LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN
PHẨM NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ
TRƯỜNG MỸ” MỤC LỤC.
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ CƠ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT
KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM
I. Khái quát về nước Mỹ và thị trường nông sản Mỹ 3
II. Nhu cầu nhập hàng nông sản vào thị trường Mỹ và định hướng chiến lược
của các doanh nghiệp Việt Nam. 4
1. Tiềm năng sản xuất hàng nông sản của Việt Nam 4
2. Dự báo tiềm năng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam vào thị trường Mỹ 6
mà còn gia tăng sự phát triển và nâng cao dần tính cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam.
Mỹ là một thị trường lớn nhất thế giới, Mỹ là thị trường với dung lượng
hàng nhập khẩu rất đa dạng và phong phú về mẫu mã, chủng loại và chất lượng.
Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường Mỹ rất quyết liệt. Hàng hoá của Mỹ tự do
nhập khẩu từ 150 nước.
Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ có tốc độ tăng khá nhanh
về kim ngạch cũng như chủng loại sản phẩm. Hiện Việt Nam đứng hàng thứ 72
trong số các nước có doanh số xuất khẩu sang Mỹ. Sau khi Hiệp định Thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 13/07/2000 và được Quốc hội hai nước
phê chuẩn ngày 11/12/2001, doanh số xuất khẩu sang Mỹ đều tăng nhanh ở các
mặt hàng như giày dép, thuỷ sản, hàng may mặc, hàng nông sản, thủ công mỹ
nghệ… Tuy nhiên, sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam còn thấp
hơn so với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Thái Lan,
Mêxicô, Philippines… Muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ, trong điều
kiện nền kinh tế của Việt Nam đang ở mức phát triển thấp, cần phải nghiên cứu kỹ
thị trường này để nâng cao sức cạnh tranh.
Để xuất khẩu sang thị trường Mỹ phát triển bền chắc và lâu dài. Các doanh
nghiệp không chỉ trông chờ vào qui chế tối huệ quốc khi hiệp định Thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, mà còn phải nghiên cứu kinh nghiệm thâm nhập
2
thành công vào thị trường Mỹ của các nước để đạt hiệu quả nâng cao sức cạnh
tranh cho sản phẩm của mình.
Các doanh nghiệp Việt Nam trong qúa trình kinh doanh đã xuất khẩu được
sản phẩm của mình sang thị trường Mỹ và nhiều thị trường khác trong khu vực và
thế giới. Đáng chú ý như sản phẩm nông sản, thuỷ sản, các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ … Đặc biệt là hàng nông sản đã được xuất sang thị trường Mỹ với một số
lượng khá lớn. Mỗi mặt hàng đưa vào thị trường Mỹ đều có những điểm mạnh,
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Với dân số vào khoảng
284,5 triệu người (cuối năm 2001) sức mua khoảng 7000 tỷ USD/ năm, GDP năm
1999 vào khoảng 9256 tỷ USD . Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào
khoảng 781 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu khoảng 1258 tỷ USD. Sản xuất công
nghiệp Mỹ chiếm khoảng 20 % sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Lao động
nông nghiệp chiếm 2 % dân số nhưng nó đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời
xuất khẩu mỗi năm khoảng 50 tỷ USD. Với thu nhập GDP bình quân đầu người
ước khoảng 32.000 USD, dân Mỹ được xem là dân có sức tiêu dùng lớn nhất trong
các nước có nền công nghiệp phát triển. Theo nghiên cứu của một nhóm chuyên
gia Liên Hợp Quốc thì nếu sức tiêu dùng của các gia đình Nhật, EU là 1, thì của
các gia đình Mỹ là 1,7.
Về chất lượng hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ rất linh hoạt, vì phương châm
kinh doanh thương mại của Mỹ là “ tiền nào của nấy”. Dân Mỹ có mức sống rất đa
loại, nên có hệ thống cửa hàng cho người có thu nhập cao, cửa hàng cho người có
thu nhập thấp. Chính vì vậy, hàng nhập khẩu vào Mỹ rất đa dạng, đa loại từ nhiều
nước khác nhau phục vụ cho các phân khúc thị trường khác nhau.
