Tài liệu CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TRONG XÃ HỘI PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI - Pdf 96

CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TRONG XÃ
HỘI PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Email: [email protected]
Nhìn lại một cách khái quát chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội
Phương Đông cổ trung đại, chúng ta có thể tạm phân chia thành 3 hình thức
sở hữu lớn, cơ bản: Đó là sở hữu công xã, sở hữu của nhà nước về ruộng đất
công và sở hữu tư nhân về ruộng đất.
1. Hình thức sở hữu công xã
Nói về chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội Phương Đông, một đặc
điểm khác với phương Tây mà chúng ta phải kể đến là hình thức sở hữu công
xã - một hình thức sở hữu đầu tiên của loài người đã tồn tại lâu dài trong các
xã hội có giai cấp ở Phương Đông. Ví dụ như: ở Việt Nam, tàn dư của nó là
chế độ công điền, công thổ, còn lại mãi cho tới ngày cải cách ruộng đất mới
bị thủ tiêu. Hay ở ấn Độ tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy. Hình thức
sở hữu công xã tồn tại dai dẳng cùng với sự tồn tại của công xã nông thôn nơi
đây.
Sở hữu công xã là sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã. Hình
thức sở hữu này vốn đã được hình thành từ trong những công xã thị tộc và
công xã gia đình, những cơ cấu xã hội đầu tiên của loài người. Hai thời kì
công xã thị tộc và công xã gia đình này, sự phát triển của xã hội loài người
dường như chưa có gì khác biệt nhiều. Dù là ở phương Đông hay là ở phương
Tây thì chiếm hữu ruộng đất vẫn là hình thức phổ biến trong các công xã.
Song từ sau thời kỳ công xã gia đình, tức thời kì công xã nông thôn thì giữa
phương Đông và phương Tây đã bắt đầu xuất hiện những điểm khác biệt
trong chính quá trình phát triển của các hình thức sở hữu trong lòng các công
xã. Bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước dưới thòi cổ – trung đại thì
những điểm khác biệt đó càng được định hình rõ nét.
Chính Mác trong những bản dự thảo gửi cho Vê-ra Giu-su-lích, một nhà
học giả xã hội dân chủ Nga, ngày 08/3/1881 đã chỉ ra 2 con đường phát triển
khác nhau của công xã nông thôn ở phương Đông và phương Tây mà quy

quân cho các thành viên, có quyền chi phối ruộng đất của mình.
Người nông dân trong công xã chỉ có quyền chiếm hữu, được sử dụng
những ruộng đất do công xã chia để cày cấy, hưởng hoa lợi. Song họ phải coi
ruộng đất là của chung, không được coi là của riêng mình để đem bán, đem
cho người khác. Chính C.Mác trong tác phẩm “Các hình thái trước nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa” đã viết: “Trong hình thái đặc biệt phương Đông,
người thành viên công xã, với tư cách như thế, là người đồng chiếm hữu của
sở hữu công xã. Chế độ sở hữu chỉ tồn tại dưới hình thức sở hữu công xã…
Cá nhân chỉ là người chiếm hữu. Quyền sở hữu là công xã, quyền chiếm hữu
là tư nhân…” và “Trong hình thái Á Châu, ít ra là trong hình thức thường
thấy của nó, không có sở hữu của cá nhân riêng rẻ, mà chỉ có chiếm hữu cá
nhân, người sở hữu thực tế, chân chính, là công xã, do đó, sở hữu chỉ tồn tại
với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi”
(3)
.
Và trong rất nhiều tác phẩm của mình, Mác, Ăngghen đã lí giải sự tồn
tại lâu dài công xã nông thôn ở Châu Á, gắn liền với nó là sự tồn tại lâu dài
của chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã. Theo các ông, ở Châu
Á và phương Đông, vì khí hậu và địa thế đã hình thành đặc trưng kinh tế là
nền nông nghiệp tưới nước vào ruộng. Mà trong trình độ văn minh còn phát
triển chậm thì muốn tưới nước vào ruộng đòi hòi phải lao động tập thể, sử
dụng tập thể. Do đó, công xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu ruộng đất
công của nó là phù hợp với nền nông nghiệp phương Đông. Mặt khác, sự xuất
hiện từ rất lâu của Nhà nước chuyên chính phương Đông do nhu cầu tổ chức
lao động tập thể, điều khiển việc sử dụng duy trì lâu dài công xã nông thôn
làm cơ sở cho sự tồn tại của nó. Theo đó, chế độ sở hữu công cộng về ruộng
đất của công xã tồn tại lâu dài cùng với sự tồn tại của công xã nông thôn.
Như vậy, ở phương Đông trong đó có Việt Nam ta, chế độ sở hữu công
xã đã tồn tại lâu dài trong suốt các thời đại xã hội có giai cấp, từ thời đại
chiếm hữu nô lệ sang thời đại phong kiến. Song điều khiến chúng ta cần lưu ý

