Báo cáo tốt nghiệp
Nâng cao chất lượng sản phẩm của
các doanh nghiệp trong nước1
Mục lục
Phần I 3
Lý luận chung về chất lượng sản phẩm 3
I. Tổng quan về chất lượng sản phẩm 3
II. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm 8
1. Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội 8
III. Các loại chất lượng sản phẩm 9
VI. Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm 10
V. Quá trình hình thành và phát triển của khoa học quản lý chất lượng 12
VI. Nâng cao sức cạnh tranh và vai trò của chất lượng sản phẩm với việc tăng sức cạnh tranh 14
Phần II 17
1. Tình hình chung các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam 17
2. Các sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 19
3. Thực trạng chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm tại các doanh nghiệp Việt Nam 19
Phần III 22
I. Hiện đại hoá công nghệ 22
II. Nâng cao trình độ lao động 22
III. Lựa chọn hệ thống chất lượng để áp dụng 23
IV. Nâng cao trình độ của đội ngũ làm công tác quản lý 23
Kết luận 24
2
phương pháp Nhật.Kaoru Ixikaoa. NXB KH_KT 1990)
Theo Feigenbaum: "chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật công
nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của
người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm". (Quản lý chất lượng đồng bộ. John.S.Oakard
NXBTK 1994).
Còn Juran thì định nghĩa chất lượng sản phẩm đơn giản, ngắn gọn: "Chất lượng là
sự phù hợp với sử dụng, với công dụng". (Quản lý chất lượng đồng bộ. John.S.Oakard
NXBTK 1994). Phần lớn các chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi
chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì: chất lượng sản phẩm là tổng
tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thoả mãn những yêu cầu định trước
cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế, kỹ thuật, xã hội.
Chất lượng sản phẩm là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định
bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được. Những thông số này lấy ngay
trong sản phẩm hoặc giá trị sử dụng của nó.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khả năng thoả
mãn được những nhu cầu phù hợp với công dụng của sản phẩm đó. chất lượng sản phẩm là
sự phù hợp với các tiêu chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật.
Như quan điểm này chất lượng sản phẩm được quy định bởi đặc tính nội tại của sản
phẩm, không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. (Quản trị chất lượng . GS Nguyễn Quang
Toản NXBTK 1995)
Phù hợp với công dụng sản phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814:1994 thì:
"Chất lượng là tập hợp các đặc tính một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng)
có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn".
Để phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của các quan điểm trên, tổ
chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO (Intenational for Standard Organization) đã đưa ra
khái niệm ISO cho rằng: "chất lượng sản phẩm, dịch vụ là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc
4
trưng của sản phẩm, thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng
xác định". (Quản trị chất lượng trong doanh nghiệp theo TCVN ISO 9000. PTS Nguyễn thị
5
án sản phẩm, thiết kế, lập kế hoạch, chuẩn bị sản xuất, sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
Nói khác đi thì chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh, hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định như
+ Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Chất lượng lao động
+ Chất lượng Marketing
+ Chất lượng nguyên vật liệu
+ Chất lượng quản lý
+ Chất lượng cung ứng
Như vậy chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm hàng hoá mà ta vẫn
thường nghĩ. Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể đó là chất lượng sản phẩm, chất
lượn của một hoạt động, chất lượng của một của một doanh nghiệp
Từ đó chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm được cấu thành từ rất nhiều các
nhân tố và các nhân tố này đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm,
chúng ta có thể thấy rõ hơn qua chuỗi giá trị (The value chain)
Cơ sở hạ tầng của công ty
Nguồn nhân lực
Phát triển công nghệ
Cung ứng
Hậu cần
nội bộ
Sản xuất
Hậu cần
bên ngoài
Marketing
và bán hàng
Dịch vụ
4. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Có hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đó là:
cứu, phát hiện và chế tạo các nguyên vật liệu mới ở từng doanh nghiệp dẫn đến những thay
đổi quan trọng về chất lượng sản phẩm.
d. Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất.
