Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lượng
tại công ty cơ giới và xây lắp số 12
LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng
định con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là tất yếu. Một trong những
nhiệm vụ đặt ra là: Bảo đảm quyền lợi cho đông đảo quần chúng lao
động. Quyền lợi ở đây trước hết và quan trọng là quyền lợi vật chất. Với
các chính sách của Nhà nước về tiền lương và các vấn đề liên quan là
quan trọng trong việc đạt được thắng lợi chung.
Đối với các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gay gắt để tồn tại và
phát triển thì lương, thưởng và các vấn đề liên qua phải đáp ứng được yêu
cầu về nhân lực cần thiết và sử dụng có hiệu quả yếu tố này.
Những “ phản ứng” của người lao động như: trách nhiệm trong công việc,
mức độ gắn bó với doanh nghiệp, sáng kiến lao động...cũng gắn lièn với
chính sách trên.
Từ trên có thể thấy được vai trò quan trọng của tiền lương trong mối
quan hệ với ngưừi lao động, doanh nghiệp và Nhà nước
Chế độ kế toán mới theo quyết định số 1141 TC/QĐCĐKT đã góp phần
quan trọng trong quản lý kinh tế các cấp. Tuy nhiên trước những vấn đề
mới như: hội nhập kinh tế, vai trò của công nghệ thông tin, những bất
cập của chế độ kế toán hiện hành,...kế toán phải đáp ứng những yêu cầu
như: phải đảm bảo nguyên tắc so sánh các chỉ tiêu kinh tế đòi hỏi kế toán
Việt Nam phải tiếp cận với thông lệ quốc tế, giải quyế được mối quan hệ
giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị...Theo đó cũng cần phải hoàn
thiện theo các hướng trên.
Với những nhận thứ như trên nên tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức hạch toán
tiền lương, các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp” cho bài
viết của mình.
Bài viết gồm 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
Phần II: Giới thiệu chung về Công ty cơ giới và xây lắp số 12
công nhân tạo ra quỹ tiêu dùng nuôi sống bản thân mình và cũng tạo ra
giá trị thặng dư đủ nuôi sống và làm giàu cho tư bản. Như vậy, trong chủ
2
nghĩa tư bản, tiền cong che dấu sự bóc lột của nhà tư bản đối với công
nhân làm thuê mà nhìn bề ngoài tỏ ra rất sòng phẳng.
Trong XHCN, tiền lương là một phần giá trị trong tổng sản phẩm
sã hội dùng để phân phát cho người lao động theo nguyên tắc làm theo
năng lực, hưởng theo lao đông. Tiền lương đã mang một ý nghĩa tích cức
tạo ra sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân. Khái niệm tiền
lương trên đã thừa nhận ssức lao động là hàng hoá đặc biệt và đòi hỏi
phải trả cho người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể.
Tại Việt nam, thời bao cấp, một phần thu nhập quốc dân được tách
ra làm quỹ lương và phân phối cho người lao động theo kế hoạch. Tiền
lương chịu tác động của quy luật phát triển cân đối có kế hoạch, chịu sự
chi phối trực tiếp của Nhà nước thông qua các chế độ, chính sách lương.
Theo cơ chế này tiền của Nhà nước thông qua các chế dộ, chính sách
lương. Theo cơ chế này tiền lương không gắn chặt với số lượng và chất
lượng người lao động, không phản ánh đúng giá trị sức lao động vì vậy
không tạo ra động lực phát riển sản xuất. Từ khi tiến hành công cuộc đổi
mới, khi thị trường, giá cả, ... được thừa nhận một cách rộng rãi thì “tiền
lương là biểu hiện ằng tiền của giá trị sức lao đôngk, là giá cả của sức lao
động mà người cung ứng sức lao động tuân theo nguyên tắc cung, cầu,
giá cả thị trường và luật pháp hiện hành của Nhà nước. Tiền lương bây
giờ vừa là phạm trù của phân phối vừa là phạm trù trao đổi tiêu dùng.