Nước Mỹ cũng có nền nông nghiệp rất phát triển. Nhờ có diện tích lãnh thổ
rộng lớn, có nhiều miền khí hậu thuận lợi, công nghệ sinh học phát triển khả năng
ứng dụng cao. Chính phủ Mỹ giàu có hàng năm giành trên 10 tỷ USD tài trợ cho
phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy tất cả các ngành nông nghiệp của Mỹ về trồng
trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, chế biến nông sản đều rất phát triển. Xuất khẩu nông sản
năm 2001 mang về cho nước Mỹ trên 46 tỷ USD, Mỹ đứng đầu thế giới về xuất
khẩu lúa mỳ, bắp, thịt các loại, đậu tương…,đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu gạo,
thuỷ sản, nước trái cây…
4
Mỹ cũng là nước nhập khẩu nhiều nông sản nhất thế giới, hàng năm Mỹ
nhập khẩu trên dưới 10 tỷ USD rau, củ, quả; nhập khẩu khoảng 3,5 tỷ USD cà phê;
nhập khẩu trên 9 tỷ USD cao su; thịt các loại khoảng trên 2,5 tỷ USD; nhập khẩu
5
thác được vùng đồng bằng màu mỡ này nếu biết đầu tư phát triển sản xuất theo
chiều sâu. Đặc biệt những vùng đất còn hoang hoá ở các vùng khác cũng cần tích
cực đầu tư tạo tiềm lực cho sản xuất nông nghiệp.
Về khí hậu.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió
mùa Châu Á. Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miền
Nam. Miền Bắc có mùa đông lạnh. Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng
Sông Cửu Long có khí hậu kiểu Nam Á. Đây là điều kiện khí hậu thuận lợi để đa
dạng hoá các loại cây trồng. Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào
phân bổ khá đồng đều trên phạm vi cả nước. Tiềm năng nhiệt của nước ta được
xếp vào dạng giàu có với số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn, độ ẩm tương đối
trong năm lớn hơn 80%, lượng mưa khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý
tưởng cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Vị trí địa lý và các cảng khẩu.
Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
được vận chuyển bằng đường biển. So với các phương thức vận tải quốc tế bằng
đường sắt, đường ống và đường hàng không thì phương thức vận tải này có nhiều
thuận lợi hơn, thông dụng hơn và có mức cước phí rẻ hơn.
Trong thực tiễn chuyên chở bằng đường biển, các doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều thuận lợi nổi bật. Đường biển Việt Nam có hình chữ “S”, hệ thống cảng biển
nói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thể
hành trình theo tất cả các chuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương,
Trung cận Đông, Châu Phi, Châu Mỹ. Một số cảng có khả năng bốc xếp hàng
xuống tàu lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt, lại gần đường hàng hải quốc tế.
Về nguồn nhân lực.
Dân số nước ta là gần 80 triệu người, cơ cấu dân số trẻ với trên 80% sống
bằng nghề nông. Đây là một lực lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực
nông nghiệp. Mặc dù chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều
“ Chiến lược đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền tảng để đến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp”. Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm (2001-2010) là đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần
của nhân dân, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo nền tảng đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện được mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai
đoạn từ 2001-2010, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng nêu rõ định hướng
phát triển kinh tế đối ngoại trong đó có định hướng phát triển hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam. Cụ thể về xuất khẩu:
7
- Tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. Tạo thị trường ổn định cho một số mặt hàng
nông sản- thực phẩm và công nghiệp có khả năng cạnh tranh, tìm kiếm các
thị trường cho mặt hàng xuất khẩu mới, nâng cao chất lượng cho các mặt
hàng xuất khẩu.
- Phấn đấu đạt tổng kim ngạnh xuất khẩu 5 năm tới đạt 114 tỷ USD, trong đó
nhóm hàng nông lâm thuỷ sản chiếm 30 % tổng kim ngạch XK, tăng bình
quân hàng năm 16,2 %.
+ Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2010-2020.
