TRƯỜNG
KHOA ĐỀ ÁN
Văn hóa trong Kinh doanh
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn luôn coi trọng
yếu tố văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt
đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên.
Văn hoá vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của
chúng ta. Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền
kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Văn hoá ngày càng đóng
góp vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những
nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ
trong xã hội, văn hoá giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát
2
PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VĂN HOÁ TRONG KINH DOANH
I. KHÁI NIỆM VĂN HOÁ TRONG KINH DOANH
Mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh, làm thế nào để sử dụng mối
quan hệ đó, đưa văn hoá vào kinh doanh, sử dụng những đặc trưng của nền
văn hoá vào kinh doanh để đạt tốc độ tăng trưởng cao và hiệu quả là những
vấn đề đang đặt ra nóng hổi. Những vấn đề đó đã thoát ra khỏi lĩnh vực xã hội
đơn thuần mà còn trở thành mối quan tâm của chính khách, các nhà quản lý
và các nhà kinh doanh.
1. Khái niệm văn hoá.
Cho tới nay, đã có khoảng 400 – 500 định nghĩa về văn hoá. Một con số
rất lớn và không xác định như vậy nói lên sự phong phú của khái niệm văn
hoá.
Từ thế kỷ XIX (năm 1871) Edward Burrwett Tylor đã đưa ra một định
nghĩa cổ điển, theo đó văn hoá bao gồm mọi năng lực và thói quen, tập quán
của con người với tư cách là thành viên của xã hội. Với định nghĩa đó, văn
hoá bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nghi thức,
qui tắc, thể chế, chuẩn mực, công cụ, kỹ thuật, công trình nghệ thuật (hội hoạ,
điêu khắc, kiến trúc) và những yếu tố khác có liên quan đến con người.
Theo triết học Mác – Lênin: văn hoá là tổng hoà những giá trị vật chất và
tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị
đó vì sự tiến bộ của loài người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Hình thức khởi đầu và nguồn gốc đầu tiên làm hình thành
và phát triển văn hoá là lao động của con người, phương thức hiện lao động
và kết quả của lao động và kết quả lao động.
Còn theo giáo trình quản lý xã hội khái niệm văn hoá: là một thiết chế xã
hội cơ bản, là một phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo về tinh thần, vật
Văn hoá (cộng đồng, gia
đình, xóm, làng, vùng,
miền, quốc gia, nhân loại
Văn hoá hữu thể
(vật chất)
Văn hoá vô
hình(tinh thần)
Di
tích
lịch
sử
Các
côn
g
trình
kiến
trúc
Hệ
thốn
g
giao
thôn
g
Hệ
thốn
g
côn
+ Cái
t
ốt + cái h
ợp
l
ý
Sơ đồ 1: Cấu trúc văn hoá
4
- Văn hoá vật chất: là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được
thể hiện trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra kể từ các tư liệu sản xuất
cho đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội. Trong các giai đoạn khác nhau của
xã hội thì các sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh các giai
đoạn phát triển khác nhau của văn hoá.
- Văn hoá tinh thần: là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần, bao
gồm khoa học ở mức độ áp dụng của thành tựu khoa học vào sản xuất và sinh
hoạt, trình độ học vấn, tình trạng, giáo dục y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo
đức trong hành vi của các thành viên trong xã hội, trình độ phát triển nhu cầu
con người văn hoá còn bao gồm những phong tục tập quán, những phương
thức giao tiếp ngôn ngữ.
Ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ có tính chất
tương đối.
- Văn hoá mang tính giai cấp, nó phục vụ cho giai cấp nhất định. Tính
giai cấp đó biểu hiện ở chỗ văn hoá do ai sáng tạo ra, phản ánh và phục vụ
cho lợi ích của giai cấp nào, những cơ sở vật chất của văn hoá (các phương
tiện thông tin, tuyên truyền, các rạp hat ) do ai làm chủ. Tính giai cấp của
văn hoá còn thể hiện ở chức năng của văn hoá.
