Tài liệu KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ TƯ QUỐC HỘI KHÓA XII - Pdf 96

THỜI SỰ CHÍNH TRỊ
KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ TƯ
QUỐC HỘI KHÓA XII
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng báo cáo trước Quốc hội
Ảnh: TTXVN
gày 16/10/2008 tại Thủ đô Hà Nội đã khai mạc trọng thể kỳ họp thứ tư Quốc
hội khóa XII. Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ,
Mặt trận Tổ quốc, các vị lão thành cách mạng, các vị khách quốc tế và đông đủ các vị
đại biểu Quốc hội đã tham dự lễ khai mạc. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đọc
diễn văn khai mạc kỳ họp.
N
Tại phiên khai mạc, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã
báo cáo với Quốc hội và đồng bào cả nước những vấn đề lớn của tình hình kinh
tế, xã hội năm 2008; mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của kế hoạch phát
triển kinh tế, xã hội năm 2009. Bản báo cáo gồm hai phần lớn. Phần thứ nhất:
Đánh giá tình hình kinh tế, xã hội năm 2008; Phần thứ hai: Mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp phát triển kinh tế, xã hội năm 2009.
Tạp chí trân trọng giới thiệu những nội dung cơ bản về cải cách hành chính,
phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:
Phần thứ nhất: đánh giá tình hình kinh tế, xã hội năm 2008
“ 5. Cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí có những chuyển biến tích cực
Đã khẩn trương triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Tổ chức các Bộ và
cơ quan chuyên môn của chính quyền địa phương tiếp tục được kiện toàn. Chỉ đạo
chặt chẽ việc thực hiện mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, bảo đảm sự ổn
định và tính liên tục trong các hoạt động của Thủ đô.
Đang tập trung rà soát 14 loại thủ tục hành chính còn gây khó khăn, phiền hà
cho người dân và doanh nghiệp; đã công khai, minh bạch và đơn giản hoá việc đăng
ký kinh doanh, kê khai nộp thuế, đăng ký phương tiện giao thông, xuất nhập cảnh;

tục hành chính, làm cho khâu đột phá này có bước tiến mới về chất. Kiên quyết loại bỏ
những giấy phép không cần thiết; công khai minh bạch các thủ tục hành chính; mở rộng
thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết các việc liên quan đến
người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở những cách làm tốt nhất ở các ngành, các địa
phương, xây dựng mô hình chuẩn về giải quyết thủ tục hành chính để áp dụng chung cả
nước. Triển khai chặt chẽ việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận,
phường và nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch ủy ban nhân dân xã.
Thực hiện Chương trình Chính phủ điện tử, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước; đổi mới phương thức điều hành của
cả hệ thống hành chính; từng bước hiện đại hoá nền hành chính. Giảm mạnh hội họp.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan hành
chính nhà nước.
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành
tiết kiệm gắn với thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và đề
cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng
các cấp. Đẩy nhanh việc xét xử các vụ việc vi phạm. Thực hiện minh bạch, công
khai cơ chế chính sách, quy hoạch phát triển coi đây là tiền đề quan trọng trong
phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với
công tác này ”./.
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRIỂN KHAI NHANH
NGHỊ QUYẾT 15 CỦA QUỐC HỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ
Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội
gày 29/5/2008 kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số
15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và
một số tỉnh có liên quan. Theo đó, sau khi hợp nhất với tỉnh Hà Tây, tiếp nhận toàn
bộ huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã của huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình,