Đây là nhân tố tác động trực tiếp, liên tục đến chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp. Có thể nói dù có đầy đủ các nhân tố trên nhưng nhà quản lý, đặc biệt là quản lý sản
xuất không tốt sẽ dẫn đến làm giảm hiệu lực của cả ba nhân tố đã nêu trên, làm gián đoạn
sản xuất, giảm chất lượng nguyên vật liệu và làm giảm thấp tiêu chuẩn chất lượng sản
phẩm. Cũng vì có vai trò như vậy nên tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế đã tập hợp,
tổng kết và tiêu chuẩn hoá, định hướng những thành tựu và kinh nghiệm quản lý chất
lượng ở các doanh nghiệp thành bộ ISO 9000. ISO 9000 là bộ các tiêu chuẩn về chất lượng
của thế giới trong thập niên cuối thế kỷ 20 với tư tưởng nhất quán là chất lượng sản phẩm
do chất lượng quản lý quy định.
Trong thực tiễn quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp nhiều chuyên gia về quản
lý chất lượng cho rằng 80% các vấn đề về chất lượng do khâu quản lý gây ra.
4.2. Nhóm nhân tố bên ngoài
a. Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lý chất lượng vì
nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thức chất lượng cụ thể. Cầu về
chất lượng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có nhân tố thu nhập của
người tiêu dùng: người tiêu dùng có thu nhập cao thường có yêu cầu cao về chất lượng sản
phẩm và ngược lại, khi thu nhập của người tiêu dùng thấp thì họ không mấy nhậy cảm với
chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, do tập quán, đặc tính tiêu dùng khác nhau mà người tiêu
7
dùng ở từng địa phương, từng vùng, từng nước có nhu cầu về chất lượng sản phẩm khác
nhau. Mặt khác, cầu về chất lượng sản phẩm là phạm trù phát triển theo thời gian.
b. Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm. Trong quá trình phát triển
kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt và mang
tính "quốc tế hoá". Chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng quy định lợi thế
cạnh tranh, trình độ chất lượng sản phẩm cũng được "quốc tế hoá" và ngày càng phát triển.
1. Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội, công nghệ tổng hợp luôn thay
đổi theo thời gian và khôn gian phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường và điều kiện kinh doanh
cụ thể trong từng thời kỳ.
2. Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu có thể đo lường
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt bên trong của
bản thân sản phẩm đó. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản phẩm thể hiện
trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này phụ
thuộc rất lớn và trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu thị
8
các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy nói đến chất lượng
phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm này khẳng định
những sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không thể đo lường, đánh giá
được.
Nói đến chất lượng sản phẩm phải xem xét sản phẩm đó thoả mãn tới mức độ nào
nhu cầu của khách hàng. mức độ thoả mãn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thiết kế và
những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm. ở các nước tư bản, qua phân tích thực
tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm đi đến kết luận rằng chất lượng sản phẩm tốt hay
xấu thì 75% phụ thuộc vào giải pháp thiết kế, 20% phụ thuộc vào công tác kiểm tra kiểm
soát và chỉ có 5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm thu cuối cùng.
3. Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng. Mỗi
dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau. Mỗi sản phẩm có
thể được xem là tốt ở nơi này nhưng lại được coi là không tốt ở nơi khác. Trong kinh
doanh không thể có một chất lượng như nhau ở tất cả các vùng mà phải cần căn cứ vào
hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án về chất lượng cho phù hợp. Chất lượng chính là
sự phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của khách hàng. Chất lượng biểu thị ở hai cấp độ và
phản ánh hai mặt khách quan và chủ quan hay nói cách khác còn gọi là hai loại chất lượng:
+ Chất lượng trong tuân thủ thiết kế: thể hiện ở mức độ sản phẩm đạt được so với
tiêu chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh tế kỹ thuật càng
xét duyệt và ban hành, có hiệu lực đối với tất cả các đơn vị trong nghành địa phương đó.
+ Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là các chỉ tiêu về chất lượng do doanh nghiệp
tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp với điều kiện riêng của
doanh nghiệp đó.
- Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm,
bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu dùng.
- Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế với chất lượng
tiêu chuẩn. Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng nước, phụ
thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân. Khi chất lượng thực tế của sản phẩm vượt quá
dung sai cho phép thì hàng hoá sẽ trở thành hàng hoá phế phẩm.
- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị trường
trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất. Thường người ta phải giải
quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp mà chất lượng vẫn đảm bảo
có như vậy doanh nghiệp mới có lợi thế cạnh tranh và tăng được sức cạnh tranh.
VI. Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng
sản phẩm
1. Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với các doanh nghiệp.
Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối của quy luật kinh tế, trong đó quy luật
cạnh tranh chi phối một cách mạnh nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu
thị trường cả về mặt không gian, thời gian, số lượng, chất lượng .
Thế mạnh của kinh tế thị trường là hàng hoá phong phú đa dạng, cạnh tranh gay
gắt, người tiêu dùng được các sản phẩm theo nhu cầu, sở thích, khả năng mua của họ.
Trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn là một trong những nhân tố quan trọng
quyết định khả năng trên thị trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược Marketing,
mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng định vị
trí của sản phẩm đó trên thị trường.Từ đó làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu bền của
doanh nghiệp.
2.2. Do yêu cầu của người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quyết định trong việc lựa
chọn sản phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm muốn thoả mãn yêun cầu người tiêu dùng, được
người tiêu dùng tín nhiệm phải phù hợp về kiểu dáng, hiệu suất cao khi sử dụng, giá cả, sự
an toàn, dịch vụ sau khi bán hàng hơn nữa trong buôn bán quốc tế ngày càng được mở
rộng, sản phẩm hàng hoá phải tuân thủ những quy định, luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu
cầu chất lượng. Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế người tiêu dùng IOCU (International
Organization Consumer Union) vào năm 1962, vai trò của người tiêu dùng trở nên quan
trọng trong việc toàn cầu hoá thị trường. Từ đó cho đến nay nhiều nước đã có luật bảo vệ
người tiêu dùng, nhằm đấu tranh cho chất lượng và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Đặc biệt
là bảo sự thông tin kịp thời, sự kiểm tra nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh môi trường.
2.3. Do yêu cầu tiết kiệm
Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộc vào sự phát
triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động mà còn phụ thuộc rất
nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô). Kinh nghiệm của Nhật Bản và các con
rồng Châu Á đã cho thấy một trong những nguyên nhânthành công của họ là nhờ vào sự
tiết kiệm.
Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lý cho phép hạ
giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng, đủ sức cạnh tranh với giá cả sản phẩm
trong nước cũng như ngoài nước.
2.4. Do đòi hỏi của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất
11
Thực tế chứng minh rằng ở bất kỳ nền sản xuất nào, dù phát triển đến đâu đi nữa
người ta vãn còn thấy có những vấn đề liên quan đế chất lượng cần phải giải quyết nhằm
nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả chung của nền sản xuất
xã hội (vấn đề thị trường, nguyên liệu, trao đổi quốc tế, tranh giành ảnh hưởng, vấn đề ô
nhiễm môi trường ) vì vậy vấn đề chất lượng luôn được xem xét, cân nhắc trong các
chương trình phát triển chung của các doanh nghiệp và các quốc gia.
V. Quá trình hình thành và phát triển của khoa học quản lý
chất lượng
xưởng. Sự phát triển của thị trường cùng với việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm,
hàng hoá, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không ngừng tăng lên
Chuyển sang những năm 1950 cung hàng hoá bắt đầu vượt cầu hàng hoá trên thị
trường. Do đó, các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn, khái
niệm quản lý chất lượng bắt đầu hình thành và xuất hiện. Phạm vi, nội dung và chức năng
của quản lý chất lượng được mở rộng hơn, nhưng vẫn chỉ tập chung vào giai đoạn sản xuất
sản phẩm là chủ yếu.
