Ngũ hành và khoa học
1
1.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM ĐƯỜNG TỐI ƯU
Trong thực tế chúng ta thường gặp vấn đề tìm đường tối ưu. Ví dụ: nhân viên chuyển
phát nhanh phải tìm được con đường ngắn nhất, ít ùn tắc nhất để đến một số địa điểm
trong thành phố nhận thư từ, bưu kiện, mang về trung tâm, sau đó thuê các phương tiện
vận chuyển phát tới các địa điểm ở xa, sao cho bảo đảm được thời gian nhanh nhất. Các
hãng vận tải cũng vậy.
Bài toán tìm đường tối ưu được gọi là bài toán qui hoạch. Ở mức độ đơn giản ta có bài
toán qui hoạch tuyến tính, ở mức độ phức tạp hơn ta có bài toán qui hoạch phi tuyến.
Động từ “qui hoạch” theo định nghĩa đơn giản là phóng tầm nhìn về tương lai, tìm ra con
đường tới đích một cách nhanh chóng, tốn ít năng lượng, không gây các phản ứng phá
hoại sự bền vững của hệ thống.
Bài toán qui hoạch đơn giản nhất là qui hoạch chuyển phát nhanh thư tín. Bài toán qui
hoạch phức tạp là bài toán tìm con đường phát triển bền vững của cộng đồng xã hội (một
tỉnh, một nước, một khu vực và cả toàn cầu). Các bài toán vật lý, hoá học, sinh học, giao
thông, xây dựng, phát triển đô thị, kinh tế, ngân hàng, …là các bài toán qui hoạch bậc
trung.
Các bài toán qui hoạch nhỏ thường do một người tìm lời giải và được thực hiện bởi chính
người đó. Trong quá trình thực hiện lời giải họ sửa chữa các sai sót, hòan chỉnh lời giải.
Đó chính là quá trình tích lũy kinh nghiệm cá nhân. Các kinh nghiệm ấy đúng với hòan
cảnh của chính cá nhân đó, và cũng chỉ đúng với những điều kiện ban đầu (điều kiện
biên) cụ thể. Khi mở rộng lời giải và phương pháp giải, người sâu sắc thường thường có
thái độ rất thận trọng.
Các bài toán bậc trung, hoặc siêu lớn thường do một tập thể tìm lời giải. Khi đó, vấn đề
trở nên ngày càng phức tạp vì các ý kiến và phương pháp mỗi người đưa ra rất khác nhau.
Trên thực tế, gần như không tồn tại các bài toán qui hoạch tuyến tính, mà chỉ có các bài
toán qui hoạch phi tuyến. Lời giải của bài toán qui hoạch phi tuyến chỉ đúng trong phạm
vi hẹp về thời gian và không gian. Lời giải đó được gọi là tối ưu cục bộ (Local optimal
solution).
chứng trước hết chúng ta thử gạn những tinh hoa của học thuyết cổ Âm Dương – Ngũ
Hành. Sau đó tích hợp với những tiến bộ mới trong thời đại ngày nay để cho học thuyết
cổ kia đỡ mang màu sắc mê tín dị đoan.
1.3. HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
1.3.1. Thuyết âm dương
Theo học thuyết âm dương thì mọi sự vật trên đời, từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình
đến vô hình, từ hữu hạn đến vô hạn đều bao gồm hai mặt âm và dương. Hai mặt ấy tương
sinh và tương khắc nhau. Trong Âm có Dương, trong dương có âm. Âm và Dương luôn
trong quá trình vận động và chuyển hoá lẫn nhau. Âm và Dương chỉ là cách nói cổ điển
của danh từ mới “các mặt đối lập”.
Nhưng sự chuyển hoá và vận động của hai mặt âm dương xảy ra như thế nào? Có nhất
thiết xảy ra theo hình thái phủ định của phủ định hay không? Câu trả lời là không luôn
luôn. Mọi sự phủ định đều có tính kế thừa. Nói rộng ra, sự phủ định chỉ là một hình thức
chuyển hoá.
Vậy sự chuyển hoá xảy ra như thế nào? Cổ nhân, hay nói cách khác là sự tích luỹ kiến
3
thức góp nhặt của nhiều bộ óc siêu việt trong hàng ngàn năm, đã tổng kết sự chuyển hoá
ấy trong học thuyết Âm dương - Ngũ Hành. Theo đó, Âm chuyển hóa dần thành Dương
theo quá trình 5 bước, gọi là Ngũ Hành. Nắm vững học thuyết Âm Dương Ngũ Hành
chúng ta có thể suy đoán, luận giải, chiêm nghiệm về con đường và động lực của sự phát
triển.
Nếu coi âm dương chính là các các mặt đối lập, thì các mặt đối lập ấy có thể là nam nữ,
nóng lạnh, trên dưới, trong ngoài, Khi xem xét mọi đối tượng và quá trình đều có thể
nhìn thấy âm dương.
Còn Ngũ Hành chính là cách thức vận động, là cái biểu hiện ra ngoài của quá trình vận
động, đồng thời cũng là bản chất của động lực tạo ra sự phát triển. Ngũ Hành có thể được
xem là biểu tượng không gian, cũng có thể được xem là thời gian, có thể là vật chất, cũng
có thể là tinh thần. Tuy vậy, cách giải thích về Ngũ Hành thường có những ý kiến khác
nhau đến mức đôi khi trái ngược hẳn với nhau. Hơn nữa, các sách vở nói về Ngũ Hành
gốc thường bằng chữ Hán. Khi dịch ra đôi khi không hết nghĩa, hoặc thậm chí bị méo
ngừng. Biên dạng của sự phát triển ấy là dãn nở theo các vòng xoáy. Mỗi cung trong các
vòng xoáy phát triển ấy có cái vỏ khác nhau. Nhiệm vụ của khoa học ngày nay là nhận
chân các cung đó để phán đoán về cung bậc phát triển tiếp theo.