Có rất nhiều quan niệm về tiền lương, đôi khi các quan niệm này
còn rất khác nhau. Hiểu một cách chung nhất thì tiền lương là biểu hiện
bằng tièn của hao phí lao động cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người
lao động theo thời gian và khả năng công viềc mà người lao động đã cống
hiến cho doanh nghiệp. Như vậy, dưới những góc độ khác nhau thì nhìn
nhận tiền lương cũng khác.
+ Chức năng điều tiết lao đông: trình độ lao động, thù lao lao động,
nhu cầu sử dụng lao động ở các vùng, các nghành là không giống nhau.
Để tạo sự cân đối giữa các vùng, các nghành trong nền kinh tế quốc dân
nhằm khai thác tối đa các nguồn lực. Nhà nước phải điều tiết nguồn lao
động thông qua chế độ, chính sách tiền lương như mức lương tối thiểu,
bậc lương, phụ cấp ...
* Các nguyên tắc cơ bản trong tiền lương.
-Phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lao động và tiền lương theo
nguyên tác ghi ở điều 55 trong bộ luật lao động của Việt Nam gồm:
4
+Mức lương được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao
động và người sử dụng lao động.
+ Mức lương ở hợp đồng lao động phải lớn hơn mức lương tối
thiểu do Nhà nước quy định.
- Lương tối thiểu là mức lương thấp nhất do Nhà nước ấn định để đảm
bảo cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện bình
thường ở trình độ bình thường bù đắp được sức lao động giản đơn và một
phần tích luỹ để tái sản xuất sức lao động mở rộng. (Điều 56 bộ luật lao
động)
+ Người lao động được hưởng theo năng suất lao động, chất lượng
lao động và kết quả lao động.
- Trong việc tín lương và trả lương phải tuân thủ các nguyên tắc đã ghi ở
điều 8-NĐ/1997/CP ngày 31/12/1994 và văn bản hướng dẫn kèm theo
công văn số 4320/LĐTBXH-TL ngày 29/12/1998.
+Thực hiện phân phối theo lao động, tiền lương phụ thuộc vào kết
quả cuối cùng của từng người, từng bộ phận, làm công việc gì, chức vụ gì
thì hưởng theo công việc chức vụ đó mà không phân biệt giới tính, dân
tộc, tôn giáo, tuổi tác, ... Trả lương ngang nhau cho những người lao động
như nhau về trình độ, khối lượng và chất lượng công việc.
+Chống phân phối bình quân, hệ số giãn cách giữa người có tiền
công vào đúng đối tượng.
3.Yêu cầu quản lý lao động tiền lương
Để hạch toán tốt lao động tiền lương, doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
- Doanh nghiệp phải xây dựng được định mức lao động, lao động
định biên cho từng công việc, từng khâu từ đó có kế hoạch tuyển dụng,
quản lý số lao động đó có hiệu quả.
- Phải ban hành chế độ, kỷ luật lao động buộc người lao động phải
tuân theo, đưa hoạt động của công ty vào nền nếp.
- Phải xây dựng được đơn giá tiền lương cho doanh nghiệp của
mình, đơn giá tiền lương này đã phải được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xét duyệt.
- Phải xác định được hình thức trả lương hợp lý.
- Phải luôn quán triệt chính sách lao động, tiền lương của Nhà
6
nước. Tất cả các khâu trong qúa trình quản lý, hạch toán lao động, tiền
lương đều phải dựa vào các chế độ, chính sách Nhà nước ban hành.
4. Nhiệm vụ của hạch toán lao động và tiền lương trong doanh
nghiệp
Chính vì những vai trò to lớn trên của hạch toán lao động tiền lương mà
hạch toán lao động tiền lương có những nhiệm vụ sau:
+ Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chế độ các khoản tiền lương,
tiền thưởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp, ... cho người lao động, phản ánh
kịp thời đầy đủ, chính xác thanh toán các khoản tiền cho người lao động
tình hình chấp hành các chế độ do Nhà nước ban hành.
+ Tính toán phân bổ đúng đối tượng các khoản tiền lương, trích
theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh. Hướng dẫn, kiểm tra các bộ
phận, đơn vị trong doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ đúng chế độ ghi chép
ban đầu về lao động tiền lương, các khoản trích theo lương; mở sổ, thẻ kế
toán hạch toán lao động tiền lương đúng chế độ, phương pháp.
những vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và các đảo xa đất liền có điều kiện
sinh hoạt đặc biệt khó khăn, chưa có cơ sở hạ tầng.