Nó giáo dục, xây dựng con người theo một lý tưởng – chính trị – xã hội,
đạo đức, thẩm mỹ của một giai cấp nhất định.
- Văn hoá mang tính dân tộc, mang tính cộng đồng, tổ chức và được kế
Việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh sẽ đem lạij
cho kinh doanh và chủ thể kinh doanh một sử mạng cao cả. Đó là sứ mệnh
phát triển con người, đem lại sự giàu có, hạnh phúc cho mọi người, sự phồn
vinh và vững mạnh của đất nước, sự vẻ vang của dân tộc. Nhận thức được sứ
mệnh ấy con người sẽ hay say lao động, không ngại khó khăn gian khổ, thậm
chí hy sinh cả lợi ích riêng của mình đóng góp vào lợi ích chung vì xã hội. Do
đó, văn hoá trong kinh doanh là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân tộc,
phản ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh. Bản chất của văn
hoá trong kinh doanh đó là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng cái tốt,
6
cái đẹp. Cái lợi đó tuân theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Ngược lại cái đúng, cái
tốt, cái đẹp là cơ sở bền vững cho hoạt động sinh ra cái lợi. Văn hoá kinh
doanh cuả các nhà kinh doanh, của doanh nghiệp được nhận biết qua hai
phương diện chính.
Một là: các nhân tố văn hoá (hệ giá trị, triết lý sống, tâm lý) được vận
dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hoá về dịch vụ
phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hoá. Đó chính là kiểu
kinh doanh có văn hoá, kiểu kinh doanh phù hợp với nét đẹp của văn hoá dân
tộc.
Hai là: cái giá trị, sản phẩm văn hoá như hệ giá trị, triết lý, tập tục riêng,
nghệ thuật kinhdoanh mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt
động và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương đối với
kiểu kinh doanh có văn hoá mà họ đang theo đuổi. Đó chính là lối sống có
văn hoá của các chủ thể kinh doanh.
Đề cao cái lợi của hoạt động kinh doanh gắn liền với cái đúng, cái tốt,
cái đẹp, nhằm thoả mãn có chất lượng nhu cầu và thị hiếu của đời sống xã
hội, mỗi xã hội cần định hình ra thành các truyền thống văn hoá kinh doanh
trong nền văn hoá chung của dân tộc.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HOÁ VÀ KINH TẾ.
của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể năng động hiệu quả, có tốc độ cao chừng
nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà giữa kinh tế với văn
hoá.
- Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng khu vực được coi là
những di sản quý báu bán tích lũy được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc
dân tộc. Nhưng đồng thời, với quá trình phát triển, kế thừa và giữa gìn bản sắc
riêng, nó còn tiếp thu những tinh hoa văn hoá của quốc gia, dân tộc khác, làm
cho văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc vừa có tính hiện đại phù hợp với sự phát
triển kinh tế trong điều kiện cách khoa học – kỹ thuật, làm cho vai trò của văn
hoá trong hoạt động kinh tế càng được nâng cao và thiết thực khơi dậy mọi
8
tiềm năng sáng tạo của con người, đem lại sự phát triển cao với tốc độ cao và
hài hoà trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.
9
III. VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH
DOANH.
Theo luật doanh nghiệp, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992, kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhàm mục đích sinh lợi (Điều 3, Chương I, Luật doanh
nghiệp).
Văn hoá, với tư cách là những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra, đương nhiên nó trở thành di sản, thành tiền đề cho bất kỳ quá
trình phát triển và tiếp theo. Những giá trị vật chất đã sáng tạo ra đương nhiên
là cơ sở không thể thiếu được của sự phát triển ở các giai đoạn kế tiếp. Những
giá trị văn hoá tinh thần phục vụ cho một nhu cầu không thể thiếu của con
người, nó đảm bảo chất lượng của yếu tố con người – yếu tố cơ bản trong
hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
trình giao tiếp không nắm bắt được sự khác biệt đó sẽ dẫn đến những điều
biểu hiện, hoặc xung đột về suy nghĩ và hành động. Mỗi người trong quá trình
sản xuất kinh doanh, nếu có trình độ am hiểu sâu sắc về sinh hoạt xã hội sẽ
tạo ra được các ấn tượng, các mối quan hệ tốt đẹp với người khác, tạo được
bầu không khí thoả mái tin tưởng lẫn nhau trong tập thể lao động, đảm bảo
quan hệ kinh doanh dễ dàng.
