Tai biến mạch máu não
(Phần 2)
Tai biến mạch máu não được điều trị như thế nào ?
TPA :
Trong một vài năm gần đây, có một loại thuốc dùng điều trị ngay tình trạng tai
biến mạch máu não là TPA. TPA rất công hiệu trong việc “ phá vỡ cục máu đông”,
tăng tưới máu qua đường tĩnh mạch. Nếu TPA được cho trong vòng 3 giờ đầu sau khi
khởi đầu triệu chứng tai biến mạch máu não, TPA có thể cải thiện tình trạng tai biến
mạch máu não về lâu dài cho bệnh nhân. TPA cho ngay khi triệu chứng bắt đầu, kết
quả sẽ tốt hơn. Vì vậy, thời gian là cốt lõi nhất.
Sử dụng Heparin và Aspirin sớm :
Thuốc làm loãng máu đôi khi cũng được dùng trong điều trị bệnh nhân tai biến
mạch máu não với hy vọng cải thiện sự hồi phục cho bệnh nhân. Tuy nhiên, vấn đề
này còn đang tranh luận, việc dùng kháng đông để cải thiện hậu quả của tai biến mạch
máu não đang sắp xảy ra hoặc chỉ đơn thuần giúp ngăn ngừa hậu quả của độ quỵ.
Trong một vài trường hợp, aspirin cho sau khi khởi đầu tai biến mạch máu não với liều
nhỏ đã cho thấy có hiệu quả hồi phục. Bác sĩ điều trị quyết định thuốc nào ở trên để
điều trị cho bệnh nhân, thuốc nào tốt nhất dựa vào kết quả các xét nghiệm được làm.
Vấn đề xử trí nội khoa khác : Huyết áp quá cao hoặc quá thấp thì cần thiết
phải được điều trị đối với bệnh nhân tai biến mạch máu não. Nếu bệnh nhân bị huyết
áp cao chúng ta không được đưa huyết áp trở về ngay giá trị bình thường, mà phải hạ
xuống từ từ trong vài ngày; còn nếu hạ huyết áp xuống nhanh quá sẽ làm cho tình
trạng tai biến mạch máu não ngày càng tồi tệ hoặc ít cơ hội hồi phục hơn; điều chỉnh
huyết áp xuống từ từ sẽ giúp cho sự tưới máu qua những chỗ hẹp hoặc gần động mạch
bị tắc được tốt hơn. Ở những bệnh nhân tiểu đường, đường trong máu thường ở mức
rất cao sau tai biến mạch máu não. Kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân này có
thể làm giảm được độ lớn của vùng não bị tổn thương. Cuối cùng, cho bệnh nhân tai
biến mạch máu não thở oxy khi cần thiết.
Sự hồi phục:
Khi giai đoạn cấp của bệnh đã qua rồi, đội ngũ cán bộ y tế nên tập trung chính
Trong giai đoạn cấp của bệnh, thường ảnh hưởng tới nuốt gây nuốt sặc, nói đớ
lưỡi, yếu tay, chân ở một bên thân người (liệt bán thân), méo miệng. Bệnh nhân tai
biến mạch máu não nói ngọng sẽ làm cho bất thường về nuốt và tạo điều kiện dễ bị
viêm phổi khi hít thức ăn hoặc nước bọt vào khí quản. Nuốt bất thường đôi lúc cũng
gặp đơn thuần ở bệnh nhân chỉ nói ngọng thôi. Do tai biến mạch máu não thường dẫn
tới bất động ( người bệnh không đi lại được), cho nên có thể tạo thành cục máu đông ở
tĩnh mạch chân. Điều này tạo ra nguy cơ là cục máu đông sẽ di chuyển về tim và làm
thuyên tắc phổi, một tình huống có thể đe dọa sinh mạng bệnh nhân. Có rất nhiều
phương pháp điều trị để ngăn ngừa tạo cục máu đông ở tĩnh mạch chân. Bất động kéo
dài cũng có thể dẫn đến loét da do nằm lâu ngày, điều này được ngăn ngừa bằng cách
thay đổi tư thể thường xuyên cho bệnh nhân bởi y tá hoặc những người chăm sóc cho
bệnh nhân. Trong quá trình hồi phục, nhiều bệnh nhân thường có vấn đề trầm cảm,
chúng ta phải ghi nhận và điều trị cho họ. Chẩn đoán sau tai biến mạch máu não
thường làm rõ mức độ nặng của tai biến mạch máu não và xem vùng não và những
phần não nào đã bị hủy. Một số bệnh nhân có thể hồi phục gần như bình thường chỉ
còn khó khăn chút ít trong việc nói hay sử dụng động tác nào đó. Nhiều bệnh nhân tai
biến mạch máu não có những di chứng vĩnh viễn như liệt nửa người, không nói được
hoặc bị mất nhu động của ruột và bàng quang, làm họ khó tiêu tiểu, hay bị táo bón vài
ngày mới đi cầu một lần, đôi khi cần dùng thuốc bơm mới đi cầu được. Trong những
trường hợp nặng, bệnh nhân sẽ bị hôn mê và tử vong.
Nếu tai biến mạch máu não nặng và làm mất đi khả năng suy nghĩ và vận động
thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong sự giúp đỡ cho bệnh nhân. Ở những trường
hợp này, đôi lúc phải có sự can thiệp của thuốc để phần nào giúp bệnh nhân có thể hồi
phục sớm hơn. Đối với những trường hợp tai biến mạch máu não nặng, kèm ngừng tim
thì bác sĩ và gia đình bệnh nhân nên thảo luận xem có nên hồi phục cho bệnh nhân nữa
không vì cuộc sống kéo dài với bệnh nhân sẽ trở nên rất tồi tệ, họ có thể sống mà như
đã chết. Và quyết định làm một cái gì đó sớm hơn cho người bệnh mà lúc còn khỏe họ
đã yêu cầu ( di chúc và những lời trăn trối trước đó), chúng ta nên thực hiện để khỏi
phải ái náy sau này.
Việc gì có thể làm để ngăn ngừa tai biến mạch máu não ?
nhân cũng cần biết rằng họ sẽ dễ bị chảy máu khi dùng thuốc này có thể chảy máu
hoặc là ở bên trong hoặc bên ngoài.
Aspirin và những thuốc ức chế tiểu cầu khác :
Nhiều bệnh nhân không dùng warfarin có thể dùng nhóm thuốc khác được gọi
là thuốc “ ức chế tiểu cầu “để giảm nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Thuốc này làm
giảm sự tạo lập cục máu đông ở động mạch. Những bệnh nhân dùng thuốc này tác
dụng phụ thường là nguy cơ chảy máu rất cao, nguy cơ này thì ít hơn khi dùng thuốc
kháng đông như warfarin. Thuốc ức chế tiểu cầu thường được chọn lựa đầu tiên để
ngăn ngừa tai biến mạch máu não tái phát là aspirin. Nếu bệnh nhân có phản ứng khi
dùng thuốc aspirin hoặc cơn tai biến mạch máu não vẫn xảy ra, 3 thuốc ức chế tiểu cầu
mới hơn có thể được dùng là clopidogrel, aspirin phóng thích kéo dài và ticlopidine .
Cắt bỏ áo trong động mạch cảnh :
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân bị cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc tai
biến mạch máu não gây ra do hẹp hoặc loét động mạch cảnh. Nếu không điều trị, bệnh
nhân sẽ có nguy cơ cao bị tai biến mạch máu não trong tương lai. Phẫu thuật cắt lọc
sạch sẽ những mảng bám ở bên trong lòng động mạch cảnh và hồi phục lại lưu lượng
máu đầy đủ để cung cấp cho não được gọi là phẫu thuật cắt bỏ lớp áo trong động
mạch cảnh. Tiến trình này cho thấy đã giảm được tần suất tai biến mạch máu não sau
đó. Ở những bênh nhân bị hẹp động mạch cảnh nhưng không có triệu chứng, phẫu
thuật này có thể được chỉ định để ngăn ngừa xảy ra tai biến mạch máu não lần đầu.
Trong tương lai, điều trị tai biến mạch máu não như thế nào ?
Hiện nay, nhiều nghiên cứu đang được tiến hành trên việc dùng thuốc để giải
quyết cục máu đông. Những thuốc này được cho hoặc là chích tĩnh mạch hoặc trực
tiếp vào động mạch bị tắc. Mục tiêu của những nghiên cứu này là tìm ra những ưu
điểm và hình thức mới của điều trị cho bệnh nhân. Những thuốc mới này cũng được
dùng thử nghiệm để giúp làm giảm sự thoái hóa của các tế bào thần kinh bị thiếu oxy
xảy ra lúc tai biến mạch máu não.
Những thuốc này được gọi là thuốc “bảo vệ thần kinh ” ví dụ như là sipatrigine.
Một thuốc khác là chlormethiazole, nó tác động bằng cách cải tiến sự hồi phục của
những gen bị ức chế trong não. Cuối cùng, những tế bào mầm đã được nuôi dưỡng ở