- Phụ cấp đắt đỏ: áp dụng đối với những nơi có chỉ số giá cả sinh
hoạt (lương thực, thực phẩm, dịch vụ) cao hơn chỉ số giá sinh hoạt bình
quân chung cả nước từ 10% trở lên.
- Phụ cấp lưu động: áp dụng đối với những nghề hoặc công việc
phải thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc hoặc ở nơi ở.
6. Tiền thưởng
Tiền thưởng thực chất là một khoản tiền lương bổ sung nhằm quán triệt
đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động. Trong cơ cấu thu nhập
của người lao động thì tiền lương có tính ổn định thường xuyên còn tiền
lương chỉ là phần thêm và phụ thuộc vào chỉ tiêu tiền thưởng, vào kết quả
sản xuất kinh doanh.
Các khoản tiền thưởng gồm:
+Thưởng thường xuyên (có tính chất lương): thực chất là một phần
quỹ lương được tách ra để trả cho người lao động dưới hình thức tiền
lương theo một tiêu chí nhất định.
8
+Tiền thưởng về chất lượng sản phẩm: áp dụng khi nhân công có
sáng kiến làm nâng cao chất lượng sản phẩm. Khoản tiền thưởng này có
tính trên cơ sở tỷ lệ chung không quá 40% phân chênh lệch giá giữa sản
phẩm có phẩm chất coa với sản phẩm có phẩm chất thấp.
+Tiền thưởng về tiết kiệm vật tư: áp dụng khi người lao động có
sáng kiến, biện pháp và làm việc tiết kiệm được vật tư, hàng hóa. Khoản
tiền thưởng này tính trên cơ sở giá trị vật tư người lao động tiết kiệm
được so với định mức và tỷ lệ quy định không quá 40%.
+ Tiền thưởng không thường xuyên: khoản tiền thưởng này không
thuộc quỹ lương mà được trích từ quỹ khen thưởng, khoản tiền thưởng
này thường được trả cho người lao động dưới hình thức phân loại người
lao động trong một kỳ (quý, nửa năm, một năm), khoản tiền thưởng này
quy định.
+ Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Là văn bản quy định về mức độ
phức tạp công việc, tay nghề của công nhân ở mức độ nào đó. Tiêu chuẩn
này xác định mức độ lành nghề của công nhân và làm căn cứ để xác định
mức lương.
Tuy nhiên, chế độ lương cấp bậc chỉ phù hợp với công nhân trực tiếp
sản xuất.
- Chế độ tiền lương theo chức vụ.
Chế độ này áp dụng với nhân viên hưởng lương thời gian và được
thực hiện thông qua bảng lương do Nhà nước ban hành.
Hình thức trả lương
Tiền lương của người lao đông do hai bên thoả thuận trong hợp
đồng lao động. Nó cũng được trả theo năng suất, chất lượng và hiệu quả
lao động. Có các hình thức trả lương sau:
Trả lương theo thời gian.
Trả lương theo sản phẩm.
Hình thức khoán thu nhập
Trong đó hai hình thức đầu là hay được dùng hơn cả. Nó được kết hợp
hoặc không trong việc trả lương sao cho phù hợp với đặc điểm sản xuất,
đặc biệt là tạo sự công bằng trong phân phối thu nhập.
10
Hình thức trả lương theo thời gian: gồm hai loại:
Trả lương theo thời gian đơn giản.
Trả lương theo thời gian có thưởng.
Hình thức trả lương theo sản phẩm bao gồm 6 loại:
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
+ Trả lương theo sản phẩm tập thể.
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp.
+ Trả lương theo sản phẩm có thưởng.
+ Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến.
theo ngày (nếu có) thực tế
Hoặc tính theo công thức:
Lương
ngày
=
Lương tháng
Số ngày làm việc theo chế độ trong
tháng
x
Số ngày
làm việc
thực tế
Trong doanh nghiệp, lương ngày dùng để tính lương cho công nhân sản
xuất trong thời gian nghỉ việc tròn ngày vì lý do thuộc về doanh nghiệp.