mình, bộ chiến tranh hay là bộ cướp bóc nhân dân nước khác và sau cùng là
bộ công trình công cộng. Những điều kiện khí hậu và đặc điểm của đất đai,
nhất là trên những khoảng đất rộng lớn vùng thảo nguyên kéo dài từ Xa – ha
– ra qua A – ra – bi, Ba tư, Ấn Độ và Ta – ta – ri, đến tận những nơi cao nhất
của vùng cao nguyên châu á, đã là cho hệ thống tưới nước nhân tạo bằng
sông đào và công trình thủy lợi trở thành cơ sở của nông nghiệp phương
Đông. ở Ai Cập và Ấn Độ cũng như ở Mê-dô-pô-ta-mi, ở Ba Tư và ở các
nước khác, người ta lợi dụng nạn lụt để làm cho đất đai thêm màu mỡ; người
ta lợi dụng mùa nước lớn để cho nước chảy vào những sông đào tưới nước.
Yêu cầu cơ bản về việc sử dụng nước một cách tập thể và tiết kiệm ở phương
Tây đã buộc các nhà kinh doanh tư nhân phải liên hiệp thành những hội tự
nguyện, như ở Phơ-lăng-đơ-rơ và ở ý, nhưng ở phương Đông là nơi mà nền
văn minh còn ở trình độ quá thấp và phạm vi đất đai quá rộng, người ta
không thể tổ chức những hội tự nguyện như thế được, cho nên yêu cầu đó đòi
hỏi bức thiết phải có sự can thiệp của chính quyền tập trung của Nhà nước.
Do đó mới nẩy ra chức năng kinh tế mà tất cả các chính phủ châu á đều bắt
buộc phải thực hiện, đó là chức năng tổ chức các công trình công cộng. Chế
độ dùng nhân công để làm cho đất đai thêm tốt là một chế độ phụ thuộc vào
chính phủ trung ương và một khi chính phủ ấy có thái độ lơ là đối với công
tác thủy lợi thì chính phủ đó lập tức bị sụp đổ; nó đã giải thích một sự thật mà
không thể giải thích bằng cách nào khác được là: ngày nay chúng ta thấy từng
địa khu hoang vu và xấu, trước kia là những đất đau được trồng trọt rất tốt.
Chẳng hạn như Pa-mia, Pê-tơ-ra Y-ê-men và những tỉnh rộng lớn của Ai Cập,
Ba-tư và In-đu-stan. Chế độ đó cũng giải thích một sự thật là chỉ cần một
cuộc chiến tranh tàn phá là đủ làm cho đất nước trở thành hoang vu hàng thế
kỷ và mất hết nền văn minh của nó”
(6)
.
Qua lời bàn của Mác, chúng ta nhận thấy chính nhu cầu xây dựng những
công trình thủy lợi để tưới nước vào ruộng, chính nhu cầu tổ chức lao động