Những chuyển động ấy luôn phải qua các trạng thái quay, như hình 1 dưới đây.
Hình 1. Chuyển động xoay trong vũ trụ - Spiral Galaxy M81
Trong hình trên ta thấy chuyển động xoay của tinh vân. Trong quá trình đó, các phân tử
hydro bị cuốn đi với vận tốc cao, chúng va chạm, dính kết, phân rã, tạo nên các phân tử
nặng hơn, dần dà thành các hạt bụi tinh vân. Sự tương tác giữa các hạt bụi ấy tạo nên các
khối nặng hơn, quá trình cứ như thế tiếp tục, dần dần các ngôi sao mới được sinh ra. Đây
chính là giai đoạn đầu tiên của sự phát triển. Quan sát quá trình này sẽ vô cùng có ích cho
chúng ta trong các luận giải về sau.
1.4. KHÁI NIỆM SƠ ĐẲNG VỀ NGŨ HÀNH
1.4.1.Ngũ Hành là biểu tượng
Nhờ quan sát bầu trời, vũ trụ, quan sát những thay đổi trong xã hội về vật và về tình mà
người xưa đã xây dựng nên học thuyết Âm dương – Ngũ hành. Họ không có các bức ảnh
chụp về vận động vũ trụ, nhưng mô hình tượng trưng trong Ngũ Hành rất giống với bức
ảnh trên.
Người xưa chưa có biện pháp ký hiệu các giai đoạn kế tiếp nhau của sự vận động nên đã
5
lấy các chữ Kim - Thuỷ - Mộc - Hoả - Thổ để diễn tả vận động. Những khái niệm về Kim
- Thuỷ - Mộc - Hoả - Thổ không khác gì cách thức các nhà toán học sáng tạo ra các ký
hiệu toán học ngày nay. Chúng không đơn thuần:
Kim = kim khí,
Thuỷ = nước,
Mộc = gỗ,
Hoả = lửa,
Thổ = đất.
Chúng chỉ là các cách gọi mang tính biểu tượng. Nhưng các biểu tượng ấy có quan hệ
chặt chẽ với nhau, tương sinh, tương khắc, ủng hộ kìm hãm, thúc đẩy ức chế nhau. Trong
mấy ngàn năm qua, học thuyết Ngũ Hành không ngừng được bổ sung phát triển, không
đối tượng khác nữa (Thuỷ) khắc chế quá trình sinh trưởng của nó. Đó gọi là quan hệ
tương khắc.
Ta diễn tả mối quan hệ sinh khắc đó bằng hình 3.
Hình 3. Quan hệ tương sinh - tương khắc
Như vậy, nếu xem đối tượng Hoả là lửa đang cháy thì một cách trực quan ta thấy các
quan hệ sinh - khắc trên rất hợp lý: Muốn có lửa cháy phải có gỗ (Mộc, quan hệ mẹ con),
lửa cháy sẽ đẻ ra than tro (Thổ). Nhưng trong quá trình lửa cháy nó sẽ làm phiền đối
tượng Kim, làm Kim bị nóng, biến dạng, chảy thành nước. Trong khi lửa (Hoả) đang tập
trung tác động lên một đối tượng khác thì nó hòan toàn có thể bị nước (Thuỷ) khắc hại,
7
có thể còn bị dập tắt, nếu nước mạnh và nhiều. Các hành khác cũng có quan hệ sinh khắc
tương tự.
Nhưng vấn đề đặt ra, là tại sao chỉ có 5 hành, không phải 4 hay 6, hay nhiều hơn nữa.
Liệu 5 hành đó đã có thể mô tả muôn hình vạn trạng của tự nhiên và xã hội hay chưa.
Do vậy, để giải mã Ngũ Hành trước hết không thể quan niệm nó như là các đối tượng vật
chất thuần tuý, mà phải xem các hành là biểu tượng của các quá trình, các cung đoạn
của vòng xoáy phát triển.
1.4.3. Trạng thái vận động của một đối tượng theo Ngũ Hành
Trước hết chúng ta thống nhất chữ trạng thái trong các thảo luận dưới đây không đồng
nhất với trạng thái vật chất của vật lý học (rắn, lỏng, khí, plasma). Trạng thái sẽ được
hiểu một cách rộng rãi hơn, mang tính biểu tượng hơn.
Ta trực tiếp bàn luôn vào biểu hiện của 5 hành (Hỏa, Thổ, Kim, Thuỷ, Mộc) dưới dạng
các trạng thái. Mỗi trạng thái là một cung đoạn của sự phát triển. Mỗi cung đoạn đó có
thể phân ra thành nhiều giai đoạn nhỏ. Để tránh trừu tượng hoá ta sẽ lấy ví dụ về một đối
tượng nào đó, có thể là một người, một thành phố, một đất nước, cũng có thể là một đối
tượng vật chất, Tất nhiên, các thảo luận dưới đây mang tính khái quát rất cao, không sa
đà cụ thể vào một trường hợp chuyên biệt. Khi đã nắm được phương pháp phân tích trạng
thái của Ngũ hành, chúng ta có thể chiêm nghiệm nó sang các đối tượng và quá trình
khác, dần dần làm phong phú thêm kiến văn của chính mình. Các phân tích trạng thái
giản lược nhất về Ngũ Hành như sau:
năng lượng bên trong nữa. Ở trạng thái Hoả, đối tượng sẵn sàng tiếp thu các phần tử mới,
nhưng các phần tử mới phải chấp nhận chép gần như nguyên bản phương cách hoạt động
của hệ thống. Các phần tử của hệ thống có tính cách gần giống nhau. Trạng thái Hoả có
tính chất phong trào. Hoả được Mộc sinh ra theo vòng Ngũ Hành thuận, đôi khi nó cũng
được tạo thành do sự vận động trực tiếp theo chiều ngược của hành Kim mà ra. Tính chất
cơ bản của Hỏa là sao chép mô hình một cách nhanh chóng.
Thổ: Khi hết thời của Hoả thì kế tiếp ngay sau là Thổ. Đó là trạng thái tất yếu của một
đối tượng sau khi đã mang hết hoặc gần hết năng lượng của minh để phát sinh Hỏa. Thổ
là đang nghỉ ngơi, biến đổi rất chậm, gần như không quan sát thấy bằng mắt thường.
Trong thời gian Thổ, đối tượng tê liệt, chậm chạp, thường là hơi nhúc nhích. Những thay
đổi bên trong lòng của trạng thái thổ rất âm ỉ, liên kết của các phần tử trong Thổ rất lỏng
lẻo. Ở trạng thái Thổ, đối tượng dễ tiếp thu các thành phần mới, như ta ném bất cứ vật gì
xuống mặt đất thì đất cũng nhận nó. Thổ không phản ứng mạnh mẽ lại với các phần tử
mới gia nhập. Thổ học tập các phần tử mới một cách từ từ, có thể đồng hoá cái mới nhập
vào cũng có thể bị thay đổi theo cái mới, nếu quán tính của Thổ nhỏ, hoặc nếu thành phần
mới có sức mạnh lớn, khả năng cảm hoá lớn.
Kim kế tiếp: Kim kế tiếp là hậu quả của Thổ ở vòng sau của quá trình phát triển vĩnh
hằng, nó là con đẻ của sau một thời nghi ngơi của Thổ. Lúc này, Kim dần dần hình thành
trong trạng thái thu tĩnh của Thổ. Kim là bước khởi đầu của một quá trình mới, nhiều khi
chỉ là các ý tưởng, và Kim mới chính là phôi thai của vòng Ngũ Hành sau. Nhiều khi
Kim kế tiếp là ngoại lai đưa tới, vì trên khuôn vi của Thổ cũ năng lượng hoạt động đã cạn
kiệt rồi.
Như vậy chúng ta đã thảo luận sơ bộ về vòng tương sinh của Ngũ Hành, của 5 giai đoạn
vận động phát triển của một đối tượng riêng biệt. Đó là 5 trạng thái, 5 giai đoạn mà đối
tượng nhất định sẽ phải trải qua. Cái khó của người học Ngũ Hành là đoán định xem
trạng thái hiện thời của một đối tượng đang diễn biến trước mắt là thuộc hành nào. Bởi vì
không có đối tượng nào độc lập tồn tại, hơn nữa trong mỗi thành phần cấu tạo của một
đối tượng lại có nhiều đối tượng con. Các đối tượng con đó lại đang vận động theo Ngũ
Hành con. Mà các Ngũ Hành con đó cũng rất chênh lệch nhau.
1.4.4. Vài ví dụ đơn giản về Ngũ hành
mây đi xuống và từ mặt đất đi lên vươn ra đủ gần nhau thì có sự phóng điện nối liền hai
kênh dẫn điện đó. Ta nghe thấy tiếng sét nổ - hành Mộc hình thành. Đó là lúc một kênh
dẫn điện mới từ đám mây xuống đất đã được sáng tạo (tạo lập). Nếu sự bảo vệ chống sét
không tốt, cú sét đánh lại rơi trúng vào một mái nhà gỗ, thì căn nhà sẽ bốc lửa cháy. Đó
là hành Hỏa. Giả sử căn nhà bị cháy rụi hoàn toàn ta có ngay hành Thổ. Tro tàn sẽ sinh ra
từ Hỏa.
Ba ví dụ trên là ba vòng Ngũ Hành. Ví dụ 3 là một vòng Ngũ Hành khá ngắn. Đôi khi
mây mưa và sấm sét chỉ hình thành và phát triển nhanh chóng khoảng 1 giờ trong cơn
giông. Các yếu tố tham gia vào vòng Ngũ Hành này chỉ có nước bốc hơi, nhiệt độ, gió,
mái nhà, bầu không khí và mặt đất tại khu vực khảo sát. Đó là ví dụ về một vòng Ngũ
Hành tự nhiên. Ví dụ 2 là một vòng Ngũ Hành trung bình. Đó là vòng Ngũ Hành cá nhân
tổng hợp của đời một con người. Độ kéo dài về thời gian trong các vòng ấy dài ngắn khác
nhau, dài ngắn tuỳ thời, tuỳ hòan cảnh. Vòng Ngũ Hành này chịu tác động của muôn vàn
10
vòng khác trong đời, (thầy cô, cha mẹ, đồng nghiệp, ). Ví dụ 1 là một hành Ngũ Hành
khá lớn nói về sự vận động của cả dân tộc Việt nam trong giai đoạn lịch sử cận đại vừa
qua. Đó là vòng Ngũ Hành dân tộc. Vòng này có sự tham gia của hàng triệu vòng Ngũ
Hành cá nhân tổng hợp và nhiều triệu Vòng Ngũ Hành tự nhiên và xã hội khác.
Ngay cả vòng Ngũ Hành trong ví dụ 1 cũng nằm trong lốc xoáy của một vòng Ngũ Hành
rộng lớn hơn là dòng chảy lịch sử đương đại toàn cầu. Cuối cùng, cả vòng Ngũ Hành vận
động của nhân loại đang quay trong một vòng Ngũ Hành vũ trụ vĩ đại như trong hình 1.
1.4.5. Các khác biệt với cách giải thích kinh điển
Trước hết chúng tôi không hề phát hiện ra các vấn đề mới của Ngũ Hành, mà chỉ dùng
các danh từ mới để giải thích Ngũ Hành theo cách hiểu của mình. Rất có thể cách hiểu
này còn chứa nhiều sai lầm, cho nên từ “khác biệt” mà chúng tôi dùng dưới đây với hàm
nghĩa là cách giải thích có đôi phần khác biệt với cách giải thích trong các cổ thư.