các sở, ban, ngành đã chủ động tiến hành phân công trong tập thể lãnh đạo và tổ chức
sắp xếp lại các phòng, ban chuyên môn theo hướng tinh gọn, không chồng chéo về
chức năng, nhiệm vụ. Riêng những đơn vị có tính đặc thù thì giữ nguyên để ổn định
về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Tính đến nay, UBND thành phố ban hành
Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của 18
đơn vị (trong đó có 14 sở, ngành). Số còn lại 5 đơn vị (trong đó có 4 sở, ngành) đang
được UBND thành phố xem xét quyết định và 2 sở, ngành đang được Sở Tư pháp
thẩm định. Đồng thời ban hành quyết định thành lập 70 đơn vị cấp 2 trực thuộc các
sở, ban, ngành làm cơ sở để các đơn vị này nhanh chóng ổn định đi vào hoạt động.
Các tổ chức hội như: Hội chữ thập đỏ, Hội Luật gia, Hội Nhà báo, Hội Người
cao tuổi, Liên hiệp Hội văn học nghệ thuật.v.v… phần lớn đã tiến hành xong việc
hợp nhất, bầu chủ tịch hội.
Công tác sắp xếp, bố trí trụ sở làm việc, chuyển giao, tiếp nhận, quản lý tài sản
của các cơ quan, đơn vị và bố trí phương tiện đi lại cho cán bộ, công chức đã được
thành phố khẩn trương triển khai thực hiện (20 cơ quan, đơn vị bố trí trụ sở tại Hà
Nội, 9 cơ quan, đơn vị đóng trụ sở tại Hà Đông). Tất cả các cơ quan, đơn vị đã công
bố công khai địa chỉ trụ sở làm việc; địa điểm tiếp nhận, giải quyết các giao dịch
hành chính, dân sự, số fax, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử.v.v… để các tổ chức và
nhân dân biết và đến giao dịch ngay từ ngày 1/8/2008. Ngay sau khi hoàn thành việc
bố trí, sắp xếp trụ sở làm việc của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể thành phố
(đơn vị cấp 1), UBND thành phố đã chỉ đạo thống kê, báo cáo số cán bộ, nhân viên,
diện tích nhà, đất của các đơn vị cấp 2 trực thuộc các sở, ban, ngành, đoàn thể để sớm
bố trí ổn định nơi làm việc cho các đơn vị này.
Về công tác xây dựng chính quyền, thành phố đã tổ chức kỳ họp hợp nhất ngay
trong hai ngày đầu tháng 8/2008, tiến hành bầu cử và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn các chức danh của HĐND, UBND thành phố
Hà Nội (mới), bảo đảm các hoạt động quản lý, điều hành của thành phố được thực
hiện bình thường, đúng các quy định của pháp luật. Tổ chức và hoạt động của UBND
huyện Mê Linh chịu sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và hoạt động theo Luật
Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Trong khi chờ Chính phủ ban hành Nghị định

ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, có ý nghĩa lịch sử to lớn nhằm tạo thế và lực
mới để Thủ đô Hà Nội phát triển nhanh, ổn định và bền vững, vươn lên xứng tầm
với “Hà Nội - Trái tim của cả nước”./.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
VÕ THANH BÌNH
Trường Chính trị tỉnh Kon Tum
ia Văn Miếu dưới thời Lê Thánh Tông có đoạn viết: “Hiền tài là nguyên khí
quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí yếu
thì thế nước yếu và càng xuống thấp”. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi ngày xưa chẳng
có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên
khí. Đối với nước ta hiện nay, điều này càng có ý nghĩa quan trọng vừa có tính cấp
bách, vừa có tính cơ bản lâu dài. Bởi rằng công tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu
then chốt của vấn đề xây dựng Đảng. Muốn làm tốt vấn đề này, chúng ta cần luôn
luôn quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ.
B
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có
ý nghĩa quyết định thắng lợi đối với sự nghiệp cách mạng và đối với công tác xây
dựng Đảng. Người cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc
thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy trong suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, huấn
luyện cán bộ. Người chỉ thị: “Các cơ quan cần phải chú ý đến việc huấn luyện cán
bộ”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Trong công tác cán bộ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải có phương thức thực hiện đúng đắn, Đảng “phải
biết rõ cán bộ” để “tìm thấy những nhân tài mới” để “những người hủ hoá cũng lòi
ra”, “phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng” để công việc thành công, “phải khéo
dùng cán bộ” để công việc đạt hiệu quả, “phải phân phối cán bộ cho đúng” để lĩnh
vực nào cũng có người làm việc, có người chịu trách nhiệm trước công việc, trước
nhân dân, “phải giúp cán bộ cho đúng” để họ yên tâm tận tâm, tận lực với công việc,

