Tài liệu Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố doc - Pdf 97

Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố
TRIỀU NGUYÊN

I. Khái quát
Xem xét cách sử dụng hình ảnh của một thể loại văn học là yêu cầu cần có khi tiếp
cận thể loại ấy. Tình hình nghiên cứu thể loại câu đố có nhiều hạn chế so với các thể
loại khác của văn học dân gian, trong đó, có vấn đề hình ảnh.
Bài viết này tìm hiểu hình ảnh trong hai mối quan hệ:
- Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường
được sử dụng theo lối lạ hoá (gọi là tính lạ hoá của hình ảnh).
- Xét trong quan hệ với người sử dụng, một số hình ảnh được lặp đi lặp lại ở nhiều lời đố
khác nhau, đã phần nào cho thấy sự nhìn nhận của dân gian về vấn đề. Hình ảnh, như
vậy, đã thể hiện hay phản ánh quan niệm (gọi là tính quan niệm của hình ảnh).
Vấn đề được trình bày qua việc khảo sát 2000 câu đố người Việt mà người viết sưu tập
được.

II. Miêu tả cách sử dụng hình ảnh trong câu đố
1. Tính lạ hoá của hình ảnh
a. Ở mức độ chung, trên tổng thể văn bản lời đố, tính lạ hoá được thể hiện theo hai
hướng: miêu tả một vật đố bằng nhiều dạng vẻ không giống nhau; và sự miêu tả khác
thường một vật đố, tạo nên một thứ kì dị.
Đọc các lời đố sau:
-“Tám sào chống cạn,
Hai nạng chống xiên,
Con mắt láo liên;
Cái đầu không có!”;
-“Tám thằng dân vần cục đá tảng,
Hai ông xã xách nạng chạy theo”;
-“Trên chữ nhất, bình phong che kín,
Dưới chữ thập, che kín bình phong;
Trên chữ phi, pháo nổ đùng đùng,

Đánh thắng ông vua,
Đánh thua thầy chùa?” (con chấy)
(Đầu vua có tóc như người bình thường, nên chấy bám được; đầu thầy chùa nhẵn bóng,
chấy phải “thua”);

Các thí dụ trên cho thấy, hình ảnh lạ được tạo nên bằng sự miêu tả, là sự miêu tả theo các
góc nhìn bất thường, hoặc góc nhìn không cố định. Lời đố của bốn câu đố đầu được sáng
tạo theo lối nhân hoá (con chim ó khoác vóc dáng, hoạt động của con người: “mặc áo”,
“tay xách con gà”, “đầu đội thúng bông”), động vật hoá (cái cuốc khoác hình thể, hành
động của một con vật: “đầu”, “đuôi”, “đi”, “nhảy”, ), thực vật hoá (cái cân xách khoác
dáng dấp của cây cối: “cây”, “nở hoa”, “đậu quả”, “già non”), tự nhiên hoá (răng và
lưỡi khoác hình dáng của tự nhiên: “hang sâu”, “đá”, “cá quẫy giữa dòng”). Lời đố của
hai câu đố sau được sáng tạo theo cách tả thực.
Bên cạnh đó, trong câu đố, hình ảnh lạ còn được tìm thấy bởi những kết hợp không bình
thường về mặt ngữ pháp, thường gặp là sự đánh lẫn đối tượng ở vai chủ thể của một hành
động. Thí dụ:
-“Đi thì nằm, nằm thì đứng” (bàn chân)
(Đã đi thì không thể nằm, cũng như đã nằm thì không thể đứng. Nhưng ở đây, chủ thể
của “đi” và “nằm-2” là người, chủ thể của “nằm1” và “đứng” là bàn chân (và “nằm1” là
có bề mặt tiếp xúc lớn nhất theo phương song song với mặt đất (“đứng” thì ngược lại, có
bề mặt tiếp xúc bé theo phương thẳng góc với mặt đất), khác với “nằm2” là ngả thân
mình trên một vật nào đó, thường để nghỉ), nên lại có thể. Điều tạo nên sự không thể lẫn
có thể bất thường này, chính là kiểu câu: X thì Y, X' thì Y' - với chủ thể của X, X' khác
với chủ thể của Y, Y', và X trái nghĩa (1) với X', Y trái nghĩa với Y').
-“Mặc áo xanh, đội nón xanh;
Đi quanh một vòng,
Mặc áo trắng, đội nón trắng!” (quả cau khi róc vỏ)
(Chủ thể của “đi quanh một vòng” là kẻ “mặc áo xanh, đội nón xanh”, nhưng chủ yếu là
người dùng dao để róc vỏ cau; vì bấy giờ, hành động của người là chủ động tạo kết quả
còn sự vận động của kẻ “mặc áo xanh, đội nón xanh” chỉ là hình thức bị động nhận chịu.