Vào những năm của thâp kỷ 70, sự cạnh tranh đã tăng lên đột ngột làm các doanh
nghiệp phải nhìn nhận lại và thay đổi về quản lý chất lượng. Để thoả mãn khách hàng các
doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất mà đã quan tâm đến chất lượng sản phẩm
ngay cả sau khi sản phẩm đã bán ra thị trường. Quản lý chất lượng đã mở rộng ra tới tất cả
các lĩnh vực từ sản xuất đến tiêu dùng trong toàn bộ đời sống của sản phẩm . Những thay
đổi trong cách nhìn và phương pháp quản lý chất lượng trong hàng loạt các doanh nghiệp
lớn trên thế giới, đặc biệt ở Nhật, Mỹ và các nước Tây Âu phát triển đã tạo ra một cuộc
cách mạng về chất lượng sản phẩm trên thế giới. Người ta đẫ biết đến quản lý chất lượng
theo phương pháp hiện đại đó là quản lý chất lượng toàn diện TQM (Total Quality
Management). Theo như quan điểm của phương tây: Quản lý chất lượng toàn diện là một
hệ thống có hiệu quả thống nhất của các bộ phận khác nhau chịu trách nhiệm triển khai,
duy trì mức chất lượng đạt được, nâng cao mức chất lượng để sử dụng và sản xuất sản
phẩm ở mức kinh tế nhất thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của người tiêu dùng với vai trò kiểm
tra quan trọng của các chuyên gia. Theo như quan điểm của Nhật Bản : quản lý chất lượng
toàn diện là một hoạt động tập thể đòi hỏi sự nỗ lực của các nhóm công nhân, các cá nhân
với sự tham gia của các hãng, các công ty và việc quản lý mang tính chất toàn diện.
Xuất phát từ kinh nghiệp thực tiễn, người ta đúc kết thành một kỹ thuật hướng dẫn
cách thức làm sao để cải tiến trong công việc hàng ngày và cả trong việc thực hiện kế
hoạch trung và dài hạn. Khi áp dụng TQM chẳng những lãnh đạo doanh nghiệp phải chủ
động đề xuất, theo dõi, động viên và duy trì phong trào liên tục cải tiến và có sự tham gia
của mọi người, mọi cấp, mọi bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp.
Nội dung của TQM bao gồm:
(1) áp dụng vòng tròn Deming PDCA (Plan, Do, Check, Action) để cải tiến có hệ
năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của ngành công
nghiệp Việt Nam và sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Yêu cầu này đặt ra không chỉ đối
với khu vực tham gia vào thị trường thế giới, mà ngay cả đối với khu vực chỉ sản xuất hàng
hoá cho thị trường nội địa, vì tính chất giao lưu quốc tế hiện nay không còn thuần tuý ở
phạm vi ngoài biên giới.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp :
Cho đến nay đã có nhiều tác giả đưa các cách hiểu khác nhau về khả năng cạnh
tranh của một doanh nghiệp, của một nền công nghiệp cũng như của một quốc gia :
- Fafchamps cho rằng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng của
doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của
nó trên thị trường. Theo cách hiểu này, doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản
phẩm có chất lượng tương tự sản xuất của doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn
thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn (Peter .G.H Khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, Dartmouch, 1995, trang 343).
14
- Randall lại cho rằng, khả năng cạnh tranh là khả năng dành được và duy trì thị
phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định.
- Dunning lập luận rằng khả năng cạnh tranh là khả năng cung sản phẩm của chính
doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp
đó.
- Một quan niệm khác cho rằng khả năng cạnh tranh là trình độ của công nghiệp có
thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường, đồng thời duy trì được mức thu
nhập thực tế của mình.
Có thể thấy rằng các quan niệm nêu trên xuất phát từ các góc độ khác nhau, nhưng
đều có liên quan đến hai khía cạnh: Chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận. Theo tôi, khả
năng cạnh tranh có thể hiểu là năng lực nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả
chấp nhận được vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy khả năng cạnh tranh được nâng cao.
Quan niệm này có thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp một nần công nghiệp cũng như
đối với một quốc gia trong cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới hay khu vực.