Để thực hiện chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nói chung và
định hướng phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng của Đại hội Đảng IX, ngày 27
tháng 10 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 22/2000/CT-TTg về
chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010. Chỉ
thị khẳng định: “ Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời
kỳ 2001-2010, nhất là xuất khẩu phải là chiến lược tăng tốc toàn diện, phải có
những khâu đột phá với bước đi vững chắc… tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao
nhất cho xuất khẩu” Chỉ thị nêu rõ:
>15
Nguồn: (Báo cáo Thương Vụ Việt Nam tại Mỹ)
Ghi chú: (*) là tốc độ tăng trưởng bình quân cho mỗi năm của cả thời kỳ 3 năm
Nhu cầu về các mặt hàng nông sản trên thị trường Mỹ
- Cà phê:Tổng nhập của Mỹ đối với các loại cà phê năm 2000 là 3,726 tỷ
USD năm 2001 tăng lên 3,928 tỷ USD. Dự kiến trong 10 năm nữa, nhu cầu
nhập khẩu của Mỹ sẽ tăng khoảng 10%/năm ( Báo cáo Thương vụ Việt Nam
tại Mỹ). Nhu cầu tiêu dùng cà phê của Mỹ rất cao khoảng 17,8 triệu bao
(bao 60 ký) năm 2000 18 triệu bao năm 2001 và còn tiếp tục tăng trong
những năm tiếp theo. Hàng năm Mỹ chỉ sản xuất được khoảng 250000 bao
tức 15000 tấn/năm. Nếu giá cả và chất lượng cạnh tranh tốt các doanh
nghiệp Việt Nam có thể tăng xuất khẩu vào Mỹ theo nhu cầu của thị trường,
ít nhất với mức tăng bình quân (10-15%/năm), đạt khoảng 350 triệu USD
vào năm 2010.
- Hạt tiêu: Hàng năm Mỹ nhập khẩu số lượng khá lớn hạt tiêu chưa xay và đã
xay. Trên thế giới nhập khẩu 202 ngàn tấn, trị giá khoảng 931 triệu USD,
trong đó Mỹ nhập khẩu 43,3 ngàn tấn (22% thị phần) khoảng 198 triệu USD.
Mặt hàng này Việt Nam thâm nhập vào Mỹ chậm hơn cà phê, nhưng từ
những năm tới, khả năng tăng xuất khẩu mặt hàng này sẽ cao vì Trung Quốc
và Tây Ban Nha, những nước hiện đang đứng trên Việt Nam về XK mặt
hàng này lại không có nhiều hạt tiêu như Việt Nam.
- Hạt điều: Thị trường Mỹ cũng tiêu thụ mạnh loại mặt hàng này dưới dạng
thô và chế biến. Từ năm 1996, Việt Nam có điều xuất khẩu sang thị trường
Mỹ. Năm 2001 đạt 32,48 triệu USD ở mặt hàng điều, đứng thứ ba sau Ấn độ
và Brazil trên thị trường Mỹ.
- Chè các loại: Hàng năm Mỹ nhập khẩu các loại chè xanh và đen, trung bình
130 triệu USD/ năm. Giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có thể tăng đều đặn
20%/năm nếu tăng được xuất khẩu trực tiếp và có thể đạt 3 triệu USD vào
năm 2010.
các doanh nghiệp Việt Nam còn tăng lên theo hướng :
Hạt tiêu của Việt Nam sẽ tăng kim ngạch , vượt qua Trung Quốc , Tây Ban
Nha để trở thành 1 trong 5 nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất vào thị trường Hoa kỳ .
10
Chè đen của Việt Nam có khả năng tăng kim ngạch trung bình trên 20% /năm
trên thị trường Hoa Kỳ.
Hạt điều của Việt Nam có sản lượng trên dưới 30.000 tấn hàng năm, có thị
trường khá ổn định với 2 thị trường lớn hiện nay là Hoa Kỳ và Trung Quốc tiêu thụ
hàng năm 70% lượng nhân điều xuất khẩu, còn lại Việt Nam bán cho Australia và
các nước Châu âu.