Lương ngày cũng là căn cứ để tính trợ cấp BHXH cho cán bộ công nhân
viên khi họ được hưởng trợ cấp theo chế độ quy định.
* Lương giờ
Áp dụng đối với người làm việc tạm thời đối với từng công việc
Lương giờ =
Lương ngày
8 giờ làm việc thực tế
x Số giờ làm việc thực tế
Lương giờ được dùng để tính lương cho người lao động khi họ
nghỉ việc không trọn ngày vì lý do thuộc về doanh nghiệp. Nó còn là cơ
sở quan trọng để xây dựng đơn giá tiền lương.
Ở nước ta mới chỉ tính lương ngày và lương tháng. Tuy chế độ trả
lương này dễ tính, dễ trả lương cho người lao động nhưng nhược điểm
lớn nhất của nó là mang tính bình quân nên không khuyến khích được
người lao động tích cực trong công việc và không quán triệt được nguyên
tắc phân phối theo lao động. Bởi vậy xu hướng chung là chế độ trả lương
nghiệp vụ để nâng cao tình độ lành nghề, ra sức phát huy sáng tạo, cải
tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết bị
để nâng cao năng suất lao đông, chất lượng sản phẩm.
* Góp phần thúc đẩy việc cải tiến quản lý doanh nghiệp nhất là
công tác lao động và thực hiện tốt kế hoạch kinh tế. Cụ thể: khi một
doanh nghiệp bố trí lao động chưa hợp lý, dẫn đến năng suất lao động
13
thấp, thu nhật của người lao động không cao. Do quyền lợi thiết thực bị
ảnh hưởng người lao động sẽ kiến nghị để ải tiến lại những bất hợp lý.
Tuy nhiên để phát huy đầy đủ tác dụng của công tác trả lương theo
sản phẩm nhằm đem lại hiểu quả kinh tế cao phải có những điều kiện cơ
bản sau:
Xây dựng được một hệ thống định mức lao động có căn cứ khoa học,
chính xác dựa trên việc đánh giá sức lao động đã hao phí. Đay là yếu tố
quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến lưọi ích của người lao động,
đến giá thành sản phẩm, đến ngân sách nhà nước và sự công bằng xã hội.
Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm sản xuất
ra để đảm bảo chất lượng sản phẩm tránh làm bừa, làm ẩu để chạy theo số
lượng.
Khuyến khích người lao động làm chủ tập thể, phát huy tinh thần làm
chủ tập thể, dám nghĩ, dám làm, đoàn kết, phối hợp làm việc trong tập thể.
Tổ chức sắp xếp cơ cấu bộ máy lao động hợp lý, ổn định tạo cho
người lao động một môi trường làm việc tốt.
Có các cơ chế trả lương sau:
+ Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Cách trả lương này được áp dụng rộng rãi với công nhân trực tiếp
sản xuất trong điều kiện quy trình lao động của ngưòi công nhân mang
tính độc lập tương đối, có thể định mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm
một cách riêng biệt. Đơn giá tiền lương của cách trả lương này là cố định
trong một khoảng thời gian nào đó và tính theo công thức:
trong nhà máy ...
Đặc điểm của chế độ trả lương này là thu nhập về tiền lương của
công nhân lại tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất của công nhân chính.
Cách tính:
ĐG
p
=
Lc
bcnv
(lao động phụ)
M
slđm
(do lao động)
+ Phụ cấp (nếu có)
TL
p
= ĐG
p
x M
ls
(do lao động chính làm ra)
Tiền lương
p
: Tiền lương của lao động phụ.
M
lsđm
: Số sản phẩm định mức lao động chính làm ra.
Ưu điểm: Cách trả lương này đã khuyến khích công nhân phụ phục
vụ tốt hơn cho công nhân chính.
Nhược điểm: Do phụ thuộc vào kết quả của công nhân chính do
C ách 1 : Chia theo thời gian làm việc thực tế và hệ số lương (3 bước).