2. Các biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh
tiếp thị
+ Ban giám đốc các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản lý
2.6. Kiên quyết tiết kiệm
+ Tiết kiệm trong chi phí văn phòng, tiệc, quà tặng
+ Tiết kiệm các chuyến đi xa không cần thiết
+ Dồn vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh
2.7. Đẩy mạnh tích tụ và tập chung vốn trong các doanh nghiệp
+ Tích tụ vốn qua tính lợi nhuận
+ Tích tụ vốn qua khấu hao
+ Tích tụ vốn qua vay vốn cổ phần từ công nhân
+ Tập chung vốn qua liên kết với các doanh nghiệp khác
3. Vai trò của chất lượng sản phẩm trong việc nâng cao sức cạnh tranh
Có thể nói chất lượng sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nó là một trong những yếu tố quyết định sự thành
công hay thất bại của một doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì chất
lượng chính là một nhân tố chính, cơ bản giúp cho các doanh nghiệp tăng được sức cạnh
tranh của mình, tạo được lợi thế cạnh tranh và khác biệt hoá sản phẩm nhờ chất lượng sản
phẩm cao, giá thành hạ. Cùng với sự phát triển cao trong ngành kỹ thuật hiện đại, những
yêu cầu chất lượng đã trở nên đồng bộ hơn và cao hơn. Vì thế để nâng cao sức cạnh tranh
các doanh nghiệp phải tập chung vào các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh như đã trình
bày ở trên và đặc biệt tập chung vào nâng cao chất lượng sản phẩm vì đây là yếu tố quan
trọng hàng đầu
16
Phần II
Thực trạng về chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
I. Doanh nghiệp Việt Nam trong môi trường kinh doanh hiện nay
1. Tình hình chung các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam
1.1. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp
Giá trị tổng sản lượng công nghiệp toàn ngành ước đạt 166.965 tỷ đồng, tăng
Khu vực đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng khá nhất trong các thành phần
kinh tế (19,98%). Tuy nhiên, do ảnh hưởng chung của nền kinh tế cho nên cũng có một số
doanh nghiệp thu hẹp sản xuất hoặc tiến hành các giải pháp khác (giãn tiến độ, thay đổi
chủ đầu tư, chuyển đổi sản phẩm ). Vì vậy năm 1999, tốc độ tăng trưởng tốc độ tăng
trưởng của khối này đạt thấp nhất trong các năm gần đây
Công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh, thành phố có giá tị trên 1.000 tỷ đồng, tăng
khá như:
Địa phương Mức tăng
(%)
Địa phương Mức tăng
(%)
1. Tp Hồ Chí Minh 7,9 6. Bình Dương 28,8
2. Bà Rịa – Vũng Tàu 20,3 7. Cần Thơ 11,9
3. Hà Nội 7,6 8. Phú Thọ 14,7
4. Đồng Nai 14,9 9. Đà Nẵng 28,8
5. Hải Phòng 16,9 10. Vĩnh Phúc 16,4
Mặc dù là lĩnh vực đầu tầu trong nền kinh tế, nhưng giá trị tăng thêm của công
nghiệp trong năm 1999 cũng chỉ đạt 7-8%, khối doanh nghiệp nhà nước tăng trưởng thấp,
một số ngành có xu hướng giảm dần, số doanh nghiệp làm ăn khá còn ít. Đặc biệt ở khu
vực doanh nghiệp nhà nước, số làm ăn có lãi chỉ hơn 10%, hơn 60% số doanh nghiệp
không có lãi và trên 20% là thua lỗ. Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà
nước tiến hành còn chậm. Trừ một số doanh nghiệp mà đa phần là các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài có côn nghệ khá chất lượng sản phẩm tương đối cao, còn phần lớn
doanh nghiệp vẫn có trang thiết bị và công nghệ lạc hậu so với các nước trong khu vực, tỷ
lệ đổi mới trang thiết bị và công nghệ còn chưa đáng kể, chưa tương xứng với yêu cầu
trong thời kỳ cạnh tranh.
