Những đổi mới trong công tác kế hoạch hóa ở Việt Nam và những phương hướng tiếp tục đổi mới công tác KHH ở Việt Nam - Pdf 10

Nhóm X
Lời mở đầu
Một thời gian khá dài trớc đây, Việt Nam đã từng duy trì một nền kinh tế tập
trung bao cấp với sự điều tiết trực tiếp những hoạt động kinh tế thông qua quá trình
đa ra những quyết định mang tính pháp lệnh từ trung ơng. Các hoạt động kinh tế
của các cấp địa phơng đều tiến hành theo những chỉ tiêu cụ thể do nhà nớc giao.
Trong thời kỳ này có thể nói rằng KHH nền kinh tế quốc dân là đặc trng và là tính u
việt riêng của cơ chế tập trung, nó đã giúp nớc ta huy động đợc các nguồn lực phục
vụ cho công cuộc kháng chiến thành công.
Tuy nhiên, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung đã thủ tiêu tính năng động và
hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị trờng hiện nay thì
một nền kinh tế mang tính cấp phát với hệ thống chỉ tiêu chằng chịt không còn phù
hợp nữa. Ngày nay, trớc xu thế hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và sự biến động
khôn lờng của cơ chế thị trờng thì Nhà nớc chỉ nên giữ vai trò điều tiết vĩ mô và
định hớng phát triển cho nền kinh tế, tạo một môi trờng vĩ mô thuận lợi cho các
hoạt động kinh tế. Vì vậy, KHH với vai trò là một trong những công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nớc cũng cần phải có sự đổi mới phù hợp với yêu cầu thực tế.
Tại Đại hội IX, Đảng ta cũng đã khẳng định cần tiếp tục tạo lập đồng bộ
các yếu tố thị trờng, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nớc,
đồng thời Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với nền
kinh tế. Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá, nâng cao chất lợng xây dựng các
chiến lợc, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Chính vì những lý do trên, bài nghiên cứu này không có mục đích gì khác là
nhằm giúp ngời đọc hiểu rõ hơn vì sao cần phải đổi mới công tác KHH ở Việt Nam,
thấy đợc những bớc tiến trong công tác KHH ở nớc ta, kinh nghiệm về làm KHH ở
một số nớc, và từ đó đa ra những ý kiến về phơng hớng đổi mới công tác KHH và
từ đó đa ra những ý kiến về phơng hớng đổi mới công tác KHH ở Việt Nam.
Bài viết kết cấu gồm ba phần:
Phần I: Lời mở đầu
Phần II: Những đổi mới trong công tác KHH ở Việt Nam và những phơng h-
ớng tiếp tục đổi mới công tác KHH ở Việt Nam.

nhất là đầu thập kỷ 90, sự thay đổi trong công tác KHH ở Pháp diễn ra theo các nội
dung sau:
Về nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch tập trung chủ yếu vào công tác dự
báo và cung cấp những biện pháp điều tiết uyển chuyển nhằm vận hành tốt hơn cơ
chế thị trờng, đồng thời thiết lập một khuôn khổ nhất quán các mục tiêu và chính
sách công trung hạn, cố gắn với một tầm nhìn dài hạn.
Về phơng pháp lập kế hoạch: tăng cờng sự tham gia đóng góp của các viện,
các tung tâm, các nhà khoa học; Nâng cao chất lợng dự báo; Vẫn đảm bảo nguyên
tắc thơng thảo với mọi tác nhân kinh tế; Nâng cao trình độ và nhận thức về việc
đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch và các chính sách kinh tế.
KHH kinh tế vĩ mô ở Nhật Bản: Nhật Bản đã sớm xây dựng nền kinh tế thị
trờng ngay từ những cuộc cải cách dới thời kỳ Minh Trị duy tân từ năm 1868, nhng
điều đó không có nghĩa là Chính phủ Nhật đã không sử dụng công cụ KHH trong
quản lý kinh tế. Mà ngợc lại, hệ thống KHH ở Nhật có những nét độc đáo và KHH
đã đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Điểm nổi bật trong công tác KHH ở Nhật, đó là mô hình KHH cuốn chiếu:
mỗi kỳ kế hoạch thờng đợc kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế hoạch
mới; các kế hoạch thờng gối đầu lên nhau. Mô hình KHH này thể hiện tính năng
động, nhạy bén và đáp ứng đợc sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trờng.
Nhóm X
KHH kinh tế của Nhật Bản chú trọng vạch ra các biện pháp chính sách mà
Chính phủ định sử dụng để quản lý nền kinh tế xét từ góc độ phát triển dài hạn. Còn
các kế hoạch phát triển chủ yếu là kế hoạch định hớng, tạo những tiền đề cho sự
phát triển của các loại hình kinh tế.
Với mô hình KHH kiểu cuốn chiếu, Nhật Bản đã đạt đợc nhiều thành công
trong quá trình phát triển kinh tế, và đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu cho
Việt Nam trong việc đổi mới công tác KHH thời gian tới.
KHH ở các nớc đang phát triển: trong những thập niên đầu tiên của quá trình
phát triển, hầu hết các nớc đang phát triển đã coi kế hoạch hoá quốc gia trực tiếp là
cơ chế tổ chức duy nhất giúp họ vợt qua những trở ngại to lớn đối với sự phát triển

