưa cao và chư
a nhạy bén
với tình hình thực tế. Đội ngũ cán bộ đông đảo hiện nay ở các cấp , các ngành có
nhiều người tới nay không đủ khả năng đổi mới tư duy và phương pháp công tác
cho dù có được đào tạo lại. Họ không nhận thấy được sự lạc hậu của mình trong
tiến trình đổi mới và xây dựng các kế hoạch mới. Còn một bộ phận khác giữ cương
vị quan trọ
ng trong quản lý nhưng do chưa được đào tạo nên kém thích ứng với cơ
NHỮNG NĂM TIẾP THEO 3.1.Định hướng đổi mới kế hoạch hoá trong những năm tiếp theo
3.1.1.Kế hoạch hoá trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam, thị trường vừa là căn c
ứ,
vừa là đối tượng của kế hoạch hoá. Nhà nước một mặt phải xoá bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, mặt khác phải hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường, xây
dựng và hoàn thiện các công cụ pháp luật, kế hoạch, các thiết chế tài chính, tiền tệ
và những phương tiện về vật chất và tổ chức cần thiết cho sự quản lý của mình, tạo
đ
iều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động hữu hiệu.
Kế hoạch hoá chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên
bình diện vĩ mô. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa
chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức kinh doanh. Kế hoạch hoá kinh tế vĩ
mô của nhà nước cần xác định mục tiêu, gi
ải thích rõ ý nghĩa của mục tiêu đó đối
NHÓM X
với sự phát triển trong tương lai, xác định rõ mức độ và cách thức mà khu vực kinh
tế nhà nước thực hiện mục tiêu đã định, nêu lên những lợi ích và phát triển dự định
đối với khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác để họ hành động
theo định hướng nhà nước mong muốn. Đối với các thành phần kinh tế khác, thì kế
hoạch không có tính áp đặt, mà thông qua các biện pháp chính sách thống nhất với
lợi ích để khuy
ến khích họ tự nguyện hành động theo hướng mục tiêu kế hoạch đã
đặt ra. Như vậy, muốn các doanh nghiệp ứng xử theo kế hoạch của nhà nước thì kế
hoạch hoá và chính sách phải phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.
Như vậy, đổi mới kế hoạch hoá phải ăn khớp với đổi mới cơ chế quản lý
thức to lớn đối với điều tiết tổng thể n
ền kinh tế nói chung và đổi mới kế hoạch hoá
nói riêng. Nó đòi hỏi phải nhanh chóng hình thành những chính sách khuyến khích
NHÓM X
đầu tư trong nước và nước ngoài theo hướng phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế, hỗ trợ cho quá trình hội nhập của nền kinh tế nước ta.
3.1.3. Kế hoạch hoá phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa phát triển
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu t
ố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân
cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển. Tăng
trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Công tác kế hoạch hoá phải đảm bảo sự thống nhất giữ
a yêu cầu phát triển
kinh tế đảm bảo chính sách xã hội theo tinh thần:
- Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở
khâu phân bổ hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc
tạo điều kiện cho mọ
i người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của
mình.
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các
nguồn lực khác vào kết quả kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi
đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quy
ền lợi của người lao động.
- Các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.
Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên cho mỗi người dân, các doanh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành công
nghiệp nói riêng, là một quá trình tiến hoá tuần tự mang tính nội tai phải trải qua
nhiều giai đoạn. Những tác động của kế hoạch hoá chỉ có thể đẩy nhanh hoặc rút
ngắn quá trình chuyển dịch cơ cấu, chứ không thể bỏ qua một giai đoạn nào.