không, vừa phụ thuộc vào chủ trương, đường lối chung, vừa phụ thuộc rất nhiều vào
đội ngũ cán bộ quản lý. Vì vậy cùng với việc đổi mới chủ trương, biện pháp, chính
sách đào tạo, sử dụng cán bộ theo tinh thần Hội nghị Trung ương ba khoá VIII của
Đảng, chúng ta phải thường xuyên học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ.
Đội ngũ cán bộ hiện nay đang bộc lộ một số mặt yếu kém. Không ít cán bộ dao
động, giảm sút niềm tin, nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã
hội. Một bộ phận cán bộ thoái hoá, biến chất về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức
quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, ức
hiếp dân, gia trưởng độc đoán, tham vọng cá nhân, cục bộ, kèn cựa, địa vị, cơ hội,
kém ý thức tổ chức kỷ luật, gây mất đoàn kết nội bộ Đội ngũ cán bộ không đồng
đều, vẫn còn tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”, trình độ kiến thức, năng lực của một số
cán bộ lãnh đạo quản lý chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, chưa ngang tầm với đòi
hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những yếu kém về công tác
cán bộ thời gian qua đã được Đảng ta chỉ rõ: “việc đánh giá, sử dụng cán bộ nhiều
khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, chưa hợp lý, thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình
thức Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với yêu cầu, tiêu chuẩn và quy hoạch sử
dụng cán bộ. Chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp Nguyên tắc Đảng thống nhất
lãnh đạo quản lý công tác cán bộ và nguyên tắc tập trung dân chủ chưa được cụ thể
hoá ” (Văn kiện Hội nghị Trung ương ba khoá VIII). Từ những khuyết điểm, yếu
kém của công tác cán bộ trong thời gian qua, những yêu cầu đặt ra đối với công tác
cán bộ trong tình hình hiện nay là rất cấp bách.
Hiện nay toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang hưởng ứng cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, một sự kiện lớn trong đời
sống chính trị của đất nước ta. Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là đẩy
mạnh công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, tổ chức, trong đó có công tác
cán bộ. Những tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ đã được Đảng ta nghiên cứu
vận dụng sáng tạo và được bổ sung phát triển trong các Nghị quyết, chính sách của
Đảng; những giá trị lý luận và thực tiễn trong các tác phẩm của Người về vấn đề này
đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về vấn đề cán bộ trở thành kho tàng lý luận vô cùng quý báu đối với việc xây dựng