Riêng các mặt hàng chưa chế biến như gạo , bắp , đậu nành , hoa quả,…
xuất khẩu sang Mỹ bị hạn chế do Mỹ cũng là nước sản xuất nông sản lớn của thế
giới về các loại này.
Cà phê Việt nam xuất khẩu sang Mỹ hiện nay đã đạt khoảng 40.000 tấn /năm,
chủ yếu là cà phê hạt. Các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình giao lưu buôn
bán với Mỹ sẽ phải học hỏi kỹ thuật công nghệ chế biến cà phê để có thể xuất khẩu
được cà phê đã qua chế biến.
Theo như định hướng, trong giai đoạn tiếp theo các doanh nghiệp Việt Nam
sẽ phát triển xuất khẩu sang thị trường Mỹ những mặt hàng nông sản chế biến sâu
và có hàm lượng công nghệ cao.
III. Những thời cơ và thách thức đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam
vào thị trường Mỹ.
+ Những thời cơ:
Mỹ là thị trường rộng lớn với số dân 284,5 triệu người và là một trong
những nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới.
Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, các doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam sẽ thuận lợi trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông
sản, đặc biệt một số hàng nông sản chủ lực của Việt Nam góp phần nâng kim
Nước Mỹ là một nước có nền nông nghiệp phát triển có năng xuất cao, là
nước hàng năm nhập khẩu hàng tỷ USD hàng nông sản. Cho nên hàng nông sản
của Việt Nam phải cạnh tranh được với các hàng nông sản của các doanh nghiệp
Mỹ mới có thể có được chỗ đứng trên thị trường.
Luật pháp Mỹ qui định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập khẩu
hàng hoá từ nước ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của Chính Phủ liên Bang, Bộ
thương Mại, Văn phòng Đại diện thương mại, uỷ ban Thương Mại Quốc Tế, và cụ
thể nhất là Hải quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm về vấn đề này. Các giấy
tờ cần xuất trình trong qui trình nhập hàng vào Mỹ gồm: giấy nhập khẩu hải quan,
hoá đơn thương mại, danh mục kiện hàng (nếu có), giấy tờ khác theo yêu cầu cụ
thể của Chính quyền Liên bang hay địa phương. Mỹ có rất nhiều qui định luật chặt
chẽ và chi tiết trong buôn bán, các qui định về chất lượng, kỹ thuật… Vì thế, khi
12
các nhà xuất khẩu Việt Nam chưa nắm rõ hệ thống qui định về luật lệ của Mỹ
thường cảm thấy khó làm ăn tại thị trường này. Một số qui định của Mỹ về vấn đề
nhập khẩu: Nhãn hiệu và nhãn thương mại, hạn ngạch nhập khẩu, làm thủ tục hải
quan. Luật chống bán phá giá, vấn đề gian lận thương mại…
- Tại thị trường Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn chất lượng
sản phẩm. Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giá niêm yết.
Hàng hoá bán tại Mỹ thường phải kèm theo dịch vụ sau bán. Số lượng và chất
lượng dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối với người bán. Các nhà
kinh doanh tại thị trường Mỹ phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt. Người tiêu dùng
Mỹ thường nôn nóng, nhưng lại mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và
thay đổi nhanh chóng đổi mới cải tiến đối với sản phẩm của mình.
Như vậy, những qui định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu là những
rào cản phi thuế đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu chất lượng hàng hoá
không tăng và giá cả không hạ thì việc tăng kim ngạch và cơ cấu hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ là một vấn đề nan giải.
142.600
100.100 155.300 151.600
3. Ngũ cốc 5 5.845 20.995 5.300 5.472 6.421 6.956
4. Chế phẩm
từ ngũ cốc,
bột mỳ
412 1.150 1.828 1.890 2.005 2.200 2.305
5. Chế phẩm
từ rau
195 1.987 2.917 3.152 3.428 3.076 4.784
6. Cao su và
sản phẩm từ
cao su
1.572 564 3.031 2.900 3.500 2.400 4.781
Nguồn : Hải quan Mỹ và cơ sở dữ liệu của Uỷ ban thương mại quốc tế Hoa
Kỳ (USITC).