Bước 1: Tính đổi thời gian làm việc thực tế của người lao động ở
các cấp bậc khác nhau về thời gian làm việc thực tế ở bậc 1 để so sánh.
Thời gian làm việc quy
đổi từng người lao động
(T
qđ
)
=
Thời gian làm việc thực
tế của người lao động
(T
tt
)
x
Hệ số lương cấp bậc
của từng người
Bước 2: Tính tiền lương của một đơn vị thời gian làm việc quy đổi.
16
Tiền lương một đơn vị thời
gian làm việc quy đổi (L
qđ
)
=
Tiền lương của cả tập thẻ
Tổng thời gian làm việc quy đổi
Bước 3: Tính tiền lương của từng người lao động.
L
nlđ
= T
ĐB
qđi
= ĐB
i
x H
slcbi
Bước 2: Tính tiền lương điểm bình bậc 1đ
TL
đbqđ
= L
sp
/ ∑ĐB
qđi
Bước 3: Tính tiền lương của từng người lao động.
TL
nlđi
= ĐB
qđi
x TL
đbqđ
Ưu điểm: Khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách
nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ.
Nhược điểm: Sản lượng của từng công nhân không trực tiếp quyết
định tiền lương của họ, do vậy ít kích thích công nhân nâng cao năng suất
lao động cá nhân, tiền lương vẫn mang tính bình quân.
17
+ Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng, phạt.
Thực chất của chế độ này là sự hoàn thiền hơn của chế độ sản
phẩm trực tiếp cá nhân. Ngoài tiền lương được lĩnh theo đơn giá sản
phẩm trực tiếp người công nhân còn được hưởng thêm một khoản tiền
công việc trong nông nghiệp, khi làm những công việc đột xuất.
Ưu điểm: Người công nhân biết trước khối lượng tiền lương mà họ
sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc. Vì vậy họ chủ động sắp xếp
công việc của mình. Người giao việc thì yên tâm về khối lượng công việc
hoàn thành.
Nhược điểm: Để đảm bảo thời gian hoàn thành dễ gây hiện tượng
làm bừa, làm ẩu. Vì vậy công tác nghiệm thu phải được tiến hành một
cách chặt chẽ.
* Hình thức khoán thu nhập.
Những doanh nghiệp thực hiện hình thức này họ quan niệm: Tiền
lương là một phần thu nhập năm trong thu nhập chung của doanh nghiệp.
Theo hình thức này các doanh nghiệp phải xây dựng một tỷ lệ hợp lý để
xác định tổng tiền lương thực tế trả cho người lao động trong tổng số thu
nhập của họ.
Tổng quỹ lương
thực tế
=
Tổng thu nhập thực tế
(chưa loại trừ lương)
x Tỷ lệ chia tiền công
Với hình thức này, tiền lương thực tế của người lao động chỉ xác định
được sau khi kết thúc kỳ hạch toán. Vì vậy việc trả lương cho người lao
động trong kỳ thực chất là tạm phân phối thu nhập.
Điều kiện sử dụng hình thức này là người lao động phải có đầy đủ quyền
để kiểm tra tổng thu nhập của người lao động.
C) Các chế độ liên quan tới tiền lương.
* Chế độ trả lương khi ngừng việc.
Theo thông tư LL/LĐ - TT ngày 14/4/1962 của Bộ lao động, chế
độ này áp dụng cho người làm việc thường xuyên buộc phải ngừng làm
việc do nguyên nhân khách quan (bão lụt, mưa, mất điện ... ), do người
a) Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của một doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương doanh
nghiệp phải trả cho tất cả lao động mà mình quản lý sử dụng. Theo nghị
định số 235/HĐBT ngày 19/9/1985 của Hội đồng bộ trưởng, quỹ tiền
lương gồm:
- Tiền lương tháng, ngày theo hệ thống thang, bảng lương Nhà nước.
- Tiền lương trả theo sản phẩm.
- Tiền lương công nhật cho lao động khi làm ra sản phẩm xấu, hỏng.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc, do
thiết bị máy móc ngừng hoạt động vì nguyên nhân khách quan.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công
tác hoặc huy động làm nghĩa vụ với Nhà nước, với xã hội.