Trong cải cách thủ tục hành chính, thành phố Hải Phòng tập trung nâng cao
chất lượng của bộ phận "một cửa" để khắc phục tình trạng “một cửa” như “văn thư
cải tiến” thông qua thực hiện thí điểm một số mô hình bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả theo cơ chế "một cửa" mới: "một cửa" mẫu, hiện đại; "một cửa" liên thông; "một
cửa" có phần độc lập, chuyên trách. UBND thành phố đã chọn hai quận Hồng Bàng,
Ngô Quyền và Sở Kế hoạch và Đầu tư làm điểm về mô hình "một cửa" mẫu, hiện đại
và "một cửa" liên thông. Đặc biệt, mô hình “một cửa” mẫu, hiện đại, được học tập
tiếp thu kinh nghiệm từ thành phố Hồ Chí Minh và được nâng lên một bước về chất
bằng việc: làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, công chức, đảng viên; sắp xếp lại
nhiệm vụ các phòng chuyên môn để chuyển những nhiệm vụ mang tính dịch vụ công
về bộ phận “một cửa” giải quyết tại chỗ; lựa chọn những cán bộ, công chức có phẩm
chất và trình độ năng lực bố trí làm việc tại bộ phận “một cửa”; tập huấn dài ngày cho
toàn bộ cán bộ, công chức của UBND cấp quận và lãnh đạo UBND cấp phường về
cải cách hành chính; kết hợp áp dụng ISO hành chính và công nghệ thông tin; sửa
chữa, cải tạo địa điểm làm việc của bộ phận “một cửa” rộng rãi, hiện đại để phục vụ
nhân dân…
Đồng thời với việc tập trung chỉ đạo thực hiện “một cửa” mẫu, hiện đại; việc
nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức cũng được
chỉ đạo quyết liệt hơn, cụ thể là: rà soát điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
các phòng chuyên môn để tránh chồng chéo, phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng cán
bộ, công chức; trên cơ sở đó từng cán bộ, công chức viết cam kết thực hiện tốt nhiệm
vụ và phòng chống tiêu cực theo Quyết định số 3203/QĐ-UB của UBND thành phố
và tổ chức giám sát thực hiện cụ thể, tránh hình thức.
Công tác tập huấn, tuyên truyền cũng được quan tâm chỉ đạo thường xuyên,
mở nhiều lớp, theo nhiều đợt và theo hệ thống ngành, đoàn thể đến cấp cơ sở, tập
trung vào tập huấn kiến thức, nghiệp vụ về công tác cải cách hành chính của thành
phố, nhằm chuyển quyết tâm của lãnh đạo thành phố đến với đội ngũ cán bộ, công
chức các ngành, các cấp và nhân dân. Song song với việc triển khai thực hiện các
nhiệm vụ đề ra, lãnh đạo UBND thành phố tập trung kiểm tra, hướng dẫn các sở,
ngành, UBND các cấp trong lập kế hoạch cụ thể và triển khai nhiệm vụ cải cách hành

những kết quả quan trọng. Thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại Sở Kế hoạch và
Đầu tư, quận Ngô Quyền, Hồng Bàng đã giảm 80%, số lượng thủ tục hành chính
được giải quyết tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ trước đó. Kết quả thăm dò cho thấy
94% người dân và tổ chức đã hài lòng với việc giải quyết thủ tục hành chính và tinh
thần thái độ phục vụ của cán bộ, công chức bộ phận “một cửa” liên thông, hiện đại.
Năm 2008, thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Hội nghị
Trung ương 5 (khoá X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của bộ máy nhà nước, Thành uỷ đã tiếp tục chọn chủ đề hành động của năm
2008 là “đẩy mạnh cải cách hành chính và giải phóng mặt bằng”. Ban Thường vụ
Thành uỷ đã tổ chức sơ kết 2 năm (2006-2007) thực hiện Nghị quyết chuyên đề về
đẩy mạnh cải cách hành chính; ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU
ngày 25/3/2008 thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về đẩy mạnh cải cách
hành chính; UBND thành phố tập trung chỉ đạo triển khai cải cách hành chính trên cả
5 nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, đổi mới, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hoá nền hành chính
nhà nước; đã ban hành Quyết định số 613/QĐ-UBND ngày 16/4/2008 về Kế hoạch
cải cách hành chính năm 2008, thực hiện chủ đề “đẩy mạnh cải cách hành chính và
giải phóng mặt bằng” với một số việc chính là: hoàn thành có chất lượng việc sắp xếp
các cơ quan chuyên môn theo Nghị định số 13,14 của Chính phủ về tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; tiếp tục nhân rộng mô hình “một
cửa” liên thông, hiện đại; nâng cao chất lượng trong đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng
cán bộ, công chức; cải cách hành chính trong giải phóng mặt bằng; xây dựng cổng
thông tin điện tử thành phố đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính, phục vụ
tốt tổ chức và nhân dân thành phố.
Triển khai thực hiện các Nghị định số 13, 14 của Chính phủ, Ban Thường vụ
Thành uỷ đã xây dựng Đề án số 03-ĐA/TU ngày 25/3/2008 về việc sắp xếp, kiện
toàn tổ chức bộ máy, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X); Ban
cán sự Đảng UBND thành phố xây dựng Đề án số 1348/ĐA-BCSĐ ngày 19/3/2008
về việc sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố và UBND quận,
huyện. Do có chuẩn bị chu đáo và có bước đi thích hợp nên việc triển khai thực hiện