So chi chẳng kém” (pháo thăng thiên)
(miêu tả lớn lối sức của cây pháo);
3) Kiểu tráo hình ảnh muốn nói bằng hình ảnh cùng trường nghĩa, cùng hình dạng:
+ Hình ảnh muốn nói được thay bằng hình ảnh cùng trường nghĩa (thường là trường
nghĩa rộng); thí dụ:
- “Nhà đen đóng đố đen sì,
Trên thì sấm động, dưới thì đèn chong” (nồi cơm đang sôi)
(“đèn”: lửa);
- “Con con hai mái chèo con,
Chèo ra giữa biển, nước non dầm dề;
Oai nghiêm điều khiển một khi,
Cầm sào chỉ trỏ, bốn bề quân reo” (chăn vịt)
(“biển”: sông, lạch, ruộng trũng);
+ Hình ảnh muốn nói được thay bằng hình ảnh cùng dạng (cùng có dáng vẻ, hình vóc
giống nhau, hoặc là một hình ảnh có được bằng so sánh); thí dụ:
-“Mình tròn đựng cháo bột huỳnh tinh,
Gái xoan làm bạn với mình đẹp ra;
Bao giờ tuổi tác về già,
Cây đa bóng mát ngồi mà nghỉ ngơi” (bình vôi)
(“bột huỳnh tinh” thay vôi ăn trầu do giống vôi - mịn hay sệt khi hoà với một ít nước và
có màu trắng tinh);
- “Có cây mà chẳng có cành,
Có hai ông cụ dập dềnh hai bên” (cây ngô).
(dòng bát, có người đọc: “Vài cô tóc xoã dập dềnh đôi bên”)
(“ông cụ”, “cô tóc xoã”: hai hình ảnh so sánh với quả ngô, nhấn mạnh mặt râu ngô).
4) Kiểu dùng hình ảnh khác thường, có tác dụng như sự đánh dấu cho hình ảnh thật muốn
nói đến:
Hình ảnh được dùng tuy khác thường nhưng chúng vẫn tồn tại, để có thể thay thế cho
hình ảnh thật muốn nói đến. Thí dụ:
-“Cây minh kinh, lá minh kinh,

Ngày thì thủ thỉ nằm ỳ,
Tối thì rủ rỉ rù rì ra ăn” (con rận);
Các tên người, tên đất ở câu đố “rang ngô”, nhằm mượn các hình ảnh “cát”, “ngô” (theo
cách cùng âm). Các tên đất ở câu đố “con rận”, nhằm mượn một vài yếu tố chỉ ra nơi ở
của chúng: “bố”: vải; “y”: áo (theo cách cùng nghĩa).
6) Kiểu dùng lời Hán Việt:
Dùng lời Hán Việt thay vì dùng lời thuần Việt để miêu tả vật đố, trong bối cảnh hầu hết
người chơi câu đố chỉ biết bập bõm đôi tiếng Hán Việt, cũng nhằm thể hiện lối lạ hoá
hình ảnh.
Thí dụ:
-“Thân trường xích thốn,
Y phục thậm đa;
Sinh vô ngôn ngữ,
Tử động sơn hà”.
(Mình dài một tấc,
Quần áo quá nhiều;
Sống chẳng biết nói,
Chết la vang trời) (cái pháo);
-“Thiên vô sinh,
Địa vô sinh,
Vô dạng vô hình;
Đại nhân khai khẩu,
Tiểu nhân kinh”.
(Trời không sinh,
Đất không sinh,
Không dạng, không hình;
Người lớn nhắc đến,
Trẻ con kinh sợ) (ông Kẹ, ông Ọ) ( );
2. Tính quan niệm của hình ảnh
Có một số hình ảnh lặp đi lặp lại trong một số câu đố khác nhau. Chúng cho thấy việc

Thí dụ:
-“Mình thì một tấc,
Đuôi dài thước năm,
Khi đi thì nằm,
Khi ngồi thì đứng” (kim chỉ).
-“Da đen, mặt rỗ, chân chì,
Đuôi dài thườn thượt, mình thì đầy gai” (cái chài, lưới đánh cá);
-“Mình dài một thước đâu sai,
Thơ thẩn tháng ngày, thân lại xoè ba.
Đêm khuya lặng lẽ sương sa,
Mình nằm âm phủ, đuôi mà thượng thiên” (cái mỏ neo);
c. Dùng thiên can để miêu tả vật có sử dụng lửa
Một số vật có sử dụng lửa, thì hay dùng thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỉ, canh, tân,
nhâm, quý), có thể một số hay tất cả, để miêu tả. Thí dụ:
-“Đầu đội giáp ất,
Miệng ngậm bính đinh,
Cổ đeo canh tân,
Bụng mang nhâm quý,
Thân là mậu kỉ” (cái ống điếu);
-“Da trắng như màu thiếc,
Ruột rối như rau câu;
Bính đinh hoả đánh trên đầu,
Nhâm quý thuỷ thân đằng đít” (điếu thuốc);
-“Vai mang giáp ất,
Đầu đội bính đinh,
Ẩn quân tử chi hình,
Tiễn thanh nhân chi khí” (cây hương);

III. Nhận xét, kết luận
Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố cho thấy yêu cầu hàng đầu của thể loại này là sự mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status