Cà phê:
Cà phê là mặt hàng có giá trị kim ngạch lớn nhất. Hàng năm, nước ta xuất
khẩu với kim ngạch đều trên 100 triệu USD ( số lượng khoảng 40000 tấn/năm).
14
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cà phê Robusta vào Mỹ từ năm 1994 và ngay năm đầu
tiên đã đạt 32 triệu USD. Sau khi suy giảm vào các năm 1997, 1998 (nguyên nhân
là do giá cà phê trên thị trường thế giới có biến động) kim ngạch đã tăng trở lại vào
năm 1999 đạt 142,6 triệu USD. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 7 về giá
trị trong số các nước xuất khẩu cà phê vào Mỹ (theo số liệu thống kê của Hải Quan
như Malaysia, Indonesia, Thái Lan thì còn rất nhỏ. Năm 2001, kim ngạch xuất
khẩu cao su thiên nhiên của Thái Lan là 247 triệu USD, sản phẩm cao su là 546
triệu USD.
Rau và chế phẩm từ rau:
Một số mặt hàng như quả hạt ăn được, rau quả chế biến và thực phẩm chế
biến cũng được xuất sang Mỹ. Trong đó thực phẩm chế biến đạt kim ngạch 17,8
triệu USD vào năm 2001. Trong sản phẩm quả và hạt ăn được thì hạt điều là sản
phẩm chủ yếu. Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này đạt 7,6 triệu USD tới
năm 2002 đạt 32 triệu USD. Hiện nay, hạt điều có thị trường khá ổn định với hai
thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc.
2. Thực trạng sức cạnh tranh mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu
vào thị trường Mỹ.
Sức cạnh tranh của sản phẩm nông sản Việt Nam so với các nước cùng xuất
khẩu mặt hàng này chủ yếu là về hai khía cạnh: giá cả và chất lượng.
Về mặt hàng cà phê, Mỹ là thị trường tiêu thụ cà phê lớn, các doanh nghiệp
Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ luôn gặp phải sự cạnh tranh gay gắt về giá cả với các
nước xuất khẩu cà phê khác, đặc biệt là từ những nước bạn hàng quen thuộc của
Mỹ như Brazil, Colombia, Mêhicô… Trên thực tế, Việt Nam chủ yếu trồng cà phê
Robusta (khoảng 95% diện tích) trong khi thị trường Mỹ lại chuộng giống cà phê
Arabica hơn mặc dù giá mua bán loại cà phê này trên thế giới thường cao hơn gấp
1,5 lần cà phê Robusta. Riêng với cà phê Robusta, Việt Nam đã xuất khẩu sang Mỹ
chủ yếu là loại II, chiếm đến 80%. Giá cà phê loại II thường rất thấp (giá tháng
12/2001 chỉ có 430 USD/tấn) do chất lượng không cao, có đến 5% hạt bể, nên kim
ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam thu được thấp hơn các nước khác. Bên cạnh đó
Mỹ là thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao, nếu Việt Nam không cố gắng
nâng cao chất lượng cà phê, thực hiện xuất khẩu cà phê loại I chiếm tỷ trọng cao
hơn thì sẽ rất khó đứng vững trên thị trường này, cũng như khó có thể duy trì được
mức kim ngạch hiện nay.Tuy nhiên theo dự báo của các chuyên gia kinh tế thì
trong vài năm sắp tới, tình hình cung ứng cà phê sẽ vượt cầu trên thế giới nói
chung và ở Mỹ cũng không tránh khỏi xu hướng đó, cho nên giá xuất khẩu cà phê
các sản phẩm đó có thể được nhập khẩu vào Mỹ mà không du nhập các loại sâu bọ
có hại.
