Giãn tĩnh mạch và tĩnh mạch
hình mạng nhện
Khái niệm về tĩnh mạch
Tĩnh mạch là mạch máu mang máu chứa ít ôxy từ cơ thể đến phổi và tim. Đó là
một phần bình thường của hệ tuần hoàn. Mỗi năm có hàng ngàn người có quan tâm
đến việc điều trị suy tĩnh mạch và tĩnh mạch mạng nhện. Các quảng cáo về điều trị
bệnh tĩnh mạch thường chào mời là phương pháp ‘duy nhất, ‘lâu bền’, ‘không đau’
hay ‘an toàn tuyệt đối’ – gây khó khăn trong việc chọn lựa phương cách điều trị tốt
nhất. Nếu quan tâm đến những thủ thuật này thì thông tin sau đây có thể giúp bạn. Dầu
vậy, cũng nên nhớ rằng các thông tin này không thể thay thế cho các tư vấn của bác sĩ
được đào tạo chính quy.
Suy tĩnh mạch là gì?
Tĩnh mạch có thể to lên thành hồ chứa máu khi mất khả năng cho máu lưu
thông bình thường. Những tĩnh mạch phồng lên này có thể thấy được và được gọi là
chứng suy tĩnh mạch. Chứng này thường kết hợp với các triệu chứng như mệt, nặng và
đau các chi. Trong các trường hợp nặng, các tĩnh mạch giãn trên da có thể hình thành
vỡ hay đau (được gọi là ‘loét’). Suy tĩnh mạch thường xảy ra nhất ở đùi và chân.
Tĩnh mạch hình mạng nhện là gì?
Cá ‘tĩnh mạch hình mạng nhện’ nhỏ cũng có thể xuất hiện trên bề mặt da.
Chúng trông giống như những đường nhỏ, ngắn, các đám ‘hình sao’ hay giống như
mạng mê cung. Tĩnh mạch hình mạng nhện thường gặp ở đùi, mắc cá, bàn chân, cũng
có thể gặp ở trên mặt.
Ai bị suy tĩnh mạch và tĩnh mạch hình mạng nhện?
Suy tĩnh mạch và tĩnh mạch hình mạng nhện có thể xuất hiện ở cả nam lẫn nữ
bất kỳ độ tuổi nào, nhưng thường ảnh hưởng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hoặc lớn
hơn. Người có tiền căn gia đình và cao tuổi có khuynh hướng gia tăng mắc chứng suy
tĩnh mạch và tĩnh mạch hình mạng nhện.
Nguyên nhân gây suy tĩnh mạch và tĩnh mạch hình mạng nhện là gì?
Nguyên nhân của tĩnh mạch giãn và hình mạng nhện vẫn chưa được biết rõ.
Trong một số trường hợp có thiếu hay suy yếu van tĩnh mạch gây nên tuần hoàn kém
bằng liệu pháp xơ hoá. Ngày nay, chất được dùng nhiều nhấ tại Hoa Kỳ là muối ưu
trương hay Sotradecol (sodium tetradecul sulfate). Polidocanol (aethoxyskerol) đã
được FDA thử nghiệm nhưng vẫn chưa được công nhận trong điều trị xơ hoá tại Hoa
Kỳ.
Trong điều trị xơ hoá thì sau khi tiêm dịch vào, các mô quanh tĩnh mạch thường
được băng ép đè trong vài ngày để các thành tĩnh mạch dính vào nhau. Những bệnh
nhân được điều trị ở chân được thiết lập chế độ đi lại để ép dòng máu đi đến các tĩnh
mạch khác và ngăn ngừa cục huyết khối. Phương pháp này và các biến thể của nó đã
được sử dụng từ những năm 1920. Trong hầu hết các trường hợp cần phải điều trị
nhiều lần.
Thủ thuật có đau không?
Trong tất cả các thủ thuật này, cảm giác đau rất khác nhau ở từng người tuỳ
thuộc vào khả năng chịu đựng đau của mỗi người nói chung, độ rộng của thủ thuật,
phần cơ thể được điêu trị, có biến chứng khởi phát, và các yếu tố khác. Do phẫu thuật
được tiến hành khi đã vô cảm (gây tê) nên trong khi phẫu thuật bạn sẽ không thấy đau.
Sau khi hết thuốc tê, bạn sẽ bị đau gần như bị rạch mổ.
Trong điều trị xơ hoá, mức độ đau cũng tuỳ thuộc vào kích thước của loại kim
sử dụng và loại dịch tiêm vào. Hầu hết cho rằng muối ưu trương là dung dịch gây đau
nhiều nhất, cảm giác đau như cháy bỏng, co rút trong vài phút khi tiêm vào. Một số
bác sĩ hoà chung dung dịch muối với thuốc tê tại chỗ để đỡ đau.
Những bác sĩ nào có thể điều trị người bị suy tĩnh mạch và tĩnh mạch hình
mạng nhện?
Bác sĩ điều trị phẫu thuật gồm có bác sĩ tổng quát (đa khoa) và bác sĩ mạch
máu. Điều trị xơ hoá thường do các bác sĩ da liễu thực hiện. Một số bác sĩ phẫu thuật
đa khoa, mạch máu và thẩm mỹ cũng có thể thực hiện liệu pháp xơ hoá. Bạn có thể
đến tư vấn ở nhiều bác sĩ trước khi quyết định phương thức điều trị. Hãy hỏi bác sĩ về
kinh nghiệm thực hiện phẫu thuật mà bạn mong muốn.
Tác dụng phụ của các điều trị này là gì?
Hãy hỏi các bác sĩ một cách kỹ lưỡng về độ an toàn và các tác dụng phụ của
mỗi cách điều trị. Hãy xem xét chi tiết của bất kỳ mẫu biên bản ‘đồng ý mổ’ mà các
các tài liệu tuyên bố về tần số tái phát tỉ mỉ, nguy cơ sức khoẻ ít hơn hay tác dụng phụ
về thẩm mỹ.
Chi phí cho phẫu thuật ra sao?
Liệu pháp xơ hoá có thể tốn từ vài trăm đến vài ngàn đô la ở bất kỳ đâu, tuỳ
thuộc vào số luợng thuốc tiêm, số lần điều trị cần thiết và vùng nơi tiến hành phẫu
thuật. Phẫu thuật có thể tốn khoảng 600 – 2000 đô la cho mỗi chân được điều trị cộng
với phí thuốc tê và nằm viện. Hầu hết phẫu thuật tĩnh mạch có thể tiến hành trên cơ sở
bệnh nhân ngoại trú. Chi phí có thể khác nhau dựa trên số tĩnh mạch được cắt bỏ và
vùng lãnh thổ tiến hành phẫu thuật.
Bạn có thể kiểm tra xem phẫu thuật có được bảo hiểm chi trả hay không. Có
nhiều luật bảo hiểm không bao gồm phí trả cho phẫu thuật thẩm mỹ chọn lựa.
Tóm lược về suy tĩnh mạch và tĩnh mạch hình mạng nhện
· Tĩnh mạch mang máu chứa ít ô xy từ cơ thể đến phổi và tim.
· Suy tĩnh mạch có thể đưa đến đau hay thậm chí loét chân.
· Suy tĩnh mạch có thể do suy yếu van hay thành tĩnh mạch, hoặc do
viêm tĩnh mạch
· Dãn tĩnh mạch không nhất thiết phải điều trị.
· Các phương pháp điều trị bệnh tĩnh mạch là phẫu thuật và liệu
pháp xơ hoá.