3. Các di sản văn hoá của một nền văn minh cổ xưa có vai trò tạo ra
động lực tinh thần trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích so sánh các quá trình phát triển và tồn tại của một nền văn
minh giúp cho con người hiện đại nhìn lại từ quá khứ, biết được khả năng của
chính dân tộc mình, từ đó xem xét hiện tượng và hướng tới tương lai.
4. Các yếu tố văn hoá trong kinh doanh tạo sự phát triển hài hoà,
lành mạnh của mỗi quốc gia, tạo ra sức sống của sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ trên thị trường, tạo ra sức mạnh cộng đồng cho phát triển, tạo
điều kiện cho tái sản xuất lao động, góp phần nâng cao năng suất lao
động và hiệu quả kinh doanh
Mọi nền sản xuất, suy cho cùng đều nhằm thoả mãn ngày càng cao các
lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Đó vừa là mục tiêu, vừa là động
11
cơ thúc đẩy hành động của con người. Nếu quá trình kinh doanh chỉ vì lợi
nhuận đơn thuần như vậy thì về mặt kinh tế, quốc gia đó sẽ phát triển lệch
lạch những ngành và lĩnh vực ít lợi nhuận sẽ không phát triển được và do vậy
không thể đáp ứng được mọi nhu cầu của con người. Về mặt xã hội, con
người sẽ mất nhân cách đạo đức xã hội xuống cấp, tội ác gia tăng.
Nói đến kinh doanh, là nói đến việc sử dụng tri thức và kiến thức. Sử
dụng tri thức đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cá nhân, các cộng
đồng người để khai thác hết kho tàng tri thức đó phục vụ cho sản xuất kinh
doanh, trí tuệ của mỗi người sẽ bổ sung cho nhau tạo ra trí tuệ tập thể ở một
trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét đẹp văn hoá trong kinh
chỗ việc làm, còn doanh nghiệp dãn doanh đóng góp đáng kể cho nền kinh tế
năm 2000 có 14413 doanh nghiệp với đăng ký với số vốn 13700 tỷ đồng, năm
2001 ước tính có trên 1800 doanh nghiệp mới đăng ký với số vốn khoảng
22.000 tỷ đồng, chưa kể vốn đăng ký bổ sung. Tổng cộng cả hai năm, có
32413 doanh nghiệp mới đăng ký, gần bằng tổng số doanh nghiệp mới đăng
ký trong chín năm, từ 1991 đến 1999 (45005 doanh nghiệp). Theo báo nhân
dân số ra ngày 25 – 11 – 2002 thì đến cuối năm 2002 ngoài khoảng 5.000
doanh nghiệp Nhà nước đã có gần 80.000 doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp, cùng hơn 2,1 triệu cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể trong toàn
quốc. Các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn
lao động tại chỗ, đầu tư vốn ít, thu hồi vốn nhanh, linh hoạt, nhanh nhậy, đổi
mới công nghệ dễ dàng chuyển đổi thích ứng với yên cầu của thị trường.
Bên cạnh sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế, cùng sự đóng góp to lớn trong phát triển. Thì mặt trái của nó tác động
nên nền kinh tế là rất lớn. Mặt trái ở đây có thể hiểu là những tiêu cực hay
cách khác đó là những biểu hiện kém văn hoá trong kinh doanh.
Từ thực tế thấy rằng, các doanh nghiệp ở nước ta vẫn chưa chú ý tới sự
cần thiết tất yếu của văn hoá kinh doanh trong hoạt động của mình. Những áp
lực kinh tế, nhất là áp lực chạy theo lợi nhuận, hiện không làm cho các doanh
nghiệp chú ý tới vấn đề văn hoá kinh doanh hoặc coi đó là yếu tố phụ trợ.