Cơ cấu, đầu tư chưa hợp lý, chưa theo một quy hoạch phát triển tập chung thống
nhất, còn nặng về thay thế nhập khẩu, dự báo không sát nhu cầu trong nước và không gắn
với quan hệ cung cầu ở trong khu vực, dẫn tới một số ngành và sản phẩm đầu tư quá nhiều,
vượt quá nhu cầu và khả năng thanh toán như: ô tô, xe máy lắp ráp, sắt thép, đường, xi
thể vượt qua được.
Qua đánh giá những nét chung và cơ bản nhất của thị trường thế giới và chúng ta
thấy rằng Việt nam là một nước nhỏ, đang phát triển, phải chịu những sức ép rất lớn từ thị
trường bên ngoài.
3. Thực trạng chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm
tại các doanh nghiệp Việt Nam
3.1. Về chất lượng sản phẩm
19
Từ sau đổi mới nền kinh tế nước ta đã có những sự phát triển rất lớn đặc biệt là với
chính sách mở cửa nền kinh tế và phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra môi trường kinh doanh
thông thoáng cho các doanh nghiệp. Đã có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả,
một số doanh nghiệp đã có sản phẩm xuất sang nước ngoài. Việc áp dụng bộ tiêu chuẩn
chất lượng ISO 9000 đã được triển khai và một số doanh nghiệp đã đạt được chứng nhận
tiêu chuẩn này. Rất nhiều doanh nghiệp đã sản xuất được sản phẩm có chất lượng cao
không kém hàng ngoại nhập có danh tiếng trong nước và ngoài nước, khả năng cạnh tranh
với hàng ngoại nhập cao. Rất nhiều đơn đặt hàng đã được ký kết với các doanh nghiệp
nước ta để sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy vậy, đó chỉ là những thành tựu còn khiêm tốn và
bên cạnh đó còn nhiều hạn chế làm cho các sản phẩm do các doanh nghiệp ta sản xuất chưa
có sức cạnh cao, chất lượng sản phẩm còn kém, giá thành cao mà có thể nói là do các
nguyên nhân như: máy móc, công nghệ thiết bị, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ
quản lý, chất lượng nguyên vật liệu
Máy móc, công nghệ thiết bị còn lạc hậu (bình quân lạc hậu khoảng 15-20 năm),
việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới rất tốn kém và đang là
một lĩnh vực mà sự "không bình đẳng" ngày một gia tăng. Những ưu thế vượt trội của lao
động Việt Nam là tính cần cù, kỷ luật và đặc biệt là khả năng nắm bắt nhanh nhạy kỹ thuật,
công nghệ mới. Tuy nhiên tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chuyên môn của Việt Nam còn
thấp. Năm 1996 tỷ lệ này là 12,3% năm 1998 là 13,3%. Trình độ quản lý còn chưa cao, còn
để tình trạng lãng phí, thất thoát nhiều, sản xuất kinh doanh không hiệu quả, chi phí sản
xuất cao, chất lượng sản phẩm kém.
thực hiện thành công bộ tiêu chuẩn này. Trên thực tế rất nhiều doanh nghiệp sau khi được
cấp chứng nhận ISO đều công nhận ISO giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trong cơ
chế thị trường. Cụ thể công ty Alpha Nam, sau khi được nhận chứng chỉ ISO 9000 sản
phảm của công ty được theo dõi tốt đến tận khách hàng, thông tin trao đổi giữa các phòng
ban không bị sai lệch, đem lại uy tín cho doanh nghiệp. Sau khi được chứng nhận chứng
chỉ ISO doanh thu của công ty 10 tháng đầu năm 1999 đạt 30 tỷ, nhiều hơn cả năm trước
11 tỷ, khiếu nại của khách hàng giảm 50-70%. Đặc biệt nhiệm vụ xây lắp của công ty được
khẳng định. Trước khi nhận chứng chỉ ISO doanh thu của lĩnh vực này gần như không
đáng kể nhưng đến nay doanh số đã đạt 4-5 tỷ/1999.