chế độ tính điền thời Chu là một điển hình. ở đây ruộng đất trong toàn quốc
trên danh nghĩa là thuộc về thiên tử, nhưng thực tế thì do các công xã chiếm
giữ. Công xã phân phối đều ruộng đất cho nông dân công xã theo thời hạn
nhất định. Cứ vài năm là ruộng được phận phối cho nhân dân một lần. Nông
dân cày ruộng ấy phải nộp chừng 1/10 thu hoạch cho thôn xã để nộp lên
chính phủ (gọi là thập nhất chi thuế). Hay ở Việt Nam chúng ta đến thế kỷ X
tình hình vẫn diễn ra tương tự, nhà nước thông qua làng xã để phân chia
ruộng đất cùng cho nông dân, và thông qua công xã để nhà nước tiến hành
thu thuế. Có thể nói lúc ấy ở Việt Nam, tính tự trị của làng xã rất cao. Về
sau, từ thời Lý, Trần, đặc biệt từ thời Lê sơ với nhiều chính sách ruộng đất
như chính sách lộc điều, quân điền… đã thiết lập quan hệ lệ thuộc của làng
xã, thủ tiêu trình tự trị của làng xã.
Tất nhiên, trong mỗi thời kỳ thì quyền này cũng được biểu hiện không
giống nhau hoàn toàn.Ví như: nếu trong thời phương thức sản xuất châu Á ,
nhà nước thỏa thuận với các công xã cho công xã sử dụng đất đai mà công xã
khai phá và hoạch định ranh giới phân chia với các công xã láng giềng, thì
bước sang thời kì sau đó, nhà nước thỏa thuận với công xã cho công xã sử
dụng đất đai đã được lịch sử hoạch định và công xã được quyền thừa kế…
Thứ hai, trên cơ sở quyền sở hữu tối cao của mình, nhà nước phương
Đông tự ý trích những phần ruộng đất các công xã để phân phong cho bọn
quan liêu của mình, với danh nghĩa thưởng công hay đài thọ cho họ để họ
trung thành với nhà nước. Không những vậy, trong nhiều trường hợp, nhà
nước còn có quyền thu hồi những ruộng đất đã phân phối, phân phong, hoặc
có thể lấy từ người này đem cho người khác.
Qua tìm hiểu những quyền sở hữu ruộng đất tối cao của nhà nước, chung
ta nhận thấy rằng: có thể phân chia quyền sở hữu của nhà nước thành hai loại.
Thứ nhất là quyền sở hữu tối cao, mang tinh pháp lý. Tức quyền sở hữu tối
cao này tuy được xác định trên danh nghĩa, được cả nước thừa nhận, nhưng
trên thực tế ruộng đất do công xã quàn lý trực tiếp. Thông qua công xã để
phân chia ruộng đất cho nông dân và thông qua công công xã để nhà nước thu

hữu các ruộng đất công xã”
(8)
.
Với “chế độ đồng sở hữu” ấy, sở hữu nhà nước bị hạn chế nhiều, làng
xã có quyền chiếm hữu và sử dụng ruộng đất tương đối cao. Nhà nước chỉ thu
tô, thuế và quy định kỳ phân chia ruộng đất. Còn phần lớn cách phân chia và
sử dụng thì làng nào có cách thức của làng ấy. Thực tế ở các nước Ai Cập ,
Ấn Độ, Trung Quốc và cả Việt Nam thời cổ và trung đại cũng cho chung ta
thấy khi công tác xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu của nó bị thu hẹp thì
chế độ sở hữu nhà nước cũng bị thu hẹp, thủ tiêu theo nó. Chế độ phong cấp,
ban phát đất đai cho quý tộc, quan lại theo đó cũng dần không còn nữa. Qua
đó để ta thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hình thức sở hữu ruộng công thời
bấy giờ.
3. Sở hữu tư nhân
Mác đã từng nói rằng: “Trong hình thái Á châu (ít ra là trong hình thức
thường thấy của nó) không có sở hữu của cá nhân riêng rẽ, mà chỉ có chiến
hữu cá nhân, người sở hữu thực tế, chân chính, là công xã; do đó, sở hữu chí
tồn tại với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi”
(9)
hay “Việc không
có chế độ tư hữu ruộng đất quả thật là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ
phương Đông”
(10)
.
Như vậy theo Mác, trong thời kỳ phương thức sản xuất châu á, nhà nước
là kẻ sở hữu tối cao về ruộng đất trên phạm vi toàn quốc. Thời kỳ này không
có quyền sở hữu tư nhân, mặc dù tư nhân hay cộng đồng vẫn có quyền có
ruộng đất trong tay và quyền sử dụng đất.
Đó là sự khái quát chung của Mác .Trên thực tế, sự xuất hiện hình thức
sở hữu tư nhân về ruộng đất của mỗi nước ở vào những thời điểm khác nhau.

dụng ruộng đất trong thời kì đang giữ chức vụ. Song trên thực tế, các chức vụ
cha truyền con nối nên thường ruộng đất cũng được chuyền từ đời này sang
đời khác. Loại ruộng ban cấp được sử dụng vĩnh viễn là grax, dùng để ban
cấp cho đền chùa và tăng lữ. Người được phong có toàn quyền thống trị và
thu thuế trên đất đai của mình.
Tình hình ban cấp ruộng đất của nhà nước cho quý tộc, quan lại, nhà
chùa ở Việt Nam dưới thời phong kiến cùng diễn ra tương tự như vậy. Đặc
biệt dưới thời Lý, Trần, Lê hình thức sở hữu quý tộc rất phổ biến. ở thời Lý,
nhà nước ban cấp thực ấp , thực phong cho quý tộc, quan lại cao cấp. Hay
đến thời Trần, nhà nước có thêm chính sách ban cấp thang mộc ấp. Đặc biệt,
năm 1266, nhà nước còn cho phép các vương hầu, công chúa, quý tộc thống
trị được phép chiêu mộ dân nghèo khai hoang, lập đền trang. Tất cả điền
trang đều thuộc sở hữu tư nhân của tổ chức khai hoang.
Như vậy, chúng ta có thể chia hình thức sở hữu quý tộc ở nước ta thành
2 loại loại ruộng: thứ nhất, những ruộng phân phong vĩnh viễn cho quý tộc,
công thần như thang mộc ấp, thác đao điền, những ruộng thực phong, thực
ấp. Thứ hai, những điền trang mà bọn quý tộc vương hầu cho nô tỳ khẩn
hoang lập thành ruộng riêng.
Đặt trong thế so sánh thì quả thật hình thức sở hữu phong kiến quý tộc
gần hình thức sở hữu địa chủ hơn hình thức sở hữu lãnh chúa, ở chỗ: ruộng
ấp, điền trang được phân phong vĩnh viễn hay được khai hoang, mua bán mà
có này không chở thành “giang sơn” riêng biệt của lãnh chúa như trong các
lãnh địa phương Tây thời trung đại (không có chính quyền, quân đội, luật
pháp riêng). Song hình thức sở hữu phong kiến quý tộc có một đặc điểm
tương đồng các lãnh địa phương Tây là trên ruộng đất thuộc sở hữu quý tộc
phong kiến không phải phát canh thu tô hay tá điền cày cấy như trên ruộng
đất của địa chủ phong kiến mà do nông nô, nô tuỳ cày cấy như trong các lãnh
địa phương Tây.
Đặc biệt, Nguyễn Lương Bích còn cho rằng: “… trong xã hội Việt Nam
có thể có cả hình thức sở hữu phong kiến lãnh chúa”

đạo phát triển chung của nhân loại. Điều này giúp ta hiểu tai sao vấn để sở
hữu ruộng đất phương Đông lại mang những nét khác biệt so với phương Tây
như vậy.
Hiểu được những nét đặc trưng trong vấn đề ruộng đất phương Đông
thời cổ trung đại cũng góp phần giúp chúng ta hình dung được rõ nét hơn về
phương thức sản xuất thời bấy giờ bởi như Mác đã từng nói: “Chế độ sở hữu
ruộng đất là nhân tố xã hội chủ đạo đã định ra phương thức sản xuất và trao
đổi trung thế kỷ”
(12)
.

CHÚ THÍCH
(1). C.Mác, Tư bản, tập 6, NXB Sự thật, H 1960, tr 258.
(2). Trích trong phần phụ lục cuốn Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu
và nhà nước – Bản tiếng Pháp của Edition Sociales, Paris 1954, tr 296.
(3). C.Mác, Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa, NXB
Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 29.
(4). C.Mác, Tư bản (quyển thứ ba, tập I), NXB Sự Thật, H 1962, tr 482.
(5). Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 109/1968, tr 28.
(6), (7), (8). Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4/1981, tr 25.
(9). C.Mác, Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa, NXB
Sự thật, H 1976, tr 29.
(10). F.Ăngghen, Thư gửi cho Mác, ngày 6.6.1853. Trích theo C.Mác -
F.Ăngghen, Bàn về các xã hội tiền tư bản, Nxb Khoa học xã hội, H 1975, tr
49.
(11). Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 109/1968, tr 34.
(12). C.Mác, Tư bản, tập 6, Sđd, tr 258.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status