- Tiền lương trả cho người lao động nghỉ phép định kỳ, nghỉ theo
chế độ Nhà nước.
- Tiền lương cho những người đi học nhưng vẫn thuộc biên chế.
- Các loại tiền thưởng thường xuyên.
- Các phụ cấp theo chế độ quy định và phụ cấp khác được ghi trong
quỹ lương.
21
Nhà nước xây dựng quy định rõ ràng trong việc xác định quỹ tiền
lương của doanh nghiệp, điều này giúp cho việc xác định quỹ lương, chi
phí tiền lương trong chi phí sản xuất, chi phí quản lý, chi phí lưu thông rõ
ràng hơn và việc quản lý quỹ lương thuận tiện hơn.
Để xác định quỹ lương mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình
đơn giá tiền lương phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, đồng thời phải có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Nhà nước quy định:
+ Nhà nước quy định đơn giá tiền lương với các sản phẩm trọng
yếu do Nhà nước định giá.
+ Các bộ, nghành, địa phương quyết định đơn giá tiền lương cho
: Mức lương tối thiểu doanh nghiệp lựa chọn trong hệ số
khung quy định.
H
cb
: Hệ số lương cấp bậc công việc bình quân.
H
pc
: Hệ số các khoản phụ cấp lương bình quân được tính trong đơn
giá tiền lương.
V
vc
: Quỹ lương của bộ máy gián tiếp mà số lao động này chưa tính
trong định mức lao động tổng hợp.
22
Các phương pháp xác định đơn giá tiền lương.
+ Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm.
ĐG
sp
= TL
cb
x T
sp
Trong đó:
ĐG
sp
: Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm.
TL
cb
: Lương cấp bậc.
T
kh
: Doanh thu kế hoạch.
V
kh
: Quỹ tiền lương năm kế hoạch.
ĐG
dt – cp
: Đơn giá tính trên doanh thu trừ tổng chi phí.
Cách này áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại
sản phẩm nhưng chưa có định mức lao động từng loại.
Qũy tiền lương
thực hiện
=
Đơn giá
tiền lương
x
Tổng doanh thu
thực hiện
-
Tổng chi phí
thực hiện
+ Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận.
ĐG
ln
=
V
kh
P
kh
23
x
Tổng doanh thu thực
hiện
9. Hạch toán tiền lương, thanh toán lương
Như đã trình bày, tiền lương giữ một vai trò quan trọng trong
doanh nghiệp. Khi công tác hạch toán lao động tiền lương được tổ chức
tốt thì không chỉ doanh nghiệp đạt đựơc mục đích của mình là phấn đấu
hạ chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm mà bản thân người lao
động đứng trên góc độ kinh tế thì họ cũng được hưởng phần công sức mà
họ đã bỏ ra. Để làm tốt điều này công tác hạch toán tiền lương phải tiền
hành theo hai phương pháp: hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp.
a) Hạch toán chi tiết.
Mục địch của hạch toán chi tiết tiền lương trong doanh nghiệp là
đưa ra một thông tin cụ thể về thời gian lao động, kết quả lao động và tiền
lương cho cá nhân từng người lao động.
Đặc điểm của hậch toán chi tiết tiền lương là phức tạp và mất nhiều
24
thời gian, đồng thời nó động chạm tới quyền lợi thiết thực của mỗi cá
nhân người lao động nên cần phải hạch toán chính xác, tránh sai sót,
nhầm lẫn.
Để quản lý tiền lương lao động, các doanh nghiệp sử dụng sổ sách
lao động. Sổ này do phòng lao động tiền lương lập nhằm mục đích nắm
chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có.
* Hạch toán số lượng lao động.
Lao động trong doanh nghiệp gồm nhiều loại như dài hạn, tạm
thời, trực tiếp hay gián tiếp, .. Lao động trong doanh nghiệp lại biến đổi
hàng năm. Vì vậy doanh nghiệp phải theo dõi lao động của mình để cung
cấp thông tin cho quản lý. Việc theo dõi này được phản ánh trên sổ danh
sách lao động của doanh nghiệp.
Sổ danh sách lao động được mở cho toàn doanh nghiệp và từng bộ