* Nhược điểm và hạn chế:
Mặc dù ISO đang là vấn đề cấp bách như vậy, nhưng đối với hầu hết các doanh
nghiệp Việt Nam, nó như chiếc chìa khoá vàng khó lấy được. Vì để lấy được nó phải có
tiền, có trình độ và hiểu biết. Một doanh nghiệp có 500-1000 công nhân muốn đạt được
chứng chỉ ISO phải mất 150-200 triệu đồng phí tư vấn, đấy là còn chưa kể phí đào tạo, phí
cho công việc phục vụ cho ISO Trong khi đó 90% doanh nghiệp Việt Nam được xếp là
doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ vốn hoạt động còn khó khăn lấy đâu ra tiền để thực hiện
ISO. Một nguyên nhân khách quan nữa khiến không tạo được tâm lý động viên khuyến:
Chiến lược kinh doanh không rõ ràng, vấn đè pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh
còn chưa nhất quán, đặc biệt là chế độ mậu dịch quốc tế, chế độ ưu đãi đầu tư Trong khi
đó bản thân doanh nghiệp phải từng ngày từng giờ phải đối mặt với rủi ro, bất chắc về nạn
hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng trốn thuế, nên không còn tâm chí đâu để đầu tư thời
gian và tiền của cho việc xây dựng chiến lược lâu dài.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh của
hàng Việt Nam
21
Phần III
Một số phương hướng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao sức
cạnh tranh ở Việt Nam
Qua phân tích thực trạng chúng ta thấy để có sức cạnh tranh tốt trên thị trường
dạy sau khi đã tham khảo ý kiến của chuyên gia nước ngoài
+ Giáo án dạy nghề sẽ được tổ chức thành nhiều học phần, trong đó một số
học phần sẽ quy định năng lực phải đạt của mỗi học viên
22
+ Ưu tiên phát triển phần thực hành, trình độ học viên được đánh giá căn cứ
vào trình độ ứng dụng và kiểm tra viết, xây dựng quy trình giám sát nhằm thông báo cho
học viên và cơ quan chủ quản biết tiêu chuẩn đáp ứng cho mỗi chương trình và mỗi cơ
quan. Sẽ có quy trình cấp bầưng đáng tin cậy và có giá trị nhằm đánh giá đúng trình độ của
mỗi học viên khi đã thành nghề.
Sớm cải cách hệ thống dạy nghề là điều kiện tiên quyết để nguồn nhân lực Việt Nam có thể
đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sản xuất và nền kinh tế hội nhập.
III. Lựa chọn hệ thống chất lượng để áp dụng
Ngoài những yếu tố như: máy móc công nghệ, lao động, thì việc áp dụng các
phương pháp quản lý chất lượng cũng rất quan trọng vì thế chon được một hệ thông quản
lý chất lượng phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan
trọng. Vấn đề này ở Việt Nam còn thực hiện chưa được tốt do đó cần phải lựa chọn một
trong số các hệ thống quản lý chất lượng sau để quản lý cho phù hợp:
+ Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, được hơn
90 quốc gia chấp nhận và trở thành tiêu chuẩn quốc gia trong đó có Việt Nam.
+ Hệ thống TQM (Total Quality Management) là một hệ thống quản lý chất
lượng toàn diện .
+ Hệ thống giải thưởng chất lượng Việt Nam: để khuyến khích các doanh
nghiệp ở mọi thành phần kinh tế trong nước, năm 1995 bộ khoa học công nghệ và môi
trường đã đặt ra "Giải thưởng chất lượng Việt Nam"
Ngoài các hệ thống trên còn có thể áp dụng các hệ thống khác như: HACCP, GMP,
QS 9000
IV. Nâng cao trình độ của đội ngũ làm công tác quản lý
Hiện nay, trước sức ép của nhu cầu đổi mới những người làm công tác quản lý đã
thực hiện khá tốt chức năng của mình song vẫn còn một số chưa thực hiện tốt điều này do
đó cần phải có những biện pháp như sau: