TRƯỜNG
KHOA……………………
Tiêu luận Đề tài
Quan điểm của Mác -
Ănghen về vật chất
TiÓu luËn triÕt häc
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học Mác - Lênin khái niệm vật chất được hiểu là tất
cả những gì tồn tại khách quan tức là những sự tồn tại của nó không phụ
thuộc vào ý thức của con người, không phụ thuộc vào quan niệm của con
người. Theo đó thì vật chất là vô cùng vô tận, là không có giới hạn, nó tồn tại
giữa vô lượng các hình thức khác nhau, có thể là những tồn tại mà con người
đã biết hoặc là những tồn tại mà con người chưa biết. Đó là những vật chất tự
nhiên hoặc là những tồn tại của vật chất trong đời sống xã hội. Vật chất tồn tại
vô cùng lớn ví dụ như thiên hà, hoặc vô cùng bé là những hạt cơ bản. Đó có
thể là những tồn tại mà người ta trực tiếp giác quan được nhưng cũng có thể
là những tồn tại mà không thể trực tiếp giác quan được nhưng nó là tồn tại
khách quan. Vật chất với tư cách là tồn tại khách quan thì không tồn tại cảm
tính có nghĩa là con người không thể dùng giác quan để nhận biệt nhưng vật
I. Vật chất và các hình thức tồn tại của nó
1. Phạm trù vật chất.
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500
năm. Ngay từ lúc mới ra đời xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc
đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Đồng thời, giống như mọi phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát
sinh và phát trỉên gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và với sự
hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới tự
nhiên của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bảng nguyên tinh thần nào đó,
có thể là "ý chí" của thượng đé, "ý niệm tuyệt đối" vv chẳng hạn, Platôn nhà
triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ cho rằng vật chất bắt nguồ từ "ý
niệm", sự vật cảm tính là cái bóng của "ý niệm". Mặt khác, ông tỏ ra căm thù
căm thù chủ nghĩa duy vật, kết tội các nhà duy vật, nhất là các môn đồ của
Đemô out là vị thần - một tội kết án tử hình theo luật của Aten thời bấy giờ,
và đã đốt hết tác phẩm của Đêmôrit. Hêghen nhà duy tâm khách quan tâm của
triết học cổ điển Đức cho rằng "vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra". Mặt
khác, ông có thái độ thiên lịch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tình xuyên tạc,
vu khống triết học duy vật của Heraclit và Êpiquya. Béccli đã hệ thống hoá
một số quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan đưa ra một số công thức
chung:"tồ tại tức là được tri giác". Ý nghĩa của công thức là mọi sự tồn tại
trong chừng mực con người cảm thấy chúng, cái gì ngoài tri giác là không
tồn tại, không có chủ thẻ thì không có khách thể công thức này đã phủ nhận
khách quan sự tồn tại của vật chất, kể cả con người, tất yếu dẫn tới chủ nghĩa
duy ngã, nghĩa là ngoài cái tôi ra thì không có cái gì hết.
Vào thời kỳ cổ đại các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói
chung là những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình cảm tính
3
4
TiÓu luËn triÕt häc
tự nhiên chẳng cần cái gì khác. Ông cho rằng thực thể là thống nhất còn vật
hữu hạn thì nhiều vô kể .Vào thế kỷ XVIII các nhà duy vật Pháp đã phát triển
phạm trù vật chất lên một bước mới. Điđrô cho rằng, trong vũ trụ, trong con
người, trong mọi sự vật chỉ chỉ có thực thể duy nhất là vật chất vật chất là
nguyên nhân duy nhất của máy móc về vân động, ông nêu lên tư tưởng biện
chứng rằng bản tính cố hữu của vật chất là vận động, vận động là năng lực
sống động của vật chất vận động có cả ở vật chất đang vận động lẫn đứng
yên. Ông coi quá trình vận động và phát triển của vật chất, giới tự nhiên sẽ
chọn lọc những gì giúp cho ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải những
vật không thích nghi Honbach khẳng định rằng tự nhiên là nguyên nhân đầu
tiên của vạn vật. Vật chất theo honbach đó là tất cả những gì tác động bằng
cách nào đó vào cảm giác của chúng ta tuy vậy khoahọc thời kỳ này chỉ có cơ
học cổ điển phát triển nhất, còn các ngành khoa học khác như vật lý học, hoá
học, sin học, địa chất học còn ở trình độ thấp khoa học lúc này chủ yếu dừng
lại ở trình độ sưu tập mô tả. Tương ứng với trình độ trên của khoa học thì
quan điểm thống nhất trong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ đó đã
chi phối triết học về vật chất. Người ta giải thích mọi hiện tượng tự nhiên
bằng sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy củacác phân tử vật tư,
theo đó các phần tử của các phân tử vật thể, theo đó các phần tử của vật trong
quá trình vận động là bất biến còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gianvà
tập hợp của chúng. Mọi phân biệt về chất giữa vật thể đều bị quy giảm về sự
phân biệt về lượng, mọi sự vận động đều bị quy giảm về sự phân biệt về
lượng, sự dịch chuyển vị trí trong không gian, mọi hiện tượng phức tạp đều bị
quy về cái giản đơn mà từ đó chúng được thành thành. Niềm tin vào các chân
lý trong cơ học Niutơn đã khiến các nhà khoa học đồng nhất vật chất với khối
lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vật động cơ học, nguồn
gốc vận động nằm ngoài vật chất. Kế thừa quan điểm nguyên tử luận cổ đại,
là quan điểm siêu hành máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự
nhiên là có tận cùng về cấu trúc, rằng giới hạn cuối cùng bất biến của giới tự
nhiên là nguyên tử hoặc khối lượng. Từ đó Lênin kết luận "điện tử cũng vô
cùng vô tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận". Đồng thời Lênin chỉ rõ ràng
sự thay thế một số khái niệm này bằng một số khái niệm khác trong nhận thức
6
TiÓu luËn triÕt häc
về thế giới chỉ chứng tỏ khoa học, sự phản ánh hiện thực khách quan cứ hoàn
thiện mãi lên, chính tỏ sự hiểu biết của con người ngày càng sâu sắc, theo
nghĩa ấy mà nói thì vật lý họcn lúc đó đang trải qua bước khủng hoảng trưởng
thành và nguyên nhân của sự khủng hoảng đó nằm ngay trong bước nhảy vọt
của nhận thức con người khi chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô.
Trên cơ sở phân tích ấy Lênin đưa ra định nghĩa về phạm trù vật chất, một
định nghĩa mà cho tới nay các khoa học hiện đại vẫn thừa nhận.
1. Định nghĩa về vật chất của Lênin.
Theo Lênin vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất mà
cho đến nay thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá quá được. Khi định
nghĩa phạm trù này không thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể
nào đó, cũng không thể quy về phạm trù cụ thể rộng hơn vì đến nay chưa có
phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất. Do vậy chỉ có thể định nghĩa phạm
trù vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan
hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất ý thức là tính thứ hai. Bằng phương pháp như
vậy định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin được diễn đạt như sau:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại
chụp lại, phản ánh và tồn tại khong lệ thuộc vào cảm giác".
Ở định nghĩa trên Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng: Trước hết cần
phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của
khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của đối tượng các
lại, chụp lại, phản ánh. Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những hương thức
nhận thức khác nhau con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như
vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc
phục đã khắc phục được những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình
máy móc về vật chất. Đồng thời định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa
định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các
hình thức mới của vật thể trong thế giới.
8
TiÓu luËn triÕt häc
Khi nhận thức được hiện tượng đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của
Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội từ đó giúp các
nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của
biến cố xã hoịo, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức
sản xuất trên cơ sở ấy người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để thúc đẩy
xã hội phát triển.
2. Vật chất và vận dụng
Trong triết học bàn về phạm trù vật chất luôn gắn liền với việc phải bàn
về tới các phạm trù liên quan tới sự tồn tại của nó. Đó là phạm trù vận động
không gian và thời gian. Đó là phạm trù vận động không gian và thời gian.
Những phạm trù trên xuất hiện sớm trong lịch sử triết học.
Cùng với thời gian, nội dung của các phạm trù trên đã được làm phong
phú hơn, sâu sắc hơn nhờ sự phát triển của các khoa học cụ thể. Khác với
khoa học chuyên biệt, triết học không nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của
các phương thức tồn tại của vật chất mà chỉ làm sáng tỏ một số đặc trưng phổ
quát nhất của cuộc vận động của vật chất trong không gian và thời gian.
Trước hết ta cần xem khái niệm vận động là gì. Theo quan điểm của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong
không gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo định
nghĩa chung "vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Ph.Anghen viết: "vận
Vật chất là vô hạn, vô tận không sinh ra không mất đi mà vận động là
thuộc tính không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không
thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc
sáng tạo ra. Kết luận này của triết học Mác Lênin đã được khẳng định bởi
định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng theo định luật này, vận động,
của vật chất được bảo toàn cả về mặt lượng và chất. Nếu một hình thức vận
động nào đó của sự vật bị mất đi thì tất yếu sẽ nảy sinh một hình thức vận
động khác thay thế nó. Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận
động của vật chất thì vĩnh viễn, tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật
chất. Thuyết tương đối và một số lý thuyết vật lý khác của Anhxtanh có bàn
đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa khối lượng và năng lượng (E - mc
2
), hay quy
luật tương đương giữa khối lượng biến thành năng lượng quy luật này là bằng
chứng mới của khoa học tự nhiên về sự thống nhất của vật chất và vận động
cũng như tính không thể sáng tạo ra và tiêu diệt được của vật chất và vận
động. Bằng chứng ấy đã phủ định quan điểm của thuyết duy năng ra đời vào
cuối thế kỷ XIX trong một bộ phận các nhà khoa học tự nhiên đã quy tất cả
những hiện tượng thiên nhiên thành những biến thể khác nhau của năng lượng
không có cơ sở vật chất. Đồng thời, bằng chứng ấy cũng phủ định quan điểm
10
TiÓu luËn triÕt häc
của một số nhà triết học duy tâm muốn tách rời vận động ra khỏi vật chất,
thay thế khái niệm vật chất bằng khái niệm năng lượng.
Dựa trên những thành tựu của khoa học thời đại mình. PhAnghen đã
phân chia vận động thành 5 hình thức cơ bản. Từ đó cho đến nay khoa học
hiện đại đã phát hiện ra những hình thức tổ chức vật chất mới, do đó đã phát
hiện ra những hình thức mới của vận động. Chẳng hạn, khoa học đã chia hình
thức vận động của vật chất thành ba nhóm tương ứng với ba lĩnh vực của thế
cũng đặc trưng bằng những hình thức vận động cơ bản. Ví dụ trong cơ thể
sinh vật có các hình thức vận động khác nhau như vận động cơ học, vận động
vật lý, vận động hoá học, vận động sinh học, nhưng hình thức vận động sinh
học mới là đặc trưng cơ bản của (loài người) sinh vật. Vận động xã hội là hình
thức đặc trưng cho hoạt động của con người.
Chính bằng sự phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph.Anghen đã
đặt cơ sở cho sự phân loại các khoa học tương ứng đối với nghiên cứu của
chúng và chỉ ra cơ sở của khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của các
khoa học. Ngoài ra tư tưởng về sự khác nhau về chất và thống nhất của các
hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng sai lầm
trong nhận thức là quy hình thức vận động cao vào các hình thức vận động
thấp và ngược lại. Ví dụ từ giữa thế kỷ XIX, những người theo chủ nghĩa
Đacuyn xã hội" muốn quy vận động vật chất thành vận động sinh học, xem
con người như một sinh vật thông thường giải thích hoạt động của xã hội loài
người trong phạm vi tác động của quy luật sinh học là đấu tranh để sinh tồn.
Họ cho rằng đấu tranh để sinh tồn dẫn đến tiêu diệt lẫn nhau trong xã hội loài
người là một hiện tượng tự nhiên. Về cơ bản, chủ nghĩa "Đacuyn xã hội" là
một học thuyết phản động nó đã cực đoan hoá và làm méo mó học thuyết tiến
hoá của Đacuyn. Nguyên nhân chính tạo ra sai lầm này là những người theo
học thuyết đó không thấy được sự khác nhau về trình độ giữa vận động sinh
học và vận động xã hội, họ quy giản một cách gượng ép vận động xã hội về
vận động sinh học.
Khi triết học Mác Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự
vận động vĩnh cửu của nó thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện tượng
12
TiÓu luËn triÕt häc
đứng im của thế giới vật chất. Trái lại triết học Mác - Lênin thừa nhận rằng,
quá trình vận động không ngừng của thế giới vật chất chẳng những không loại
trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im tương đối, không có hiện
Trong triết học Mác Lênin cùng với phạm trù vận động thì không gian
và thời gian là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật
chất. VI.Lênin đã nhận xét rằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất
đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài
thời gian và không gian"
1
.
Trong lịch sử triết học khái niệm thời gian và không gian là những
phạm trù xuất hiện rất sớm. Ngay thời xa xưa người ta đã hiểu rằng bất kỳ
khách thể vật chất nào đều chiếm một vị trí nhất định ở một khung cảnh nhất
định trong tương quan về mặt kích thước so với khách thể. Các hình thức tồn
tại như vậy của vật thể được gọi là không gian. Bên cạnh các quan hệ không
gian, sự tồn tại của các khách thể vật chất còn được biều hiện ở mức độ tồn tại
lâu dài hay mau chóng của hiện tượng ở mức độ tồn tại lâu dài hay mau chóng
của hiện tượng ở sự kế tiếp trước sau của các giai đoạn vận động. Những
thuộc tính này được đặc trưng bằng phạm trù thời gian.
Tuy vậy trong lịch sử triết học xung quanh các phạm trù không gian và
thời gian đã từng có rất nhiều vấn đề gây tranh cãi, trong đó điều quan tâm
trước hết là không gian và thời gian có hiện thực không hay đó chỉ là những
trừu tượng đơn thuần chỉ tồn tại trong ý thức của con người. Những người
theo chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan của không gian và thời
gian. Chẳng hạn Beccơli và Hium con thời gian và không gian chỉ là nội dung
của ý thức cá nhân. Cantơ coi không gian và thời gian chỉ là hình thức của sự
trực quan của con người chứ không phải là thực tại khách quan.
Vào thế kỷ XVII - XVIII các nhà duy vật siêu hình tập trung phân tích
các khách thể vĩ mô, vận động trong tốc độ thông thường nên đã tách rời
không gian và thời gian với vật chất. Niutơn cho rằng không gian và thời gian
là những thực thể đạc biệt không gắn bó gì với nhau và tồn tại độc lập bên
cạnh vật chất còn tương tự như các vật tồn tại độc lập bên cạnh nhau.
phi Ơcơlit đã bác bỏ tư tưởng Cantơ về không gian và thời gian coi như là
những hình thức của tri giác cảm tính ngoài kinh nghiệm Thuyết tương đối
của Anhxtanh đã xác nhận rằng, không gian và thời gian không tự nó tồn tại,
tách rời vật chất mà nằm trong mối liên hệ qua lại phổ biến không thể phân
chia. Như vậy không gian và thời gian có những tính chất sau đây: 1
Các Mác v Anghen: Ton tập, NXB Chính trị quốc gia H Nội 1994
2
VI.Lênin: ton tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 1980
15
TiÓu luËn triÕt häc
Tính khách quan, nghĩa là không gian và thời gian là thuộc tính của vật
chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách
quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.
Tính vĩnh cửu và vô tận nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả,
cả về quá khứ tương lai cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bên
trái, cả về phía trên lẫn phía dưới.
Không gian luôn có ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao). Còn
thời gian chỉ có một chiều từ quá khứ đến tương lai. Khái niệm không gian
nhiều chiều mà ta thường thấy trong khoa học hiện nay là một trừu tượng
khoa học dùng để chỉ tập hợp một số đại lượng đặc trưng cho các thuộc tính
khác nhau của khách thể nghiên cứu và tuân theo những quy tắc biến đổi nhất
định. Đó là một công cụ toán học để hỗ trợ dùng trong quá trình nghiên cứu
chứ không phải để chỉ không gian thực, không gian thực chỉ có ba chiều.
16
TiÓu luËn triÕt häc
17
TiÓu luËn triÕt häc 18