Hai là, trong thời kỳ toàn cầu hoá, kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của quốc gia chủ yếu vẫn phải căn cứ vào điều kiện, tiềm năng, kỹ năng và lợi thế
hiện tại. Với cách nhìn như trên, nhà nước cần đặc biệt lưu ý và ưu tiên hỗ trợ
những ngành trọng điểm của nền kinh tế những ngành có tỷ trọng lớn và tốc độ
phát triển cao trong GDP, trong tổng số lao động sử dụng và trong tổ
ng kim ngạch
xuất khẩu. Đồng thời cần chú trọng khuyến khích một số ngành công nghệ cao, có
sức lan toả lớn và tạo động lực phát triển bền vững trong tương lai.
Nguyên tắc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng là nguyên tắc chủ đạo
trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nhiệm vụ trước hết của nhà nước
trung ương. Nhà nước trung ương thực hiện nhiệm vụ này theo hai cách. Mộ
t là, ưu
tiên đầu tư của nhà nước cho các vùng kém phát triển. Hai là, dành chính sách ưu
đãi ở mức cao hơn đối với khu vực kém phát triển để thu hút đầu tư tư nhân vào đó.
Về đầu tư của nhà nước, do nguồn vốn có hạn nên kinh phí thực hiện phát triển
vùng trong một giai đoạn cần tập trung vào một hoạch một số ít mục tiêu nhất định.
Việc phân cấp kế hoạch giữa trung
ương và địa phương cần được xác định
hợp lý và rõ ràng. Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trước hết do
chính quyền địa phương quyết định. Nhà nước trung ương chỉ tập trung thực hiện
những mục tiêu có tính hệ thống, cân đối, mà các cấp chính quyền địa phương
không thể thực hiện được. Nguyên tắc của việc phân cấp nên là: Việc gì chính
quyền cấp d
ưới, do tính chất của công việc, không thể thực hiện được thì mới
chuyển lên trên, thay cho nguyên tắc phân cấp hiện nay trong kế hoạch chủ yếu dựa
vào tính chất công việc. Việc phân cấp luôn phải đi kèm với những biện pháp kiểm
nội dung bao quát toàn bộ hoạt động của các thành phần kinh tế
, xác định hệ thống
các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, các cơ cấu và mối quan
hệ hợp lý của nền kinh tế.
Năm là, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm
tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và kích thích tất cả các thành phần kinh tế
phát triển với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
3.2. Một số gi
ải pháp đổi mới kế hoạch hoá kinh tế trong thời gian tiếp
theo:
3.2.1.Đổi mới công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội:
NHÓM X
Kế hoạch hoá là một quá trình liên tục, bao gồm chiến lược phát triển kinh tế
– xã hội, quy hoạch phát triển, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội 5
năm, kế hoạch hàng năm và chỉ đạo, điều hành thực hiện.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội có nhiệm vụ hoạch định đường hướng
phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian 10 n
ăm, là cam kết chính trị
của Đảng và nhà nước được công bố trước toàn dân và cộng đồng quốc tế về đường
lối và cách thức lãnh đạo phát triển đất nước. Nội dung của chiến lược bao gồm
việc xác định mục tiêu định tính trên các lĩnh vực như: tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, xu hướng
biến
đổi chất lượng cuộc sống của dân cư trên các vùng của đất nước, xu hướng
biến đổi khả năng cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trình độ
phát triển khoa học và công nghệ của đất nước, khả năng bảo đảm an ninh quốc
gia; Xác định các quan điểm và nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy đất nước phát
triển theo các định hướng nói trên.
Chiến lược có th
ời hạn 10 năm, nhưng theo chu kỳ 5 năm sẽ được xem xét,
Quy hoạch ngành được xây dựng dưới sự chủ trì của bộ quản lý ngành phối
hợp vớ
i những bộ có liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, … cùng
các cấp chính quyền địa phương. Quy hoạch ngành có thể được cụ thể hoá theo
không gian và thời gian. Với quan điểm là nhà nước chỉ hỗ trợ gián tiếp chứ không
can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp, chỉ nên xây
dựng quy hoạch tổng thể cho những ngành co tính chất hệ thống trong toàn quốc,
như năng lượng, viễ
n thông, giao thông vận tải. Quy hoạch phát triển những ngành
khác chủ yếu mang tính định hướng, dự báo. Quy hoạch ngành được thực hiện
thông qua những chương trình trọng điểm quốc gia và bằng nguồn lực của cả trung
ương và địa phương. Số liệu rút ra từ quy hoạch sẽ là những cơ sở quan trọng cho
các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của họ.
