Thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán - Pdf 96

Lời nói đầu
Đất nước ta sau khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa đã có những
bước chuyển biến đáng kể về chất. Các doanh nghiệp dù ở loại hình nào
đều có quyền bình đẳng như nhau và phảI đối mặt với sự cạnh tranh hết sức
khốc liệt. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phảI tìm cách thu hút
các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng… và vấn đề minh bạch về tài
chính trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Do vậy kiểm toán ra đời như một
nhu cầu tất yếu. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra một
trang mới cho thị trường kiểm toán tại Vịêt Nam.
Sau Nghị Định số 105/2004/ND-CP về kiểm toán độc lập thì các công
ty kiểm toán ra đời ồ ạt. Tuy nhiên một câu hỏi lớn đặt ra là liệu chất lượng
của các công ty kiểm toán có đáp ứng được yêu cầu của thị trường? Làm
thế nào để nâng cao chất lượng kiểm toán? Như vậy việc xây dựng một quy
trình kiểm toán phù hợp và có hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu đối với
mỗi công ty kiểm toán.
Thủ tục phân tích với các ưu điểm của nó như tiết kiệm thời gian, chi
phí mà vẫn cho hiệu quả cao, nó được áp dụng trong cả 3 giai đoạn của
cuộc kiểm toán là một công cụ hữu ích giúp Kiểm Toán Viên thu thập bằng
chứng cũng như trong việc đưa ra kết luận kiểm toán, giảm thiểu rủi ro cho
các công ty kiểm toán.
Nhận thức được ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục phân tích khi thực
hiện một cuộc kiểm toán,em mạnh dạn chọn đề tài “Thủ tục phân tích
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán “ với mong muốn góp một phần
nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thủ tục phân
tích trong các công ty kiểm toán ở Việt Nam hiện nay.
1
Phần I: Lý luận chung về việc áp dụng thủ tục phân tích trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán:
1.1.Khái quát về thủ tục phân tích:
1.1.1.Khái niệm chung về thủ tục phân tích:

quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê , định mức cùng ngành
+Mối quan hệ giữa thông tin tài chính trong cùng kỳ.VD kiểm toán
viên cân nhắc sự tác động của các tài khoản có liên quan như tài sản, thiết
bị, chi phí khấu hao…
+ Mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và các thông tin phi tài
chính tương đương như mối tương quan giữa số lượng hàng sản xuất ra với
lượng hàng có thể bán, giữa chi phí nhân công với số lượng giờ lao động
của họ…
Có nhiều phương pháp cũng như có nhiều quy trình khác nhau trong
việc áp dụng thủ tục phân tích, trong điều kiện cụ thể với kinh nghiêmj
chuyên môn kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định về việc lựa chon quy
trình, phương pháp, mức độ áp dụng.
1.1.2. Mục đích của việc sử dụng thủ tục phân tích:
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 520, thủ tục phân tích sử
dụng cho các mục đích sau:
+ Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ
tục kiểm toán khác: Đối với những khoản mục phát hiện they có dấu hiệu
bất thường cần tập trung kiểm tra chi tiết, tránh sa đà
+ Thủ tục phân tích được thực hiện như là thử nghiệm cơ bản khi việc
sử dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm
bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính
+ Quy trình phân tích được dùng để kiểm tra toàn bộ các báo cáo tài
chính trong khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán
3
1.1.3. Các loại thủ tục phân tích:
1.1.3.1. Kiểm tra tính hợp lý:
Bao gồm so sánh cơ bản như :
- So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán…Từ kết quả so
sánh tiến hành điều tra các chênh lệch lớn giữa thực tế và kế hoạch sẽ giúp
kiểm toán viên phát hiện những sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các

kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo điều kiện
pháp lý cũng như điều kiện cần thiết cho cuộc kiểm toán.
Việc lập kế hoạch kiểm toán đã được quy định rõ ràng trong các
CMKT được thừa nhận rộng rãI (GAAS ) đòi hỏi “công tác kiểm toán phảI
được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý ( nếu có ) phảI được giám sát đúng
đắn” Đoạn hai trong CMKT quốc tế số 300 (ISA) cũng nêu rõ chuyên gia
kiểm toán cần lập kế hoạch cho công tác kiểm toán để có thể đảm bảo rằng
cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả.
Lập kế hoạch kiểm toán giúp KTV thu thập được các bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và có giá trị cho các tình huống, phối hợp hiệu quả giữa
các KTV và với các bộ phận có liên quan để giữ chi phí ở mức thấp, là căn
cứ để giúp công ty kiểm toán tránh những bất đồng với công ty khách hàng,
là căn cứ để kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đang
thực hiện…
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích được
thực hiện nhằm những mục tiêu sau:
Thứ nhất, Thu thập hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến
đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa
mới diễn ra lần trước, từ đó kiểm toán viên có thể nhận biết khả năng tồn
tại các sai phạm tiểm tàng trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Sự khác
biệt đáng kể ngoài dự kiến giữa số liệu tài chính chưa được kiểm toán của
năm hiện thời và các số liệu khác được sử dụng trong so sánh ( số liệu của
năm trước, các định mức …) thường được xem như là những biến động bất
5
thường. Những biến động này xảy ra khi sự chênh lệch đáng kể không
được dự kiến nhưng xảy ra hay khi sự chênh lệch đáng kể đã được dự kiến
nhưng lại không xảy ra. Trong cả hai trường hợp, nguyên nhân dẫn đến
những biến động bất thường này là sự hiện diện của các sai sót trong kế
toán hoặc sự không tuân thủ các quy tắc đã đề ra. Do vậy, nếu chênh lệch
đáng kể thì kiểm toán viên cần chú trọng vào việc kiểm tra chi tiết các

Ngoài ra các thể thức phân tích thực hiện trong quá trình lập kế
hoạch kiểm toán để giúp cho việc xác định bản chất, phạm vi , và thời hạn
công việc phảI hoàn thành. Việc thực thi các thể thức phân tích trong quá
trình lập kế hoạch giúp kiểm toán viên nhận diện những vấn đề quan trọng
đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt sau này trong cuộc kiểm toán.
1.2.2. Các thủ tục phân tích áp dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán
Như đã trình bày ở trên, các thủ tục phân tích sơ bộ cần phải được
thực hiện trong suốt giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán để giúp các kiểm
toán viên tăng cường hiểu biết về hoạt động kinh doanh của khách hàng và
các nghiệp vụ, các sự kiện xảy ra kể từ cuộc kiêmr toán của năm trước.
Đồng thời giúp kiểm toán viên xác định rủi ro liên quan đến các khoản mục
trong báo cáo tài chính đòi hỏi kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình
và phạm vi của các thủ tục phân tích khác. Trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, thủ tục phân tích được thực hiện sơ bộ theo 3 bước:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và phi tài chính:
ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của đơn vị không những chỉ là các
thông tin tài chính mà còn có các thông tin phi tài chính. Kiểm toán viên
cần phảI thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp. Các thông tin đó bao gồm:
- Thông tin về nghĩa vụ pháp lý như giấy phép thành lập và điều lệ
công ty, các hợp đồng và cam kết quan trọng ..
- Các thông tin về tình hinh kinh doanh: Các báo cáo , các thay đổi
7
trong thị trường, trong công nghệ ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh
- Các thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ: Điều lệ, quy chế hoạt
động của công ty, sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý, biên bản họp hội đồng
quản trị và ban giám đốc…
- Các chính sách tài chính của công ty: chính sách thuế, chính sách giá
cả, chính sách tín dụng…