chính, quản lý nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Triển khai một số đề án xây
dựng nguồn nhân lực chất lượng cao…
Nhìn chung, với những kết quả đạt được, thành phố đã huy động được cả hệ
thống chính trị tham gia vào công tác cải cách hành chính, đóng góp cho việc tuyên
truyền, giáo dục về cải cách hành chính, giám sát thực hiện cải cách hành chính và
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Tạo chuyển biến lớn trong nhận thức
của lãnh đạo các cấp uỷ đảng, chính quyền về công tác cải cách hành chính; tạo ra
nhiều điểm sáng về công tác cải cách hành chính.
Tuy nhiên, so với yêu cầu vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Công tác kiểm tra,
giám sát việc thực hiện của các cấp, ngành chưa thường xuyên, nghiêm túc và bài
bản; công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của người đứng đầu ở một số sở,
ngành, UBND các cấp còn thiếu kiên quyết, chưa thực sự quyết liệt, đồng bộ để tạo
sự chuyển biến thực sự đối với công tác cải cách hành chính nói chung và cải cách
thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” nói riêng; chưa đổi mới nhiều trong công
tác đào tạo, bồi dưỡng; triển khai “một cửa” liên thông trong lĩnh vực giải quyết các
thủ tục cho dự án đầu tư xây dựng còn khó khăn, vướng mắc. Chất lượng cải cách
hành chính chưa đồng đều, rộng khắp
Qua gần 3 năm triển khai thực hiện giai đoạn II, UBND thành phố Hải Phòng
rút ra một số kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo triển khai công tác cải cách hành
chính là:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với nhiệm vụ cải cách hành
chính theo đúng tư tưởng chỉ đạo của Thành uỷ là: cải cách hành chính gắn với xây
dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng
phí, phải thật sự trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng bộ, quân và dân thành phố.
Gắn cải cách hành chính với đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành của các cấp chính
quyền; nâng cao chất lượng công tác của các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng
công khai, minh bạch, dân chủ, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
2. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, chính quyền trong triển
khai các nội dung, nhiệm vụ của cải cách hành chính; đồng thời xây dựng và thực
hiện cơ chế giám sát của nhân dân. Qua kiểm tra giám sát, kịp thời nhân rộng các mô

9. Cần tăng cường phân cấp và uỷ quyền hợp lý cho các sở, ngành, uỷ ban
nhân dân các cấp để tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong cải cách hành chính
và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các cơ quan, đơn vị.
10. Cần áp dụng đồng bộ công nghệ thông tin, áp dụng Hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của bộ phận "một cửa"
nói riêng và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nói chung.
11. Cần đầu tư kinh phí thích đáng cho công tác cải cách hành chính; và có thể
nói công trình phục vụ mô hình “một cửa” liên thông, hiện đại là một trong những
công trình hiệu quả nhất./.
QUẢN LÝ HỒ SƠ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS. VŨ ĐĂNG MINH
Vụ Tổng hợp, Bộ Nội vụ
1. Hồ sơ và công tác xây dựng, quản lý hồ sơ cán bộ, công chức
a. Vị trí, vai trò của hồ sơ cán bộ, công chức
Hồ sơ cán bộ, công chức là một trong những tài liệu không thể thiếu trong
công tác quản lý cán bộ, công chức. Hồ sơ cán bộ, công chức là tài liệu quan trọng
có tính pháp lý phản ánh trung thực về nguồn gốc, quá trình trưởng thành, phẩm
chất, năng lực, phong cách, các hoạt động và mối quan hệ gia đình - xã hội của
người cán bộ, công chức. Hồ sơ cán bộ, công chức là cơ sở giúp cơ quan có thẩm
quyền quản lý cán bộ, công chức nghiên cứu nắm được một cách đầy đủ nhất về
bản thân người cán bộ, công chức, cung cấp những thông tin tin cậy để phân biệt
được phẩm chất chính trị, năng lực công tác, đạo đức tác phong, hoàn cảnh gia
đình, quan hệ xã hội của cán bộ, công chức phục vụ cho công tác sử dụng, đào tạo,
bồi dưỡng và bố trí cán bộ, công chức.
Hồ sơ cán bộ, công chức còn là căn cứ để cơ quan quản lý và sử dụng theo dõi
và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức được đầy đủ và chính xác
hơn; làm cơ sở để đánh giá, tuyển chọn, khen thưởng những cán bộ, công chức tận
tuỵ, gương mẫu và thực hiện chế độ bảo hiểm đối với cán bộ, công chức.
b. Một số nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng và quản lý hồ sơ cán bộ,