13
Nạn sản xuất hàng giả, hàng nhái nhãn mác, hàng kém chất lượng, kém
phẩm chất, nấp bóng lợi dụng những nhãn hiệu có uy tín trên thị trường và
tìm cách trà trộn với hàng thật, hàng có chất lượng tốt để tiêu thụ, lừa bịp
người tiêu dùng. Do kinh doanh quản lý kém, tổ chức sản phẩm không cạnh
tranh được trên thị trường đưa đến thua lỗ phá sản, nhập hàng lậu vào trong
nước để trốn thuế, gây thiệt hại cho nguồn thu ngân sách nhà nước.
Theo số liệu thống kê trong 4 năm (1999 – 2003) cả nước xảy ra trên
1000 vụ ngộ độc thực phẩm với số người mắc lên hàng nghìn, trong đó có
Thiếu vốn 48 33
Nợ khó đòi 30 18
Cạnh tranh 40 9
Thiết bị lạc hậu 32 6
Địa điểm bất lợi 15 3
Lãi suất cao 11 2
Thay đổi bất thường 11 2
Bảng 1: Nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp mới, theo đối tượng
quan sát.
Vậy quản lý tồi là như thế nào? Đây là một phạm trù khá rộng đã được
bàn nhiều đến trong các nghiên cứu về quản trị kinh doanh. Cách tiếp cận mới
nhằm giúp những người quản lý hiểu thêm một khía cạnh còn chưa được quan
tâm đúng mức của quản lý hiện đại, vấn đề hiện nay của các công ty thành đạt
sử dụng như một vũ khí cạnh tranh có sức mạnh tuyệt đối. Đó là “bản sắc”
hay văn hoá doanh nghiệp.
Để được xã hội chấp nhận, doanh nghiệp cần chú trọng tới việc xây dựng
hình ảnh của mình thành những biểu tượng bằng chính những viên gạch đạo
đức trong kinh doanh chính vì tính quan trọng của văn hoá trong kinh doanh,
mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa xây dựng được hình ảnh cho
mình, đổi lại tạo ra tác động xấu đối với nền kinh tế. Biểu hiện tác động xấu
này, làm cho nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay không được người tiêu
15
dùng thừa nhận. Tạo ra sự phát triển bấp bênh của nhiều doanh nghiệp. Cộng
hưởng tới nền kinh tế, làm cho nền kinh tế ta bị ảnh hưởng. Làm sự tác động
ngược trở lại đối với các doanh nghiệp, kìm hãm sự phát triển của các doanh
nghiệp. Để phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam cần đi đúng với quy luật
của nền KTTT. Cần coi trọng “đạo đức kinh doanh”, biến nó là vũ khí cho sự
tồn tại cạnh tranh và phát triển.
447
422
372
360
270
187
120 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Số lượng doanh nghiệp đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao
(phụ trương Sài Gòn tiếp thị, thời báo kinh tế Sài Gòn số 4, tháng 1- 2003).
Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành thương mại đã đạt có sự tăng trưởng vượt
bậc. Xuất khẩu năm 2000 tăng gấp 6 lần so với năm 1990, tổng mức bán lẻ
hàng hoá và doanh thu dịch vụ ở thị trường trong nước tăng 6 lần so với cùng
kỳ
Qua đó, thấy được nét văn hoá trong kinh doanh được thể hiện rõ ở các
điểm: kinh doanh đạt năng suất cao, giá thành hạ, tạo ra nhiều sản phẩm (giá
trị) và giá trị thặng dư cho xã hội, sản phẩm đạt chất lượng cao, được xã hội
và người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận, hoạt động kinh doanh đảm
bảo chính sách, tuân thủ pháp luật, làm tròn nghĩa vụ với nhà nước (thuế) tạo
ra lòng tin (chữ tín) vững chắc, ổn định đối với khách hàng trong và ngoài
nước. Các đơn vị như nông trường Sông Hậu ở Cần Thơ Công ty mía đường
Lam Sơn (Thanh Hoá). Công ty sữa Việt Nam Vinamilk là những điển hình
về văn hoá kinh doanh.
III. ĐƯA NHÂN TỐ VĂN HOÁ VÀO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Xu thế tiến bộ của thế giới chỉ trở thành nguồn lực nội sinh khi nhận biết
và dám hành động theo quy luật phát triển. Chỉ dừng lại ở nhận thức tư tưởng
18
Muốn vậy, trong các chiến lược và chính sách cũng như tổ chức thực
hiện phải phản ánh được yêu cầu của thang gíatrị mới.
Từ yêu cầu này, cần đổi mới quan điểm và phương pháp đánh giá, các
tiêu chuẩn đánh giá về hiệu quả của hoạt động kinh tế, về con người lao động,
người lãnh đạo, quản lý kinh tế – xã hội. Muốn xây dựng quan điểm, phương
pháp và tiêu chuẩn đánh giá theo thang giá trị mới, cần phải xuất phát từ việc
phân tích thực tiễn nước ta và thế giới.
Sự áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá này trước hết phải bắt đầu từ trên
xuống bắt đầu từ cấp trưởng trong các đơn vị, có như vậy mới tránh khỏi
được tình trạng biến các tư tưởng tốt đẹp thành khẩu hiệu hô hào suông.
3. Từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị,
nâng cao tầm vóc và hiệu quả của nó.
Đối với mỗi nước, hệ thống chính trị là nhân tố có ý nghĩa quyết định
trực tiếp sự phát triển của đất nước. Ngày nay vấn đề “văn hoá với chính trị”
trở thành vấn đề cốt lõi trong xu thế vận động kết hợp tăng trưởng kinh tế với
văn hoá.
4. Áp dụng hệ thống ISO trong sản xuất kinh doanh ở tất cả các
doanh nghiệp.
Việc áp dụng này, tạo ra sự kiểm tra các giai đoạn sản xuất, từ đó tạo ra
sản phẩm đầu ra chất lượng tốt, tạo ra sự quan tâm tới người lao động trong
chính các giai đoạn sản xuất đó. Sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao, giá
thành hạ rễ được khách hàng chấp nhận hơn. Giúp cho sản phẩm có thể cạnh
tranh được với các sản phẩm khác trên thị trường, tạo ra sự thuận lợi kinh
doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp không phải chộp giật, tìm cách tồn tại
mà dành nhiều thời gian, chi phí đầu tư cho công nghệ, cho phát triển. Tạo ra
các sản phẩm có chất lượng đảm bảo ở các giai đoạn sản xuất trong tương lai.
19
20
hơn tính văn hoá, đạt được kinh tế rồi thì kinh tế sẽ bù lấp văn hoá. Ý nghĩ
này không chỉ nằm ở đại đa số những người kinh doanh mà còn tồn tại trong
phần lớn tầng lớp của xã hội. Vẫn cho nhân tố văn hoá là thứ yếu xếp sau
kinh tế, việc đạt được kinh tế rồi mới nghĩ đến văn hoá, thậm chí còn nghĩ
rằng kinh doanh chi phối và bao trùm cả văn hoá.
Chính vì sự coi nhẹ văn hoá, nghĩ rằng kinh doanh chi phối và bao trùm
cả văn hoá. Cho nên các doanh nhân nói chung và các doanh nghiệp nói riêng,
vẫn cứ theo đuổi hành vi kinh doanh bất chấp đạo đức, bất chấp sự tồn tại đến
người tiêu dùng. Theo đuổi cái lợi vì lợi nhuận, quên đi công tác xây dựng
cho mình một hình ảnh, một bản sắc văn hoá doanh nghiệp. Mà tương lai
không xa xu thế cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh là kinh doanh có văn
hoá. Các nhà nghiên cứu đã tổng kết rằng trong quá trình vận động và phát
triển của kinh tế thị trường, phương thức cạnh tranh là văn hoá kinh doanh,
tức là sắc thái kinh doanh đặc sắc dựa trên nền tảng phương thức tác động
tổng hợp với hành vi ứng xử, tôi quyết định lựa chọn người tiêu dùng.