- Khác biệt về đối tượng và quá trình:
Các nhà Ngũ Hành kinh điển ở Việt nam, Trung hoa và các nước Á đông khác, thường
giải thích Ngũ Hành như là các vật thể, các đối tượng tương đối tĩnh. Ví dụ trong đông y
luôn xem Thận thuộc hành Thuỷ, Phổi thuộc hành Kim. Giải thích như vậy đúng trong
sang hành Thuỷ và hành Mộc trong có 10 năm cuối đời. Đó nguyên lý xuất xử (lui tới)
của các nhà quân tử xưa. Vậy nên mỗi hành có thời lượng dài ngắn khác nhau. Thời
lượng biến động của các hành là một khác biệt thứ hai trong phép tìm hiểu Ngũ Hành của
chúng tôi.
- Sự tham gia của ý chí cá nhân vào Ngũ Hành
CON NGƯỜI là một vật thể vũ trụ. Bản thân con người xét về mặt thể chất và tinh thần
là sự kết hợp của nhiều vòng Ngũ Hành. Ý chí cá nhân chính là Kim của một con người.
Kim đó một phần do thiên bẩm, phần lớn là do tích luỹ học hành. Mỗi người tích Kim
một cách khác nhau, tuỳ thuộc vào cái phần thiên bẩm kia.
Vậy trước hết ta hãy xét tính tự nhiên của con người. Về mặt thể chất mỗi cá nhân con
người là một hệ tự thích nghi, tự điều chỉnh, tự bảo vệ, ở mức cao hơn rất nhiều so với
các sinh vật khác. Cái hệ thống ấy đói thì ăn, khát thì uống, nóng lạnh biết thêm áo bớt
khăn, bệnh tật ốm yếu biết tự động phân phối năng lượng, thực phẩm và thuốc men đến
các cơ quan phủ tạng
Về mặt tinh thần con người là một hệ có tính tò mò, óc sáng tạo, tính cạnh tranh, nhu cầu
chăm sóc cho tương lai, Ngay từ nhỏ óc tò mò giúp đứa trẻ cầm cái này nắm cái kia,
hỏi cha mẹ tại sao thế này, tại sao thế nọ. Óc tò mò là một yếu tố không thể thiếu trong
hoạt động của các nhà bác học. Óc tò mò cũng là căn cứ cho mọi hoat động sáng tạo.
Tính cạnh tranh là một tính tự nhiên của con người, mà thiếu nó thế giới này sẽ phẳng
lặng như ao nước mùa thu, không có chiến tranh và tiến bộ. Nếu thiếu tính cạnh tranh thì
thế giới chắc là cũng không phát triển nhanh như hiện nay nữa. Nhu cầu chăm sóc cho
tương lai làm cho người ta thích dạy dỗ con trẻ, cất giữ tiền bạc, tích luỹ âm đức, Tất
cả mấy tính chất kể trên đều là tính tự nhiên của mỗi con người. Tuỳ cá thể tính tò mò, óc
sáng tạo, tính cạnh tranh, nhu cầu chăm sóc tương lai sẽ khác nhau. Có kẻ cực kỳ sáng
tạo, có người chỉ làm theo bài bổn lập sẵn, Nhưng dù thế nào thì tính tự nhiên của con
người cũng tác động mạnh đến thế giới xung quanh anh ta và làm biến dạng Ngũ Hành,
nhất là các vòng Ngũ Hành nhỏ. Một người không làm thay đổi được thời tiết, nhưng
hoạt động của 6 tỉ người đang làm biến đổi khí hậu toàn cầu. Tôi dám đoán chắc rằng chỉ
50 năm nữa mùa đông trên đất Việt sẽ bớt lạnh đi nhiều. Đấy chính là ví dụ về hoạt động
của con người đang làm thay đổi Ngũ Hành của 4 mùa. Hành Hoả sẽ dài hơn lên, hành
- Ngũ Hành mang tính quá trình động, chứ không luôn luôn là các vật thể tĩnh, các đối
tượng cụ thể
- Thời lượng của mỗi hành rất biến ảo, ngắn dài, có khi trong một vòng hành Kim được
tính bằng năm, mà thời lượng của Thuỷ và Mộc chỉ tính bằng tháng, hoặc ngày,
- Ý chí cá nhân có thể tác động mạnh mẽ lên Ngũ Hành, đặc biệt các ý chí có tầm ảnh
hưởng vĩ mô.
1.4.7. Khái niệm về Ngũ Hành thuận và Ngũ Hành ngược
Các vòng Ngũ Hành thuận đi thuận chiều kim đồng hồ và (có lẽ) thuận cả chiều quay của
vũ trụ nữa, như hình 4. Các vòng Ngũ Hành ngược thì ngược chiều kim đồng hồ như hình
13
5. Nếu đi theo vòng thuận thì nhất định sẽ từ Kim sang Thuỷ, đến Mộc, phát Hoả và về
Thổ. Ngay tại Hoả cũng có thể chuyển về Kim một phần năng lượng cho vòng sau. Vòng
Ngũ Hành thuận có một đặc điểm nổi bật để nhận biết là sau tích Kim và khai Thủy nhất
định sinh Mộc, tức là khai phát một đối tượng, sản phẩm, qui trình hay sự vật mới. Đó
gọi là sang tạo. Một sự vận động mà không có sáng tạo thì nhất định không phải là đang
vận động theo Ngũ Hành thuận.
Ngược lại nếu đi theo chiều ngược, thì từ Kim có thể ghé qua Thổ mà sinh Hoả, nhưng
không bao giờ về Mộc được, không có sáng tạo, không phát triển. Trạng thái hoả chỉ là
giả tạo. Ví dụ, tham nhũng có tiền, sau đó dùng tiền mua đất, thì chưa thấy ai phát hoả từ
đất đai, mà chỉ dần dần chìm xuống.