két sẽ dẫn đến bị ứ đọng vốn do tiền không được đưa vào lưu thông cũng
như đầu tư vào các hoạt động sinh lời.
• Tỷ suất về khả năng hoạt động:
+ Hệ số quay vòng hàng tồn kho (Gía vốn hàng bán chia cho hàng tồn
kho trung bình)
+ Hệ số quay vòng khoản phải thu (Doanh thu thuần chia cho khoản
phải thu trung bình)
Hệ số quay vòng khoản phải thu thường dùng để đánh giá tính hợp
lý của mức dự phòng khoản phảI thu khó xử lý. Xu hướng của hệ số quay
vòng hàng tồn kho được sử dụng trong việc nhận diện vấn đề về tính lỗi
thời của hàng tồn kho.
• Tỷ suất khả năng sinh lời
+ Tỷ suất lợi nhuận ròng và lợi nhuận gộp ( lợi nhuận chia cho doanh
thu )
Chỉ tiêu lợi nhuận gộp cho thấy khả năng của công ty trong việc
kiểm soát giá vốn và giá bán. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận gộp có thể cung cấp
nhiều thông tin hơn nếu được phân tích theo từng loại sản phẩm. Để phân
tích và nhận biết rủi ro từ việc chỉ tiêu lợi nhuận gộp thay đổi, có thể xem
xét sự thay đổi của số dư các tài khoản như nguyên vật liệu, nhân công, chi
phí sản xuất chung…
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng đánh giá khả năng sinh lời sau khi trừ đi
các khoản giá vốn và chi phí. Chỉ tiêu này có thể được so sánh với chỉ tiêu
lợi nhuận gộp để phân tích ảnh hưởng của chi phí quản lý, chi phí bán hàng
9
tới lợi nhuận. Để phân tích và nhận diện rủi ro từ việc chỉ tiêu này thay đổi
các tài khoản như doanh thu, lãi, chi phí bán hàng, chi phí quản lý… Và so
sánh cùng với sự thay đổi của các chỉ tiêu khác như lãI trên nợ dài hạn, chi
phí bảo trì sửa chữa trên tổng tài sản cố định, khả năng thanh toán nhanh…
+ Tỷ suất thu hồi tổng tài sản (Lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản)
+ Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu (Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

Việc thực hiện sẽ giúp cho kiểm toán viên hiểu rõ hơn công việc kinh
doanh của khách hàng. Tuy nhiên, các số liệu chung của ngành cũng khó so
sánh được do sự khác nhau giữa doanh nghiệp về loại hình kinh doanh,
phương pháp kế toán và vị trí địa lý. Nên kiểm toán viên cần cân nhắc
trong từng điều kiện cụ thể
b.So sánh dữ kiện của công ty khách hàng với dữ kiện tương tự của kỳ
trước:
-So sánh số dư, tỷ suất năm hiện hành với số liệu năm trước để phát
hiện các dấu hiệu bất thường
- So sánh chi tiết số dư tổng hợp với chi tiết tương ứng của năm trước:
Giúp tách riêng thông tin cần thiết phảI kiểm tra thêm. Qúa trình so sánh có
thể theo các chi tiết hàng kỳ hoặc các chi tiết tại một thời điểm
c.So sánh dữ kiện của khách hàng với kết quả ước tính do khách hàng
xác định.
Hầu hết các công ty soạn thảo dự toán cho các mặt hoạt động khác
nhau và các kết quả tài chính. Bất cứ khi nào số liệu của khách hàng được
so sánh với sổ kế hoạch đều có 2 vấn đề quan tâm đặc biệt. Một là, kiểm
toán viên phảI đánh giá xem liệu các dự toán có phảI là kế hoạch khả thi
hay không. Trong một số tổ chức, các dự toán được soạn thảo với rất ít suy
nghĩ hoặc thận trọng và do đó những số ước tính không có tính khả thi. Sử
dụng thông tin như vậy để làm bằng chứng kiểm toán có rất ít giá trị. Hai
là, khả năng thông tin tài chính kỳ hiện hành đã bị khách hàng thay đổi để
phù hợp với dự toán. Nếu điều này xảy ra, kiểm toán viên sẽ không tìm
11
thấy chênh lệch khi so sánh thực tế với kế hoạch cho dù có sai số trên báo
cáo tài chính.
d.So sánh số liệu với kết quả ước tính của kiểm toán viên:
Kiểm toán viên ước tính số dư của một tài khoản nào đó bằng cách
liên hệ nó với một vài tài khoản trên bảng cân đối hoặc báo cáo kết quả
kinh doanh, bằng cách dự đoán xu hướng. Khi tiến hành so sánh kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status