không có nghĩa là từ bỏ hoặc coi nhẹ KHH kinh tế vĩ mô, mà yêu cầu đặt ra là phải
có những những thay đổi cần thiết, đáp ứng đợc những đòi hỏi và điều kiện mới của
nền kinh tế. Muốn đáp ứng đợc các yêu cầu đó, đòi hỏi phải đổi mới mạnh hơn nữa
các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công tác KHH.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII đã khẳng định
chủ trơng đổi mới quản lý nhà nớc về kinh tế xã hội là Chuyển mạnh sang
quản lý kinh tế xã hội bằng tổ chức, luật pháp, chính sách, chế độ, quy hoạch,
giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan trọng là bằng các công cụ
quản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nớc( ), đẩy mạnh công tác hoạch định
và hớng dẫn thực hiện chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phảt triển .
Nh vậy, đối với Việt Nam, KHH là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết
sức quan trọng. Vì vậy, cần phải tiến hành đổi mới công tác KHH trên tất cả các ph-
ơng diện, từ t duy, quan điểm định hớng, nội dung, phơng pháp cho đến cơ cấu tổ
chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch nhằm đáp ứng đợc đầy đủ hơn các nhu cầu của
sự phát triển kinh tế.
Nhóm X
Chơng 2:
quá trình đổi mới kế hoạch hoá ở việt nam
2.1. Thực trạng đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam.
Kế hoạch hoá trong cơ chế cũ đợc coi là công cụ chủ yếu nhất để quản ký
kinh tế. Thông qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nớc từ trung ơng đến địa ph-
ơng để xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế, điều hành,
theo dõi và xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch hoá mà nhà nớc có thể chỉ huy đợc
nền kinh tế. Việc thực hiện cơ chế đó đến đầu thập kỷ 80 đã trở thành lực cản đối
với sự phát triển kinh tế.
Công tác kế hoạch hoá trong thời kì này đợc cải tiến dần theo hớng chuyển
từ hoạch hoá tập trung mang tính chất pháp lệnh trực tiếp sang kế hoạch hoá gián
tiếp. Nhà nớc xây dựng chiến lợc phát triển với các mục tiêu lớn, các chỉ tiêu kinh
tế chủ yếu và điều tiết nền kinh tế bằng các chính sách, các công cụ kinh tế vĩ mô
để dẫn đến nền kinh tế theo định hớng đề ra cho từng giai đoạn. Các cơ quan nhà n-

tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt đợc là nền kinh tế có bớc phát triển về lực lợng sản xuất. Quan
hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân đân ta
đợc cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất nớc hơn
hẳn 10 năm trớc, khả năng tự chủ đợc nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh CNH
- HĐH đất nớc.
Nguyên nhân của những kết quả này là đờng lối đổi mới đúng đắn của
Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nớc đã phát
huy đợc nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cờng, tính năng động, sáng tạo
và nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta.
Chiến lợc này đợc điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII (1996)
với trọng tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc. Đây là sự mở đầu giai đoạn áp dụng
phối hợp chiến lợc với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn và ngắn
hạn trong hệ thống kế hoạch hoá. Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đề ra mục
tiêu tăng trởng kinh tế phù hợp có nội dung đáp ứng đợc yêu cầu của công cuộc đổi
mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong nớc và thu hút nguồn lực bên ngoài, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện
chuyển sang nền kinh tế thị trờng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đa nớc ta thoát khỏi
tình trạng kém phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân; Tạo nền tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
theo hớng hiện đại. Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng, thể chế kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN đợc hình thành về cơ bản; Vị thế của nớc ta trên trờng quốc
tế đợc nâng cao. Chiến lợc phát triển KT-XH 2001-2010 đã đề ra năm quan điểm
phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng; Coi phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nớc công nghiệp là yêu cầu cấp
thiết; Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn

ớc.
Công tác phân vùng quy hoạch đã có sự đổi mới và phát triển từ thấp đến
cao. Lúc đầu, chúng ta chia cả nớc thành bốn vùng và sau đó đã đợc thay đổi và
chia cả nớc thành bẩy vùng.
Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới
trong công tác làm kế hoạch ở nớc ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của đất nớc, cũng nh sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua thu
hút vốn đầu t nớc ngoài.
Nhóm X
2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển.
Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lợc và quy hoạch phát triển,
là một công cụ định hớng đợc thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục tiêu, các chỉ
biện pháp và các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một khoảng thời gian
nhất định.
2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hớng phát triển năm năm.
Trên cơ sở chiến lợc phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế
hoạch năm:1991-1995 và 1996-2000 đã đợc xây dựng vơí những thay đổi lớn về nội
dung nh: tăng cờng KHH vĩ mô; Từng bớc xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm đến
mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hớng, chú ý hơn đến
các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố gắng
xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng và
thực hiện các chơng trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng KT-
XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bớc đầu có sự đổi mới
trong lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phơng pháp truyền thống hay phơng pháp xây
dựng và quản lý kế hoạch năm năm thời kỳ cố định sang phơng pháp đổi mới hay
phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm theo mô hình cuốn chiếu. Cụ
thể:
Chuyển từ việc thời kỳ của năm năm là cố định sang thời gian của kỳ kế
hoạch là năm năm nhng thời kỳ kế hoạch có sự thay đổi tức là luân chuyển theo

Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đã đợc rút gọn đáng kể chỉ còn chỉ tiêu thu, chi
ngân sách nhà nớc, phân bổ vốn đầu t xây dựng cơ bản thuộc về nguồn vốn ngân
sách nhà nớc. Xoá bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản xuất và chỉ duy từ một số
chỉ tiêu về lu thông vật t, hàng hoá quan trọng nhằm ổn định cung cầu.
Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay là chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu kế
hoạch hiện vật nói chung đã đợc giảm bớt đáng kể đồng thời duy trì một số cân đối
hiện vật thiết yếu. Hệ thống cân đối hiện vật thiết yếu nh xăng dầu, lơng thực đã tỏ
ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng đợc mở
rộng và nâng cao.
Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang
chuyển dần sang điều tiết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội .
2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch:
Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản.
Hình thức giao số kiểm tra đã đợc thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết
nhằm hớng các ngành, địa phơng và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch theo
hớng mục tiêu chung của nhà nớc. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin hớng
dẫn, Bộ kế hoạch và đầu t còn cử các đoàn đến các địa phơng để hỗ trợ, giúp đỡ và
giải quyết các vớng mắc mà các địa phơng gặp phải trong khi xây dựng kế hoạch.
Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ quan của cấp trên
với cấp dới, phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của các ngành, các cấp chính
quyền địa phơng cũng nh doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch .
Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế
hoạch KH-CN, GD-ĐT, văn hoá- thông tin, y tế, xã hội, thể dục thể thao, xoá đói
giảm nghèo mà tr ớc đây thờng bị xem nhẹ và cha gắn với các kế hoạch phát triển
Nhóm X
kinh tế. Công tác kế hoạch hoá ở các lĩnh vực này sau một thời gian dài xuống cấp,
trì trệ thì nay đã có nhiều thay đổi, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Công tác dự báo, thông tin đã bớc đầu đợc tăng cờng, phơng pháp tính toán
kế hoạch đợc sửa đổi phù hợp dần với thông lệ quốc tế.

nặng.
Những hạn chế chủ yếu là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status