Trong một vùng mà các vòng Ngũ Hành do con người khởi tạo đa số thuận chiều, thì
vùng ấy sẽ phát triển bền vững. Ngược lại, trong vùng ấy có nhiều vòng ngược thì sẽ nảy
sinh các lốc xoáy, vùng sẽ phát triển thiếu bền vững. Tuy nhiên, con người dù có mạnh
mẽ đến đâu cũng không thể đảo lộn các vòng Ngũ Hành tự nhiên từ thuận sang ngược.
Những người đã “ngộ” ra chiều thuận không bao giờ vì tham vọng và ý chí cá nhân mà
khởi tạo các vòng ngược. Các hôn quân bạo chúa ngày xưa đều bị lịch sử đào thải vì đã
khởi động các vòng ngược. Ai làm chủ các vòng ngược thì sớm muộn đều bị các vòng
Ngũ Hành tự nhiên đào thải và huỷ diệt.
Với các khái niệm cơ bản về Ngũ Hành như trên, chúng ta có thể bắt đầu phân tích một
số vấn đề thực tế, chiêm nghiệm sự vận động và phát triển đã và đang xảy ra, dự báo và
Các nhà Vật lý nghiên cứu về lỗ đen cũng chỉ ra rằng xung quanh lỗ đen có một trường
hấp dẫn cực mạnh hút mọi vật thể, từ các thiên thể rất lớn cho đến các hạt bụi vũ trụ siêu
nhỏ, cả ánh sáng nữa, vào lỗ đen đó. Vậy trong thiên nhiên song song với quá trình phát
xạ sau vụ nổ lớn (big bang) luôn luôn tồn tại quá trình tích luỹ vật chất và năng lượng vào
các lỗ đen chuẩn bị cho các quá trình sinh tạo khởi phát mới.
Mô hình tích Kim vũ trụ cũng chính là mô hình tích Kim của con người và xã hội. Tuy
vậy, con người với tư cách là sinh vật có ý thức, nên sự tích Kim còn phụ thuộc ý chí cá
nhân. Dưới đây sẽ xét một số vòng Ngũ Hành cơ bản khởi đầu bằng tích Kim để minh
hoạ.
1.5.1. Tích Kim cá nhân
Như đã phân tích, đời của một con người là một hoặc nhiều vòng Ngũ hành. Cha mẹ sinh
ta ra là đã thay tự nhiên trao cho ta một sinh mệnh, một thứ Kim vô giá. Nhưng để sống
trong đời, thì cái Kim tiên thiên ấy không đủ đảm bảo rằng bạn sẽ được hạnh phúc, an
nhiên, vô thường. Ngoài việc bồi đắp thực phẩm, hấp thu dưỡng khí để cái Kim tiên thiên
ấy phát triển từ một hài nhi thành một cơ thể tráng kiện, thì một con người cần phải học
tập rất nhiều để sống hài hòa, hạnh phúc trong xã hội, cùng đóng góp cho xã hội phát
triển tốt đẹp. Vậy học tập là quá trình tích Kim. Lúc bập bẹ học nói, lẫm chẫm học đi ở
15
nhà là bắt đầu tích Kim phản xạ để ta biết cách ứng xử với môi trường xung quanh ban
sơ. Học ở trường để ta nhanh chóng nắm được kiến thức chuyên môn, đặng có việc làm.
Học ở đời để ta nắm được các qui luật sống. Tất cả các việc học ấy là tích Kim kiến thức.
Khổng Tử học đến 50 tuổi mới dám nói rằng biết thiên mệnh, tức là biết được qui luật
vận động của trời đất và xã hội. Cho nên đến thế kỷ 21, khi nhiều người trên hành tinh
này cùng nhau xác định rằng nền kinh tế tương lai là nền kinh tế tri thức, còn cuộc đời là
một cuộc học tập mãi mãi, thì chúng ta đã may mắn hơn tổ tiên rất nhiều, vì chúng ta
đang được sống trong một môi trường có thể tích Kim không ngừng, tích Kim một cách
chủ động.
Nhưng mọi con người bình thường ngoài việc học tập còn bao nhiêu việc phải làm, lo
cơm áo, lo nhà cửa, kiếm việc làm, nuôi dạy con cái, Những công việc ấy cũng giúp ta
học tập, đặc biệt là học tập từ các kinh nghiệm thực tế của chính mình và quần thể xung
cản trở. Vì vậy tích Kim vật thể đòi hỏi một tấm lòng nhân ái. Lòng nhân ái càng lớn thì
bạn càng có cơ hội tích Kim nhiều hơn nữa. Các qui tắc đạo đức cần, kiệm, liêm, chính
là các qui tắc tối quan trọng cho quá trình tích Kim vật thể. Bài phú Tiền Xích Bích của
Tô Đông Pha đời Tống là một qui tắc tuyệt vời cho những ai muốn tích Kim vật thể bền
vững mà vẫn giữ được mối giao hòa với những người xung quanh.
Khi bạn đã tích Kim phi vật thể và tích Kim vật thể được rất lớn thì theo Ngũ Hành bạn
được gọi là người có Đức lớn. Có Đức lớn thì dễ dàng rất nhiều trong việc Khơi Thuỷ,
Sinh Mộc và Phát Hoả. Khởi Thuỷ có thể xem như là nảy sinh ý tưởng. Các ý tưởng lúc
đầu lặng lẽ tồn tại trong hộp sọ, chưa làm phát sinh một vòng Ngũ Hành nào cả. Các ý
tưởng ấy cần phải được thẩm định kỹ trước khi mang ra thực hiện. Quá trình thẩm định ý
tưởng trong thực tế chính là khai Thuỷ. Lúc bắt đầu thực hiện ý tưởng là thuộc về Mộc. Ý
tưởng chỉ có thể đứng vững khi Mộc được thực tế chấp nhận. Nếu thực tế đào thải Mộc
thì Đức của Mộc đó nhỏ yếu, có thể không hợp tự nhiên nữa. Khi thực tế đã kiểm định ý
tưởng biến nó thành một cây Mộc xanh tốt, hùng tráng thì vòng Ngũ Hànhđã đi đúng
hướng, và có thể nghĩ đến việc phát Hỏa cho quá trình phát triển, biến ý tưởng thành một
thực thể mạnh mẽ. Ngay lúc Hoả bắt đầu phát thì vòng Ngũ Hành đã tự vận động được.
