Thực Trạng Công Tác Hoạch Toán Tiền Lương Và Các Khoản Trích Theo Lương Tại Xí Nghiệp Môi Trường Đô Thị Số 4 - Pdf 96

LỜI MỞ ĐẦU
Lao động của con người theo Mác là một trong 3 yếu tố quan trọng và
quyết định sự tồn tại của quá trình sản xuất, lao động giữ vai trò quan trọng và
chủ chốt trong việc tái tạo ra của cải vật chất tinh thần cho xã hội. Lao động
có năng suất, có chất lượng và đạt hiệu quả cao là nhân tố đảm bảo cho sự
phồn thịnh của mọi quốc gia.
Trên thực tế người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi
sức lao động của họ bỏ ra được đền bù xứng đáng. Đó là số tiền mà người sử
dụng lao động trả cho người lao động để họ có thể tái sản xuất sức lao động,
đồng thời có tích luỹ, được gọi là tiền lương. Tiền lương là một bộ phận của
sản phẩm xã hội , nguồn khởi đầu của quá trình tái sản xuất tạo ra sản phẩm
hàng hoá. Vì vậy việc hạch toán phân bổ chính xác tiền lương vào giá thành
sản phẩm, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động sẽ góp
phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời làm
tăng năng xuất lao động, tăng tích luỹ, cải thiện đời sống cán bộ công nhân
viên.
Chính sách tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ
thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh và phụ thuộc vào tính
chất công việc. Xí nghiệp môi trường đô thị số 4 là một thành viên của Trung
Tâm Giống Cây Trồng với nhiệm vụ duy trì vệ sinh môi trường trên địa bàn
hai quận Đống Đa và Thanh Xuân bảo tồn và phát triển vốn do ngân sách nhà
nước cấp, thực hiện sản xuất kinh doanh có lãi nhằm đảm bảo đầy đủ việc làm
và không ngừng nâng cao đời sống cho người lao động, hoàn thành nghĩa vụ
đóng góp cho nhà nước. Vì vậy, việc xây dựng một cơ chế trả lương phù hợp,
hạch toán đủ và thanh toán kịp thời có 1 ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng
như chính trị.
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYÊN ĐỀ
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC LỰA CHỌN:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp bao giờ cũng phải kết
hợp đồng thời ba yếu tố cơ bản đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu

chất lượng các doanh nghiệp hạch toán tiền lương trên cơ sở nhà nước ban
hành các hình thức trả lương phù hợp đối với người lao động, phù hợp với
trình độ, công việc của mỗi người và phải phù hợp với điều kiện của doanh
nghiệp mình. Về mặt số lượng doanh nghiệp phải sử dụng lượng lao động hợp
lý để từ đó tiết kiệm tiền lương và hạ giá thành sản phẩm. Điều này có ý nghĩa
rất lớn và vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Quản lý lao động tốt không chỉ đem lại sự tiết kiệm trong chi phí tiền
lương, không xảy ra hiện tượng hao phí thừa thãi lao động mà doanh nghiệp
còn hạn chế được sự di chuyển, thay đổi lao động từ nơi này sang nơi khác
nghĩa là những người lao động có tay nghề cao sẽ chuyển sang nơi làm việc
có thu nhập lớn hơn, những lời mời hấp dẫn hơn. Từ đó mà có doanh nghiệp
có số lao động tay nghề vững nhiều còn một số doanh nghiệp sẽ dần mất đi
những người lao động giỏi nếu như không có sự quản lý chặt chẽ. Sự mất cân
bằng, trong nội bộ doanh nghiệp bị phá vỡ, tiến trình sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả. Nếu công tác tổ chức kế toán tiền lương tại các doanh nghiệp
được tổ chức khoa học, hợp lý giúp cho việc hạch toán kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung đi vào nề nếp nên từ giảm đưọc các khoản chi phí không
cần thiết. Vì vậy vấn đề tiết kiệm chi phí sản xuất nói chung luôn được đặt
trong mối quan hệ với các chi phí khác.
Hoàn thiện việc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế đang tồn tại trong các doanh nghiệp nhà nước
hiện nay. Đồng thời trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi cũng mạnh dạn đề
xuất 1 số giải pháp nhằm góp phần vào việc Hoàn thiện công tác hạch toán
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 3
tiền lương và các khoản trích theo lương ở các doanh nghiệp nhà nước nói
chung và ở Xí nghiệp môi trường đô thị số 4 nói riêng.
3. PHẠM VI ĐỀ TÀI
Tiền lương có vai trò quan trọng trong Doanh nghiệp, nó là công cụ
khuyến khích vật chất đối với người lao động, là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
chất lượng của quá trình Sản xuất kinh doanh, là một bộ phận cấu thành nên

vực này.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Dựa vào tình hình hoạt đọng thực tế
của Xí nghiệp MTĐT số 4, kết quả hoạt động của Xí nghiệp trong các năm
qua, hoạt động của phòng Tài chính Kế toán của Xí nghiệp, các quy chế, nội
quy, điều lệ của Xí nghiệp … cùng với sự vận dụng những kiến thức chuyên
môn thu nhận được để đánh giá những ưu điểm và những tồn tại của Xí
nghiệp đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục.
Phương pháp tư duy lozic: Chuyên đề này được xây dựng theo bố cục
từ lý luận khoa học đến thực tiễn hoạt động; từ đó đưa ra những nhận xét và
giải pháp dưới sự chỉ bảo tận tình của thày giáo hướng dẫn cũng như sự giúp
đỡ, tạo điều kiện của các cô chú Cán bộ nhân viên hiện đang công tác tại Xí
nghiệp MTĐT số 4.
5. NÔI DUNG CHUYÊN ĐỀ :
Chuyên đề “ Hoàn thiện công tác hoạch toán tiền lương và các khoản phải
trích theo lương ” gôm có 3 phần chính :
Phần I: Cơ sở Lý luận chung về công tác hoạch toán tiền lương và các khoản
trích theo lương ở các Doanh nghiệp ( Bản chất, khái niệm, vai trò của tiền
lương, các hình thức tiền lương ….)
Phần II: Thực trạng Công tác hoạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương tại Xí nghiệp MTĐT số 4 (Giới thiệu về Công ty MTĐT Hà nội, Xí
nghiệp MTĐT số 4, Phòng Tài Chính Kế toán Xí nghiệp, phương pháp hoạch
toán…)
Phần III: Một số đánh giá về công tác hoạch toán tiền lương và các khoản
trích theo lương của Xí nghiệp MTĐT số 4 ( Nhận xét, Đánh giá, Biện pháp
khắc phục …)
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 5
PHẦN THỨ NHẤT
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH
THEO LƯƠNG Ở TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I. LÝ LUẬN CHUNG TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÔNG TÁC HẠCH TOÁN

thời nó còn tạo cơ sở cho việc tính, trả lương theo đúng nguyên tắc phân phối
theo lao động và là căn cứ để xác định các khoản nghĩa vụ phải nộp cho Ngân
sách, cho các cơ quan phúc lợi xã hội.
b. Vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương.
Tiền lương có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, nó là công cụ
khuyến khích vật chất đối với người lao động, là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
chất lượng của sản xuất kinh doanh, là một bộ phận cấu thành nên chi phí sản
xuất.
Trên thực tế cái mà nguời lao động quan tâm không phải là khối lượng
tiền lương mà là khối luợng tư liệu sinh hoạt mà họ nhận được thông qua tiền
lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Tiền lương danh nghĩa là khối lượng tiền trả cho nhân viên dưới hình
thức tiền tệ. Đó là số tiền thực tế người lao động nhận được.
Tiền lương thực tế được sử dụng để xác định số lượng hàng hoá tiêu
dùng và dịch vụ người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa.
Về phương diện hạch toán tiền lương công nhân doanh nghiệp sản xuất
được chia làm hai loại:
Tiền lương chính: Tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian
thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm: tiền lương trả theo cấp bậc và các
khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực...).
Tiền lương phụ: Tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian thực
hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên
nghỉ được hưởng lương theo quy định của chế độ (nghỉ phép, nghỉ vì ngừng
sản xuất...).
Việc phân chia tiền lương thành lương chính, lương phụ có ý nghĩa quan
trọng với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm.
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 7
Ngoài tiền lương để tái sản xuất sức lao động và đảm bảo cuộc sống lâu
dài cho người lao động, theo chế độ hiện hành thì doanh nghiệp còn phải trích
vào chi phí sản xuất kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản trích bảo

thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
a). Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp một cách trung thực, kịp thời,
đầy đủ, chính xác tình hình hiện có và sự biến động về số lượng, chất lượng
lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động về kết quả lao động tính toán
chính xác, kịp thời, nhanh chóng, đúng chế độ các khoản tiền lương, tiền
thưởng, các khoản trợ cấp, phụ cấp cho người lao động. Đồng thời phải phản
ánh đầy đủ, đáp ứng kịp thời, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên
cho người lao động và tình hình chấp hành các chinh sách chế độ về lao động
tiền lương.
b). Tính toán phân bổ đúng đối tượng các khoản tiền lương và các khoản
trích theo lương đồng thời phân bổ chi phí nhân công cho các đối tượng sử
dụng lao động một cách chinh xác phục vụ cho việc tập hợp chi phí, tính giá
thành sản phẩm.
c). Lập báo cáo về lao động, tiền lương và các khoản trích theo luong
thuộc trách nhiệm của kế toán. Đồng thời tiến hành tổ chức phân tích tình
hình quản lý, sử dụng lao động, thời gian và kết quả lao động và tình hình
quản lý tiền lương , quỹ BHXH, đề xuất các biện pháp khai thác có hiệu quả
tiềm năng lao động sẳn có trong doanh nghiệp mình.
d). Phân loại lao động : Do lao động trong doanh nghiệp có nhiều khác
nhau nên để cho việc quản lý và hoạch toán thuận lợi, cần thiết phải tiến hành
phân loại. Phần loại lao động là việc sắp xếp lao động vào các nhóm khác
nhau theo đặc trưng nhất định. Về mặt quản lý và hạch toán lao động thường
được phân theo các tiêu thức sau:
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 9
* Phân theo thời gian lao động: Theo cách phân loại này lao động có thể
chia thành lao động thường xuyên (bao gồm cả hợp đồng ngắn hạn và dài
hạn) lao động tạm thời, mang tính thời vụ. Cách phân loại này giúp cho doanh
nghiệp dễ dàng nắm bắt được tổng số lao động của mình từ đó có kế hoạch sử
dụng, bồi dưỡng, tuyển dụng và huy động khi cần thiết. Đồng thời xác định
được các khoản nghĩa vụ với người lao động và với nhà nước được chính xác.

II. HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP KHÁC VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH
THEO LƯƠNG.
1. Các hình thức tiền lương
Thực chất của việc trả lương là các quy phạm được thừa nhận để xác
định tiền lương phải trả cho người lao động dựa trên số lượng sức lao động dã
hao phí.
Tiền lương của ngưòi lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao
động, nó cũng được trả theo năng suất lao động, chất lượng hiệu quả lao
động. Mặt khác tiền lương có thể được trả theo thời gian làm việc(giờ, ngày,
tuần, tháng) hoặc trả theo khối lượng công việc hoàn thành ... Kết hợp với chế
độ phụ cấp, tiền lương, tiền làm ngoài giờ, trong chi phí nhân công có bộ
phận thuộc chi phí trực tiếp, gián tiếp, có loại biến phí, có loại định phí ...
Việc tính và trả chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác
nhau tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ
quản lý của doanh nghiệp. Mục đích cuả chế độ tiền lương là nhằm quán triệt
nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế ở Việt nam hiện nay các
doanh nghiệp thường áp dụng các hình thức tiền lương sau:
+ Tiền lương theo thời gian
+ Tiền lương theo sản phẩm
+ Tiền lương khoán
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 11
1.1. Tiền lương theo thời gian: Đây là hình thức mà tiền lương được
dựa trên khả năng, thao tác, trình độ kỷ thuật và thời gian làm việc thực tế.
Hình thức này mang tính chất bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản
xuất, không đánh giá đúng kết quả lao động của mỗi người, không đảm bảo
được nguyên tắc '' làm theo năng lực, hưởng theo lao động '' theo hình thức
này thì:
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 12
Tiền lương thời gian Thời gian Đơn giá tiền lương
phải trả cho CNV = làm việc x theo thời gian

xuất ... thực chất của chế độ này là sự kết hợp giữa việc trả lương theo thời
gian giản đơn và tiền thưởng khi công nhân vượt mức những chỉ tiêu chất
lượng và số lượng quy định.
Tiền lương = mức lương theo thời gian + thưởng.
Hình thức trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả
lương theo thời gian giản đơn vừa phản ánh được thực tế vừa khuyến khích
được người lao động có trách nhiệm trong công việc. Hình thức trả lương này
là một trong những biện pháp kích thích vật chất đối với người lao động tạo
cho họ gắn bó với công việc.
1.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tính theo khối lượng( số
lượng ) sản phẩm, công việc hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng quy định
và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó.
Tiền lương Khối lượng(số lượng) SP đơn giá
phải trả = công việc hoàn thành x tiền lương
CNV đủ tiêu chuẩn sản phẩm
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệu hoạch
toán kết quả lao động, chẳng hạn như phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công
việc hoàn thành và đơn giá tiền lương mà Doanh nghiệp áp dụng đối với từng
loại sản phẫm, công việc . Đây là hình thức trã lương phù hợp với nguyên tắc,
phân phối theo lao động, gắn chặt số lượng lao động với chất lượng lao động,
khuyến khích ngưới lao động hăng say lao động, góp phần làm tăng thêm sản
phẩm cho xã hội. Trả lương theo sản phẩm là hình thức lương cơ bản đang áp
dụng trong khu vực sản xuất vật chất hiện nay. Tiền lương mà công nhân
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 14
nhận được phụ thuộc vào đơn giá để hoàn thành một đơn vị sản phẩm. Hình
thức trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương theo thời
gian.
Trong việc trả lương theo sản phẩm đòi hỏi việc xây dựng cá định mức
kinh tế kỷ thuật chính xác để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương

Tiền lương = Tiền lương của x mức độ hoàn thành
công nhân phụ kế hoạch của công nhân chính.
+ Ưu điểm: Cách trả lương này khuyến khích công nhân phục vụ tốt hơn
cho công nhân chính.
+ Nhược điểm do phụ thuộc vào kết quả của công nhân chính nên việc
trả lương chưa thật chính xác.
- Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định thường được
gọi là tiền lương sản phẩm giản đơn.
- Trả lương theo sản phẩm tập thể: hình thức trả lương này áp dụng đối
với những công việc cần một tập thể công nhân thực hiện, lắp ráp thiết bị, sản
xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền.
+ Ưu điểm khuyến khích công nhân trong tổ nâng cao trách nhiệm.
+ Nhược điểm sản lượng của từng công nhân không trực tiếp quyết định
tiền lương của họ do vậy ít kích thích công nhân nâng cao năng suất cá nhân.
- Tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất
nâng cao chất lượng sản phẩm ... gọi là tiền lương sản phẩm có thưởng, là tiền
lương trả cho công nhân lao động căn cứ vào số lượng sản phẩm đã sản xuất
ra theo đơn giá mỗi đơn vị sản phẩm kết hợp với một hình thức tiền thưởng
khi hoàn thành (hoặc hoàn thành vượt mức). Các dữ liệu quy định như : tiết
kiệm nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm ... Thực chất của chế độ
này là sự hoàn thiện hơn của chế độ sản phẩm trực tiếp, công nhân theo chế
độ này ngoài tiền lương được lĩnh theo đơn giá sản phẩm trực tiếp người công
nhân được hưởng thêm một khoản lương nhất định căn cứ vào trình độ hoàn
thành các chỉ tiêu tiền thưởng.
- Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá sản phẩm tăng dần (luỹ tiến)
áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt khối lượng sản phẩm đựoc gọi là tiền
lương sản phẩm luỹ tiến. Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến áp dụng để trả
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 16
lương cho công nhân làm việc ở khâu trọng yếu. Tiền lương sản phẩm được
tính theo đơn giá lượng sản phẩm tăng dần (luỹ tiến). Những sản phẩm nằm

Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 17
Hình thức trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm là hai hình thức
chủ yếu được áp dụng cho các doanh nghiệp hiện nay. Hai hình thức này có
thể áp dụng kết hợp hoặc riêng lẻ tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất, cơ chế
trình độ quản lý ở từng đơn vị.
1.2. Các khoản trích theo lương:
a). Bảo hiểm xã hội:
Nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất góp phần
ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người
lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, mất việc hoặc gặp các khó khăn khác. Mọi người lao động có tham
gia đóng BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Chính sách BHXH được áp
dụng đối với tất cả các thành viên trong xã hội, đối với tất cả người lao động
làm việc trong mọi thành phần kinh tế. Việc quản lý và sử dụng quỹ BHXH
phải thống nhất theo chế độ Tài chính của nhà nước và theo nguyên tắc hạch
toán độc lập.
Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH tại doanh nghiệp bằng 20% so với
tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao
động thực tế. Trong đó cơ cấu nguồn quỹ được quy định như sau:
- Nguồn sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương của
người tham gia BHXH trong doanh nghiệp và được tính vào chi phí SXKD
trong đó 10% chi các chế độ hưu trí, tử tuất.
5% chi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.
- còn 5% trên tổng quỹ lương tháng do người lao động trực tiếp đóng
góp ( trừ trực tiếp vào thu nhập của người lao động).
b). BHYT
Thực chất là sự trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp
đỡ họ một phần nào đó trang trải tiền khám, chữa bệnh; tiền viện phí, thuốc
men. Mục đích của BHYT là tạo lập một mạng lưới bảo vệ sức khoẻ cho toàn
cộng đồng, không kể đến địa vị xã hội hay mức thu nhập cao hay thấp. BHYT

bảo chi phí ổn định giữa các tháng trong năm.
3.2 Chế độ phụ cấp :
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 19
Theo điều 4 nghị định 26/CP ngày 23 - 5 - 1995 có 7 loại phụ cấp:
- Phụ cấp khu vực được trả cho những người làm việc ở những vùng xa
xôi hẻo lánh.
- Phụ cấp có điều kiện được trả cho những người làm việc trong môi
trường độc hại nhưng chưa được xác định trong mức lương.
- Phụ cấp ca 3: được trả cho những người làm việc ban đêm từ 22h đến 6 h sáng.
- Phụ cấp thu hút: được trả cho những người làm việc tại những vùng
kinh tế mới xa đất liền.
- Phụ cấp đắt đỏ: trả cho những người sống tại những vùng có chỉ số sinh
hoạt lớn hơn chỉ số giá cả bình quân chung cả nước 10%.
- Phụ cấp lưu động: trả cho những người thường xuyên thay đổi địa điểm
làm việc nơi ở.
3.3. Chế độ thưởng:
- Thực chất là một khoản tiền lương bổ sung nhằm quán triệt đầy đủ hơn
nguyên tắc phân phối theo lao động. Trong cơ cấu thu nhập của người lao
động, tiền lương là một phần có tính cố định thường xuyên, thưởng chỉ là một
phần thêm và phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh. Cơ chế:
+ Từ quỹ khen thưởng và phúc lợi, trích từ lợi nhuận theo thông tư số 25/LĐ -
TT ngày 26 - 10 - 1992 của Bộ lao động được gọi là chế độ thưởng đột xuất.
+ Từ quỹ tiền lương được tính vào chi phí được gọi là thưởng thường xuyên.
III. QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN LIÊN QUAN.
1. Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp
phải trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý.
Thành phần quỹ tiền lương bao gồm nhiều khoản như lương thòi
gian( tháng, ngày, giờ) lưong sản phẩm, phụ cấp( cấp bậc, khu vực, chức
vụ ...) tiền thưỏng trong sản xuất. Quỹ tiền lương bao gồm nhiều loại tuy

nẳy sinh nhiều hình thức bảo hiểm tạo nguồn tài chính, các quỹ này có được
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 21
chính từ việc tính trích một phần tiền lương của người lao động và chúng là
các khoản trích theo lương.
2. Các khoản trích theo lương:
Ngoài tiền lương người lao động còn dược hưởng các khoản trợ cấp
thuộc phúc lợi xã hội trong đó bao gồm trợ cấp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm
y tế.
a. Quỹ bảo hiểm xã hội( BHXH ): Được hình thành bằng cách trích theo
tỷ lệ quy định trên tổng số quỹ lương cấp bậc hệ số chênh leẹch bảo lưu(nếu
có) và các khoản phụ cấp(cấp bậc, chức vụ, khu vực, đắt đỏ, thâm niên) của
CNV thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện hành, tỷ lệ trích BHXH
là 20%, trong đó 15% do đơn vị hoặc người sử dụng lao động nộp, được tính
vào chi phí kinh doanh, 5% do người lao động đóng góp và được tính trừ vào
thu nhập hàng tháng. Quỹ BHXH được chi tiêu trong các trường hợp người
lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất,
quỹ này do cơ quan BHXH quản lý.
b. Quỹ BHYT: Được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa
bệnh, viện phí, thuốc thang ... cho người lao động trong thời gian ốm đau,
sinh đẻ. Quỹ được trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương của CNV
thực tế phát sinh trong tháng giống như quỹ BHXH. Tỷ lệ trích là 3% trong
đó 2% do chủ sử dụng lao động đóng, còn lại do người lao động đóng góp.
c. Kinh phí công đoàn: Để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn,
hàng tháng doanh nghiệp còn phải tríchtheo một tỷ lệ quy định với tổng số
quỹ tiền lương, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm,
phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cáp đặc biệt, phụ cấp
độc hại, nguy hiểm, phụ cấp lưu động, thâm niên, phụ cấp phục vụ quốc
phòng, an ninh) thực tế phải trả cho người lao động kể cả lao động hợp đồng
tính vào chi phí kinh doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ trích
KPCĐ theo chế độ là 2%.

tiếp vào TK 642. Khi phát sinh các khoản này sẽ được hạch toán vào sổ sách
liên quan.Các khoản phát sinh ở TK 642 sẽ được tập hợp vào tờ kê khai phát
sinh TK 642 để từ đó làm cơ sở xác định kết quả.
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 23
Như vậy tất cả các khoản đã trình bày ở trên tạo nên bảng thu nhập cho
người lao động. Vấn đề đặt ra trong việc hạch toán kế toán nói chung, kế toán
tiền lương nói riêng là phải hạch toán như thế nào cho đúng tỷ lệ quy định,
nhanh chóng kịp thời đưa ra các thông tin hữu ích về lao động.
IV. TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG.
1. Thủ tục, chứng từ hạch toán.
Để thanh toán tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho
người lao động hàng tháng kế toán phải lập '' Bảng thanh toán tiền lương ''
cho từng tổ, đội, phân xưởng sản xuất và các phòng ban kết quả căn cứ vào
kết quả tính lương cho từng người. Để lập được bảng tính lương này thì yêu
cầu đối với kế toán tiền lương phải căn cứ vào chứng từ hạch toán thời gian
lao động và kết quả lao động.
- Thủ tục chứng từ thanh toán lương thời gian, chứng từ ban đàu làm cơ
sở cho việc trả lương là bảng chấm công, dùng để theo dõi công đi làm thực
tế, công phi sản xuất như : ốm đau, thai sản, nghỉ phép...Bảng chấm công do
cán bộ phụ trách hoặc tổ trưởng ghi theo quy định, chấm công cuối tháng căn
cứ vào thời gian làm việc thực tế quy ra công và những ngày nghỉ được
hưởng theo chế độ quy định để trả lương.
- Thời gian làm thêm giờ, phụ cấp ca đêm ghi vào Bảng thanh toán làm
thêm giờ và phụ cấp ca đêm để thanh toán.
- Thủ tục chứng từ để thanh toán lương sản phẩm đó là" Bảng kê khối
lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành ", " Bảng giao, nhận sản phẩm ", "
Doanh số bán hàng ngày ", bảng này được ghi chi tiết theo từng đối tượng trả
lương theo sản phẩm có xác nhận của người kiểm tra nghiệm thu.
Trên bảng tính lương cần ghi rõ từng khoản tiền lương( tiền trả sản

trước = x
100
Chuyên đề : Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương 25

Trích đoạn Kết quả hoạt động năm 2000 của xớ nghiệp. Đặc điểm quy trỡnh cụng nghệ. Công tác hoạch toán tiền lơng và các khoản trích theo lơn g: TK338 BHXH ch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status