3.2.3. Chú trọng kế hoạch hoá định h
ướng phát triển kinh tế – xã hội 5
năm
3.2.3.1. Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra yêu cầu:
“Chuyển dần sang kế hoạch 5 năm là chính, có phân ra từng năm”. Như
vậy, kế hoạch 5 năm sẽ là trọng tâm trong hệ thống kế hoạch, là công cụ quản lý vĩ
mô quá trình phát triển trong thời hạn 5 năm. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ
tiêu cơ bản định hướ
ng cho sự phát triển của đất nước, xác định những lĩnh vực mà
kinh tế nhà nước sẽ ưu tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và
xây dựng chính sách cụ thể để hướng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định
hướng đã chọn.
Các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hướng phát triển.
Kế hoạch 5 năm ở cấp trung ươ
ng nên đặc biệt chú ý những chỉ tiêu như: (1) mức
thu nhập bình quân dầu người tại năm cuối của kỳ kế hoạch, (2) tỷ trọng công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong GDP, (3) tỷ trọng lực lượng lao động xã hội
3.2.4. Hoàn thiện kế hoạch hoá hàng năm:
3.2.4.1. Kế hoạch hàng năm không chỉ tập trung vào các mục tiêu tăng
trưởng, mà còn nhằm vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm sự phát
triển bền vững của nền kinh tế. Theo tinh thần đó thì hệ thống kế hoạch hàng năm
bao gồm:
- Kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm
ổn định
kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu phát triển của năm đó. Một nội dung quan
trọng của kế hoạch hàng năm là cân đối vốn đầu tư toàn xã hội. Cân đối này gồm 3
phần: một là, kế hoạch đầu tư của nhà nước trung ương; hai là, kế hoạch đầu tư của
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ba là, các biện pháp chính sách huy
động thêm vốn của khu vự
c kinh tế dân doanh và vốn đầu tư nước ngoài.
- Kế hoạch đầu tư của nhà nước: Quốc hội quyết định tổng mức đầu tư cụ
thể hàng năm, gồm cả tín dụng nhà nước và công trình trọng điểm khởi công trong
năm kế hoạch; Thủ tướng Chính phủ quyết định dự án đầu tư và phân bổ đầu tư cụ
thể hàng năm. Như v
ậy, về cơ bản đầu tư nhà nước trung ương sẽ tập trung chủ yếu
vào các dự án quy mô lớn phát huy tác dụng trên phạm vi liên tỉnh.
- Kế hoạch ngân sách nhà nước bao gồm kế hoạch thu chi ngân sách và cân
đối ngân sách hàng năm. Nên nghiên cứu thực hiện phương pháp “cuốn chiếu” cho
NHÓM X
việc xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn. Do thu và chi ngân sách thường
không ăn khớp nhau về thời điểm, nên Chính phủ và chính quyền các cấp được
phép vay tín dung để có thể bảo đảm kế hoạch chi tiêu.
- Kế hoạch cung ứng tiền tệ là một kế hoạch linh hoạt, và kế hoạch từng quý
sẽ là công cụ chủ yếu điều hành cung ứng tiền tệ của nền kinh tế, bảo đảm m
ục tiêu
kiềm chế lạm phát ổn định ở mức độ chấp nhận được. Kế hoạch xuất – nhập khẩu
và quản lý cán cân thanh toán quốc tế, quản lý vay và trả nợ nước ngoài; hạn chế số
chính sách gián tiếp. Về vấn đề này, những công việc cần thực hiện ngay là:
- Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của các cơ quan nhà nước, đặc
biệt là các cơ qua như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, ngân hàng nhà n
ước
Việt Nam, Văn phòng chính phủ, Văn phòng Quốc hội.