Cũng như cha mẹ sinh con, lúc con lớn, tự chủ cuộc đời thì cũng là lúc vòng Ngũ Hành
của người con ấy đứng vững. Lúc đó, đã phải nghĩ đến tích Kim cho vòng sau, không vui
với thắng lợi của Hoả mà để có thể lâm vào cảnh tro tàn của Thổ.
Những gia đình gia giáo luôn có ý thức cao về tích Kim cá nhân. Cha ông trong các gia
đình ấy luôn lấy tấm gương cá nhân về học tập làm gia bảo. Sau vài đời có thể từ lầm
than mà trở thành danh gia vọng tộc. Ngược lại, các gia đình chỉ lấy võ công làm gia bảo
thì chỉ bền được vài thế hệ là nhiều. Đó là biết hay không biết tích Kim cho các vòng phát
triển sau.
Tóm lại, có thể mô tả việc tích Kim cá nhân bằng hình 6 dưới đây.
17
Hình 6. Mô tả quá trình tích Kim cá nhân
1.5.2. Tích Kim doanh nghiệp
Lịch sử một doanh nghiệp bao giờ cũng bắt đầu từ chỗ nhỏ bé. Ngay cả các đại công ty,
các công ty toàn cầu, các tập đoàn đa quốc gia mà chúng ta biết như TOYOTA, Nokia,
xây dựng kế hoạch tổng thể (master plan).
Lúc bắt đầu bán hàng, có thêm đại lý, đặt chân vào thị trường thì doanh nghiệp đã khởi
Mộc. Cuối cùng khi sản phẩm bán chạy, tăng công suất, mở rộng qui mô, xây dựng chi
nhánh ở tỉnh khác, vùng khác, nước khác, gọi là Hoả. Ngay trong lúc đang Hoả vượng
mà biết dành dụm lãi để nghiên cứu sản phẩm mới thì gọi là tích Kim trong Hoả. Không
điềm nhiên hưởng lợi nhuận từ Hoả, để rồi suy sụp trong tro tàn của Thổ, thì gọi là kẻ trí
nhân.
Một doanh nghiệp muốn phát triển bền vững cần phải luôn luôn tích Kim. Tích Kim cơ
bản lúc khởi nghiệp gọi là tích Kim sơ cấp. Tích Kim trong khi doanh nghiệp đã phát
Hoả gọi là tích Kim thứ cấp. Bất cứ khi nào doanh nghiệp dừng tích Kim thứ cấp thì nó
có thể rơi vào thế suy tàn của Thổ, nhất là tronmg thời đại cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Tích Kim thứ cấp bao gồm đổi mới công nghệ, tăng cường nguồn nhân lực, giữ gìn đoàn
kết để các yếu tố Hoả không tự thiêu cháy nhau. Các doanh nghiệp thành đạt, bất cứ ở
nước nào, đều phải có cơ quan Nghiên cứu Phát triển R&D. Đó chính là hình thức tích
Kim thứ cấp về công nghệ. Họ luôn luôn nghiên cứu tìm tòi công nghệ mới, đổi mới công
nghệ sẵn có. Trên cơ sở đó họ có sản phẩm ngày càng tốt hơn, giá rẻ hơn, thậm chí họ có
thể sáng tạo ra các sản phẩm mà ngay khi khởi nghiệp, nhóm cá nhân trụ cột của doanh
nghiệp (những sáng lập viên) còn chưa hề nghĩ đến. Sở dĩ như vậy vì họ luôn luôn tích
Kim. Tích Kim liên tục là yêu cầu thiết yếu không thể thiếu được nếu doanh nghiệp
muốn phát triển bền vững.
Trong tích Kim doanh nghiệp, đặc biệt là tích Kim thứ cấp, thì vấn đề tích Kim nguồn
nhân sự và chất gắn kết (đoàn kết) nhân sự là vấn đề sống còn không kém vấn đề đổi mới
và nghiên cứu công nghệ.
1.5.3. Tích Kim của một vùng
1.5.3.1. Phạm vi của vùng
Một vùng là một khu vực có nhiều người cùng sinh sống. Vùng trong Ngũ Hành không
đơn thuần được xác lập bởi địa giới hành chính. Vùng là một khu vực được xác lập bởi
phạm vi ảnh hưởng của các vòng Ngũ Hành. Tích Kim của vùng khó khăn hơn rất nhiều
tích Kim cá nhân và tích Kim doanh nghiệp. Nếu qui hoạch tốt, lại có lãnh đạo giỏi thì
vùng được tích Kim có chủ hướng. Ngược lại, vùng có thể được tích Kim tự phát do tổng
thay cho “trị” Đó là biểu hiện cho văn hóavà ngôn ngữ vùng đang đi từ Hoả về Thổ.
1.5.3.2. Trạng thái của vùng
Vì chúng ta đang xét vấn đề làm thế nào để tích Kim cho một vùng đặng đảm bảo một sự
phát triển bền vững. Nên sau khi đã xác định được phạm vi của vùng, điều quan trọng
nhất là phải xác định được vùng đang trong hành nào: Hoả hay Thổ, Mộc hay Thuỷ,
Trước hết, cần xác định vùng hiện đang có bao nhiêu vòng Ngũ Hành lớn bé. Tổng hòa
của các vòng ấy sẽ cho ta mường tượng về hình thế phát triển của vùng. Phải biết được
hình thế phát triển của vùng đang trong giai đoạn nào. Khi hình thế của vùng đang trong
Thuỷ hoặc Mộc thì việc tích Kim khá dễ, nhưng khi hình thế phát triển của vùng đang
trong Hoả thì việc tích Kim rất khó. Vì trong vùng có nhiều người, lại đang trong Hoả thì
ai cũng bừng bừng, ít người muốn tích Kim tri thức mà phần nhiều chỉ muốn tích Kim vật
thể. Nếu vùng đang trong Thổ việc tích Kim càng khó khăn hơn. Lúc đó tích Kim tri thức
20
cũng khó, mà tích Kim vật thể cũng khó. Tuy vậy, đôi khi có thể tích Kim phi vật thể sẽ
dễ dàng vì trong Thổ bừng lên ý chí.