Mặt khác, do môi trường kinh doanh có văn hoá còn khá mới mẻ trong
nhận thức. Kèm theo sự chưa chú ý của nhà nước cũng như các cơ quan quản
lý tới vấn đề văn hoá trong kinh doanh nên chưa có sự chỉ đạo kịp thời, cũng
như điều chỉnh để tạo ra một môi trường văn hoá kinh doanh thuận lợi. Biểu
hiện ở đây là nhà nước và các cơ quan quản lý đề ra các chính sách và cơ chế
quản lý kinh doanh hiện hành cũng mới chỉ chú ý tới các khía cạnh kinh tế, xã
hội và môi trường của kinh doanh. Sự thiếu vắng hoặc mờ nhạt của khía cạnh
văn hoá trong các chính sách và cơ chế quản lý kinh doanh hiện hành có
nguyên nhân cơ bản bắt nguồn từ sự thiếu hụt rõ ràng trong nhận thức của các
nhà hoạch định chính sách.
Còn thiếu định hướng xã hội nhằm vào tạo dựng văn hoá kinh doanh,
văn hoá tiêu dùng, tạo nên bầu không khí và áp lực dư luận xã hội về vấn đề
này. Sự chú ý của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ ở nước ta cho
đến nay hầu như còn vắng trên lĩnh vực này.
thứ tuân thủ pháp luật, bảo tồn vốn của nhà nước và làm nghĩa vụ nộp ngân
22
sách, giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp ( cung cấp thiết bị điện, nước,
tài chính, nguyên liệu, vật liệu ) giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa
doanh nghiệp với các đối tác cạnh tranh hay bạn hàng Ngay từ khâu tuyển
dụng, cần đặt ra yêu cầu cao đối với nhân sự, buộc các thành viên mới tham
gia doanh nghiệp phải phát huy trí lực, tính năng động, sáng tạo trong việc tạo
ra hiệu quả của công việc. Tạo dựng không khí thi đua, phấn đấu của toàn đơn
vị. Trong kinh doanh hiện đại, xây dựng nền văn hoá doanh nghiệp còn tổ
chức ký đi tham quan, nghỉ mát, tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, văn
hoá thể thao để tạo ra bầu không khí lành mạnh thoả mái sau những ngày
làm việc căng thẳng. Tất cả những yếu tố đó góp phần tạo một “bầu không
khí” riêng, một bản sắc tinh thần đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp so
với các doanh nghiệp khác.
3. Xây dựng một đội ngũ doanh nhân văn hoá.
Văn hoà là một thước đo, bên cạnh thước đo về kỹ năng chuyên môn để
đánh giá cán bộ xí nghiệp, nhất là cán bộ chỉ huy, quản lý. Nếu các nhà kinh
doanh có trình độ văn hoá (không phải chỉ là bằng cấp chuyên môn), họ sẽ có
nhiều cơ hội đóng góp vào sự nghiệp phát triển có văn hoá, hạn chế rất nhiều
sự phát triển kinh tế không văn hoá, tức là hạn chế những kiểu kinh doanh bất
chính, phi nhân bản. Phải bằng các biện pháp giáo dục, giáo dục kiến thức văn
hoá cho các nhà doanh nghiệp để giúp họ nâng cao nhận thức và hành động.
Phải thông qua các chương trình văn học nghệ thuật, thông tin nghe nhìn, giải
trí, du lịch, câu lạc bộ để giáo dục những người làm kinh tế, kinh doanh nhất
là những người chủ chốt, cũng như những người tiêu dùng.
Doanh nhân văn hoá đòi hỏi phải có những phẩm chất như chủ nghĩa yêu
nước và ý thức công dân, cạnh tranh lành mạnh, tôn trọng khách hàng và thực
hiện tốt trách nhiệm xã hội, tham mưu cho nhà nước về đường lối, chiến lược
và chính sách kinh tế, đề xuất các giải pháp và là cầu nối cho nhà nước trong