- Sáu là, cán bộ, công chức được giao quản lý hồ sơ phải là người có phẩm chất
đạo đức tốt, lập trường chính trị vững vàng; có nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và
tận tuỵ với công việc được giao. Nếu để hư hỏng, mối mọt làm chất lượng hồ sơ giảm
sút phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, đơn vị và phải bị xử lý kỷ luật theo
quy định của pháp luật.
c. Ý nghĩa của công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công chức
Quản lý cán bộ, công chức là việc làm chủ động, thường xuyên của các cơ quan
có thẩm quyền theo phân cấp quản lý. Do vậy, để nắm bắt thông tin về cán bộ, công
chức ngoài việc tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua các kênh thông tin khác như: nhận
xét đánh giá của cấp quản lý trực tiếp về cán bộ, kết quả công việc mà cán bộ, công
chức được giao, phản ánh của dư luận quần chúng thì nhất thiết phải tiến hành
nghiên cứu hồ sơ cán bộ, công chức. Vì hồ sơ là tài liệu tập hợp thông tin đầy đủ,
chính xác, toàn diện, tin cậy, có tính pháp lý về quá trình hoạt động và trưởng thành
của cán bộ, công chức và qua đó cũng có thể hiểu thêm những vấn đề liên quan khác.
Trong công tác quản lý cán bộ, công chức việc xây dựng và quản lý hồ sơ là
một nhiệm vụ quan trọng. Làm tốt công tác hồ sơ cán bộ, công chức cũng sẽ góp
phần đắc lực cho công tác thống kê, tổng hợp phục vụ nghiên cứu, tổng kết, đánh giá
thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức về phương diện số lượng, cơ cấu, trình độ trong
từng giai đoạn cách mạng, qua đó đánh giá hiệu quả các chủ trương, đường lối công
tác cán bộ của Đảng. Công tác xây dựng và quản lý hồ sơ cùng với công tác thống kê,
tổng hợp về cán bộ, công chức góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu, hoạch định
chính sách, tuyển chọn, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
2. Đánh giá thực trạng thể chế quản lý hồ sơ cán bộ, công chức
Từ ngày thành lập đến nay, tuỳ theo đòi hỏi của từng giai đoạn cách mạng,
Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn và tổ chức cho cán bộ, đảng viên
viết lý lịch, cụ thể: Thông tri số 297-TT/TW ngày 20-4-1974 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng (khoá III) về việc viết lý lịch và quản lý hồ sơ, lý lịch đảng viên nhận xét:
'' việc quản lý hồ sơ, lý lịch đảng viên vẫn chưa có nền nếp, chưa quy định rõ trách
nhiệm quản lý hồ sơ, lý lịch đảng viên''. Theo đó, Ban Bí thư quy định: “mỗi đảng
viên phải có lý lịch và sơ yếu lý lịch (theo mẫu thống nhất do Ban Tổ chức Trung

quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc lập, lưu giữ, bảo
quản, khai thác, bổ sung và theo dõi hồ sơ một cách cụ thể; chưa có quy định thống
nhất về thành phần và mẫu biểu quản lý hồ sơ và đặc biệt là chưa có chính sách bố trí
và sử dụng đối với những người trực tiếp làm công tác quản lý hồ sơ nên trên thực tế
công tác này ở các bộ, ngành và địa phương triển khai thiếu đồng bộ và thống nhất.
Ngày 6/11/2006, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 14/2006/QĐ-BNV
ban hành Quy chế quản lý hồ sơ cán bộ, công chức. Đây là lần đầu trong lịch sử hành
chính nước nhà hồ sơ của cán bộ, công chức (chủ thể của nền hành chính) đã được cơ
quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức ban hành riêng một văn bản quy
phạm pháp luật để thực hiện thống nhất trong cả nước.
Ngoài những khái niệm, nguyên tắc chung, Quy chế này đã cụ thể hoá các nội
dung như: quy định thành phần tài liệu trong bộ hồ sơ cán bộ, công chức gồm có
những loại tài liệu nào; các biểu mẫu làm công cụ phục vụ công tác quản lý hồ sơ;
quy định về lập hồ sơ, về bổ sung, chuyển giao, tiếp nhận, nghiên cứu, sử dụng hồ sơ;
về lưu giữ, sắp xếp hồ sơ; về bảo quản, bảo mật hồ sơ; chế độ báo cáo tình hình quản
lý hồ sơ; quản lý hồ sơ điện tử và đặc biệt là quy định về chế độ bồi dưỡng nghiệp vụ
đối với những người trực tiếp làm công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công chức. Mặt
khác, để làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý hồ
sơ cán bộ, công chức, Quy chế đã quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan có thẩm
quyền quản lý cán bộ, công chức, cơ quan trực tiếp quản lý hồ sơ; cán bộ, công chức
trực tiếp làm công tác quản lý hồ sơ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, công chức
đối với chính hồ sơ cá nhân của mình, đồng thời, phân công cụ thể trách nhiệm tổ
chức thực hiện Quy chế này. Trong đó, quy định rõ thẩm quyền của bộ, ngành và tỉnh
trong việc quản lý hồ sơ cán bộ, công chức; thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Nội
vụ và trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ và Sở Nội vụ trong việc tham mưu cho
Chính phủ, bộ, ngành và địa phương những nội dung cụ thể trong việc quản lý hồ sơ
cán bộ, công chức.
Tiếp đó, ngày 18/6/2007, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số
06/2007/QĐ-BNV quy định cụ thể 12 loại thành phần hồ sơ và mẫu biểu quản lý hồ sơ
cán bộ, công chức, đồng thời tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về quản lý hồ sơ và

e. Từng bước hiện đại hoá công cụ quản lý hồ sơ cán bộ, công chức như: trang
bị máy vi tính, thống nhất dùng máy vi tính và phần mềm chung hỗ trợ công tác quản
lý hồ sơ, công tác tổ chức cán bộ; tiến tới xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về cán
bộ, công chức.
f. Đề nghị cấp có thẩm quyền sớm nghiên cứu và biên soạn cuốn sổ tay nghiệp vụ
về công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công chức tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công
chức trong công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công chức; quy định thống nhất mẫu các loại
tem niêm phong hồ sơ, các loại sổ theo dõi, quản lý hồ sơ để thực hiện thống nhất.
g. Sớm ban hành quy chế quản lý hồ sơ điện tử để triển khai việc xây dựng cơ
sở dữ liệu và phần mềm quản lý cán bộ, công chức thống nhất trong toàn quốc, khắc
phục sự chồng chéo, gây lãng phí khi triển khai thực hiện.
Công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan
trọng của công tác cán bộ, do vậy rất cần được sự quan tâm đầy đủ, sự chỉ đạo sát sao
của lãnh đạo các cấp cũng như tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức
với chính hồ sơ cá nhân của mình và sự tận tâm, tận tụy của những người trực tiếp
làm công tác hồ sơ cán bộ, công chức. Như vậy, công tác quản lý hồ sơ cán bộ, công
chức ở nước ta sẽ sớm đi vào nền nếp và hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
quản lý cán bộ, công chức trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước./.
Bàn thêm về giám sát, đánh giá
công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức
NCS. LẠI ĐỨC VƯỢNG
Vụ Đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nhà nước, Bộ Nội vụ
1. Quan niệm về giám sát, đánh giá
Giám sát là một trong những chức năng của quản lý liên quan đến việc thu thập
một cách thường xuyên dữ liệu theo các tiêu chí xác định trước, giúp các cấp lãnh
đạo, quản lý có thông tin để xác định xem có đủ các tiêu chí: nguồn lực vật chất và tài
chính; những người chịu trách nhiệm có đủ phẩm chất cá nhân và kỹ thuật cần thiết;
các hoạt động có diễn ra theo kế hoạch; kế hoạch đề ra có được tuân thủ và bảo đảm
đạt các mục tiêu và kết quả mong đợi. Giám sát là việc thu thập, phân tích liên tục và