Vì một vùng có rất nhiều người sinh sống nên trạng thái của các vòng cá nhân không
đồng nhất với nhau. Tuy nhiên, có thể dùng thống kê để đánh giá trạng thái của vùng.
Tức là, khi một vùng mà có rất nhiều người đang ở cùng một trạng thái thì cơ hồ âm nhạc
và màu sắc của vùng sẽ bị qui định bởi mẫu số chung của các vòng cá nhân đó. Ví dụ,
một vùng mà đa số đang tích Kim tri thức thì đó là một xã hội học tập tích cực, mầu sắc
tươi sáng, âm nhạc dịu dàng, khoan thai. Khi một vùng mà đa số đang ở Thổ thì xã hội trì
trệ, mầu sắc hỗn tạp, đồng bóng, âm nhạc nặng nề, dâm dật. Ví dụ, một vùng có rất nhiều
người đang kiếm tiền bằng mọi cách (kể cả tham nhũng) sau đó mua bất động sản thì
chính là đang chuyển từ Kim sang Thổ. Đây là trạng thái Ngũ Hành ngược, cực kỳ nguy
hiểm cho sự phát triển.
Ở trên đã đề cập đến việc tìm hiểu các vòng Ngũ HànhTự nhiên và Xã hội để xác định
phạm vi vùng. Ngoài ra, cũng đã đề cập đến việc tổng hòa các vòng lớn bé sẵn có trong
vùng để xác định trạng thái của vùng. Tuy vậy, những gợi ý đó vẫn còn rất mơ hồ. Cần
phải có linh cảm lớn, khả năng khái quát lớn, lượng thông tin dồi dào, khả năng tổng hợp
mạnh mẽ mới xác định được trạng thái thực của vùng.
mở Khu Công nghiệp, mở Đại học, xây cảng biển, làm du lịch, thành lập ngân hàng cổ
phần chính là biến thái của kinh tế mặt tiền ở qui mô lớn.
Các nhà lập pháp dùng Ngũ Hành có thể gom nhiều đốm lửa nhỏ mặt tiền thành một tích
luỹ lớn, tạo điều kiện cho sự ra đời của một hành Kim mạnh mẽ. (Đây là một nội dung
nghiên cứu có thể đào sâu sau này).
2.1.2 Vỡ hụi
Cách đây khoảng hai mươi năm bắt đầu phong trào hụi. Theo định nghĩa nôm na hụi gồm
hai đối tượng: chủ hụi và người chơi hụi. Người chơi thì muốn cho vay để thu lãi nhanh
và nhiều. Còn chủ hụi lại không phải là một nhà thu gom tài chính để tạo ra lãi bằng các
hoạt động sản xuất kinh doanh thực. Nhưng người chơi hụi thường không nhìn rõ bản
chất quá trình, thấy mối lợi của vài lần thanh toán đầu là lao vào cuộc chơi như con thiêu
thân. Đó là một trạng thái bốc Hoả rất bừng bừng. Trong phép chơi hụi, Hoả rất mạnh
nên cũng chóng tàn, người chơi hụi về Thổ thật điêu tàn đôi khi chỉ vài tháng là đã bị về
Thổ. Nhiều người phải chịu trốn lủi, phải trả giá bằng một vài thế hệ, thậm chí Thổ của
họ lan sang cả đời con và đời cháu. Bởi vì họ đã vào Hoả không phải bằng quá trình tích
luỹ hành Kim thực sự. Sự tích luỹ hành Kim bằng năng lượng tự thân, kinh nghiệm, kiến
thức, Họ tích Kim và lao sang Hoả, họ thực sự đã chơi các vòng ngược. Do đó khi Hoả
đã đốt cháy chút năng lượng tích luỹ của Kim thì hui về Thổ rất nhanh.
Xét các vòng Ngũ Hành cá nhân trong hụi, ta thấy hành Hoả là một giai đoạn cực ngắn,
và đương nhiên các hành khác cũng ngắn. Từ đây suy ra một hệ quả: Tuy thời lượng của
các hành trong một vòng Ngũ Hành dài ngắn khác nhau, nhưng độ dài tương đối không
khác nhau quá nhiều.
Một đặc điểm quan trọng khác của hụi là bắt chước. Không có ví dụ nào về sự bắt chước
mà sinh động như sự bắt chước trong hụi. Người ta lao vào chơi hụi vì thấy người khác
chơi hụi giàu lên nhanh quá. Chỉ sau vài phân tích nhỏ, lại được thông tin rằng bà A, ông
B lãi nhanh là vay mượn để chơi, bán nhà để chơi. Họ bỏ qua quá trình tích Kim, đốt
cháy giai đoạn Thuỷ, bỏ qua Mộc và tiến thẳng vào Hoả. Thực chất quá trình này chỉ
khởi phát từ một sự tích Kim “dởm”, vay mượn hoặc cầm cố. Vì Kim “dởm” nên khi vào
Hoả cháy như lửa rơm, không bền vững, dễ bị thổi tạt chỉ bởi một luồng gió nhẹ. Các nhà
Ngũ Hành gọi sự vào Hoả theo kiểu bắt chước (như trong chơi hụi) là các vòng Ngũ
cuộc sống gia đình và có đôi chút tích luỹ. Vòng ấy sẽ là “âm hành phát” nếu anh ta
23
không kiếm đủ khách. Anh ta có thể dùng ý chí tác động lên mọi giai đoạn từ Kim, Thuỷ,
Mộc đến Hoả, Thổ của vòng này để biến nó thành “dương hành phát”. Giả sử trong thành
phố có rất nhiều vòng “dương hành phát” của nghề xe ôm, thế thì, các vòng Ngũ Hành xe
ôm ấy sẽ đóng góp phần dương vào tăng trưởng GDP của quốc gia.