và có mục đích khác nhau. Giám sát, đánh giá luôn gắn với nhau. Giám sát cung cấp
dữ liệu ban đầu để có câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong khi đánh giá giúp mang
lại giá trị cho các dữ liệu thu được từ giám sát. Đánh giá nói chung là quá trình nhờ
vào đó mà rút ra được các bài học kinh nghiệm, các khuyến nghị và đưa ra các biện
pháp cải tiến.
2. Giám sát, đánh giá công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức
Giám sát, đánh giá công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực hành chính nhà nước có thể được xem là hoạt động thu thập thông tin một
cách có hệ thống liên quan đến việc triển khai chính sách đào tạo, quản lý đào tạo và
tổ chức đào tạo từ trung ương đến địa phương; những hoạt động liên quan đến phát
triển năng lực của nguồn nhân lực hành chính nhà nước và chính những thông tin liên
quan đến bản thân việc giám sát, đánh giá. Thông tin thu được từ hoạt động giám sát
có thể sử dụng để đánh giá xem các kết quả và đầu ra mong đợi có đạt được không và
cần có những điều chỉnh gì. Giám sát và đánh giá định kỳ đào tạo, bồi dưỡng cung
cấp thông tin cho các cán bộ quản lý điều chỉnh hoạt động của họ và bảo đảm đào
tạo, bồi dưỡng đóng góp vào năng lực hiệu quả của tổ chức và không lãng phí nguồn
lực.
Đối với đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hành chính nhà nước, giám sát có
thể được xem là một phần không tách rời của hoạt động quản lý đào tạo, bồi dưỡng,
một chức năng không tách rời của hệ thống quản lý đào tạo. Nói cách khác, mỗi cơ
quan trong hệ thống phải có cơ chế giám sát nội bộ riêng và phải có khả năng giám
sát công việc của cơ quan cấp dưới. Nền tảng cho hoạt động giám sát trong hệ thống
quản lý đào tạo có thể là chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị và đặc biệt là
một hệ thống các mục tiêu và tiêu chuẩn chất lượng được thiết lập cho các cơ sở đào
tạo, cơ quan quản lý đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ giảng viên, hệ thống chương
trình.v.v…
Đánh giá trong hệ thống quản lý đào tạo ở nghĩa rộng là quy trình xác định các
kết quả, đầu ra mong muốn đối với việc liên quan chất lượng nguồn nhân lực hành
chính nhà nước có đạt được hay không hay hệ thống có liên tục hoàn thiện, cải tiến

năng lực, có khả năng thực hiện công việc tốt hơn và giúp cơ quan, tổ chức đạt được

Trích đoạn ĐINH THÀNH CÔNG Đại biểu dân cử phải là chỗ dựa tin cậy của cử tr VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG CÔNG VỤ CỘNG HÒA PHÁP Các nguyên tắc chức nghiệp của công chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status