Trong một vùng, một quốc gia có hàng triệu triệu vòng Ngũ Hành như vậy. Cái bóng
hình tổng thể của các vòng Ngũ Hành ấy chính là sự lưu thông của đồng tiền. Hàng triệu
triệu vòng Ngũ Hành ấy thông qua đồng tiền đã đóng góp vào bức tranh tổng thể của nền
kinh tế vĩ mô.
Mỗi công ty ra đời, mỗi dự án được thực hiện là một vòng Ngũ Hành mới được xác lập,
thêm vào cái hoạt động vô cùng vô tận của đời sống. Thước đo của sự vận động ấy chính
là sự lưu thông của đồng tiền. Lượng tiền phát hành ra từ ngân hàng Nhà nước phải tương
ứng với quá trình tích Kim của hàng triệu vòng Ngũ Hành kia. Có hai hình thức tích Kim.
Tích kim sơ cấp là chuẩn bị điều kiện đủ để nảy sinh một vòng Ngũ Hành mới. Tích Kim
thứ cấp là tích Kim của chính các vòng đang tồn tại cho một chu trình tiếp sau nữa. Nếu
lượng tiền in ra vượt mức độ tích Kim thì có lạm phát. Lạm phát càng lớn nếu quá trình
tích Kim càng yếu ớt.
Đặc điểm của nền kinh tế hiện nay là hội nhập. Do đó, ngoài dòng chảy của nội tệ, còn có
dòng chảy của ngoại tệ. Vì vậy, người cầm cân nảy mực cho sự vận hành của đồng tiền
quốc gia cần biết rõ sức mạnh của cả hai dòng chảy nội tệ và ngoại tệ. Hiện nay ở nước
ta, dòng ngoại tệ khá mạnh. Các đầu vào của dòng ngoại tệ có thể do dòng vốn chính
thức FDI, dòng vốn vay của chính phủ, dòng viện trợ, dòng kiều hối, dòng do khách du
lịch lẻ đưa vào
Ngày nay dân ta quá quen với đô la. Mua máy tính, máy điện thoại, các đồ gia dụng cao
cấp, mua ô tô xe máy, mua nhà, người ta có thể tính toán, cân nhắc giá trị món hàng
qua đô la. Đôi khi, người ta còn thanh toán trực tiếp bằng đô la. Thậm chí, một du khách
có thể trả tiền phòng trọ, tiền ăn một bát phở bằng đô la nữa. Điều đó cho thấy dòng chảy
ngoại tệ trên thị trường khá mạnh. Dòng chảy ngoại tệ một phần đi qua các ngân hàng,
một phần không đi qua ngân hàng. Thực tế khó đánh giá hai phân lượng đó. Vậy dùng
2.3. Ngũ Hành trong ngành xây dựng
Ngành hiểu theo Ngũ Hành chính là tổ hợp các vòng Ngũ Hành doanh nghiệp đồng đẳng.
Ví dụ, ngành xây dựng chứa vô vàn các vòng Ngũ Hành về xây nhà ở, xây trường học,
xây công sở, mở mang thành phố, Các vòng doanh nghiệp đó cùng dựa trên một công
nghệ tổng quát là kết cấu các khối vật chất đa chủng loại thành một vật thể mới hoặc
quần thể mới. Ngành xây dựng nói theo nghĩa tổng quát là sắp đặt các vòng Ngũ Hành
cạnh nhau. Sau khi một công trình được xây dựng xong thì coi như ổn định lâu dài, tức
đối tượng xây dựng sẽ về Thổ. Nó sẽ là nền móng cho các quá trình tích Kim khác. Vì
vậy đối với một đất nước đang trong thời kỳ phát triển như Việt nam thì công tác xây
dựng cực kỳ quan trọng.
Trước đổi mới, muốn xây một cái nhà cũng phải có giấy phép mua xi măng, sắt thép. Bây
giờ, cứ có tiền là mua thoải mái, mua đủ loại vật liệu, thậm chí cả các tấm trang trí tường
khổ cực lớn bằng đá cẩm thạch đen tuyền pha tuyết thửa tận Giang Châu - Trung quốc.
Chỉ hơn 20 năm, trạng thái của ngành xây dựng đã phát triển đến mức Hoả. Nhân dân đua
nhau xây nhà ở, cơ quan đua nhau xây công sở. Xây nhà dưới mọi hình thức, thậm chí
mỏng dính. Kiến trúc cực kỳ lộn xộn, mái vòm, đỉnh nhọn, tháp chuông có cả.
Vậy trạng thái dòng chảy Ngũ Hành xây dựng đang trong Hoả. Nhưng là Hoả không bền,
hoả không đượm, đang suy về Thổ. Vì các cá nhân làm việc trong ngành xây dựng đều
muốn giàu nhanh nên họ thúc đẩy các vòng Ngũ Hành vận động quá nhanh. Ngay khi có
dự án là họ tích Kim (tiền, nhân lực, máy móc, ) rồi thi công luôn, tức là khởi chuyển
sang Mộc ngay. Do đó, bộ mặt các thành phố rất lộn xộn. Bức tranh kiến trúc rất xấu. Họ
không để ý nhiều lắm đến Thuỷ (cấp nước kém, cống rãnh nhỏ hẹp, không bền vững, ).
Việc nôn nóng sang Mộc đi tắt qua Thuỷ làm cho thành phố không thể phát triển bền
vững. Hậu quả là hiện nay, môi trường sống trong đô thị bị xuống cấp, phố phường chật
hẹp, dân cư đông đúc, cung cấp nước kém, không khí nồng nặc,
25