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sức cạnh tranh một số mặt hàng nông
sản Việt Nam vào thị trường Mỹ còn thấp có thể kể đến một số nguyên nhân chủ
yếu sau đây:
Cà phê, do khoảng cách địa lý giữa Mỹ và Việt Nam khá xa, nên chi phí vận
chuyển từ Việt Nam sang Mỹ còn rất cao. Nước Mỹ lại nằm sát trung tâm cà phê
hàng đầu của thế giới: Brazil, Colombia, Mehico, El Sanvado… với chi phí vận tải
17
thấp hơn. Thị trường Mỹ đã quen tiêu thụ cà phê Arabica, nên chưa mặn mà với cà
phê Robusta của Việt Nam, trong khi Việt Nam sản xuất chủ yếu là cà phê Robusta
(95% diện tích) làm cho sức cạnh tranh của cà phê Việt Nam bị hạn chế trên thị
trường Mỹ. Các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này của Việt Nam hầu như
chưa tiếp cận trực tiếp với thị trường Mỹ, mà chủ yếu thông qua các nhà thương
mại Mỹ như Cargill, Mercon… có trụ sở đóng tại Việt Nam. Điều này đã làm hạn
chế khả năng tìm kiếm đối tác, mở rộng khả năng tiêu thụ và phân phối cà phê qua
các đại lý.
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng cao su sang Mỹ chưa cao vì công nghiệp
chế biến sản phẩm cao su của Việt Nam chưa phát triển, chất lượng sản phẩm chưa
cao. Chất lượng mủ cao su của Việt Nam chưa tốt so với các nước trong khu vực,
còn nhiều tạp chất, chất lượng không đồng đều. Sản phẩm cao su Việt Nam còn
thiếu thương hiệu nổi tiếng. Giá sản phẩm cao su thiên nhiên của Việt Nam còn
cao hơn so với các nước cạnh tranh.
Mặt hàng rau quả tươi và chế biến còn bị hạn chế do: Nước Mỹ ở quá xa nên
thời gian vận chuyển dài, cước phí vận tải cao, trong khi kỹ thuật bảo quản chế
biến sau thu hoạch đối với rau quả và trái cây của Việt Nam bị hạn chế, cho nên rất
khó đưa sản phẩm mang tính cạnh tranh cao vào Mỹ. Thị trường Mỹ yêu cầu rất
khắt khe đối với chất lượng rau quả nhập khẩu, phải qua các khâu xin phép, giám
của các nước cạnh tranh.
II. Đánh giá chung thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông sản Việt
Nam trên thị trường Mỹ.
1.Thành tựu:
Sự biến động về tình hình kinh tế, chính trị, tài chính thế giới trong thời gian
qua đã tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản của
các doanh nghiệp Việt Nam. Vượt lên những khó khăn trong thời gian qua, hoạt
động kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Mỹ của các doanh nghiệp
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên trong quá trình hoạt
động vẫn còn rất nhiều tồn tại mà các doanh nghiệp cần giải quyết.
Trong những năm gần đây, mặc dù phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của các
nước có cùng mặt hàng nông sản xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phát
triển trong một thị trường có sức cạnh tranh cao như Mỹ, các doanh nghiệp xuất
khẩu nông sản vẫn Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ và chỉ tiêu tăng trưởng.
Chủng loại xuất khẩu của các doanh nghiệp ngày càng phong phú và đa
dạng như cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, quế, rau quả chế biến… kim ngạch các
mặt hàng này đều tăng qua các năm.
19
Chất lượng các mặt hàng của các doanh nghiệp đã được nâng cao. Từ chỗ
mặt hàng nông sản chưa thâm nhập được vào thị trường Mỹ đến nay mặt hàng này
đã có mặt và có được chỗ đứng trên thị trường này.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu và xúc tiến tiêu thụ
đang từng bước được hoàn thiện để thích ứng với môi trường kinh doanh mới và
đầy sự cạnh tranh như Mỹ.
Đội ngũ nhân viên, cán bộ thu mua của các doanh nghiệp đã được chọn lọc
và đào tạo rất năng động và nhạy bén trong công việc. Cơ chế kinh doanh của các
doanh nghiệp đã mềm dẻo, linh hoạt nhậy bén, thích nghi với sự vận động và phát
triển của thị trường.
21
CHƯƠNG III
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I.Về phía doanh nghiệp.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực sẽ tạo ra môi trường
kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam trên thị
trường Mỹ, nhưng hạn chế lớn nhất của sản phẩm Việt Nam khi thâm nhập thị
trường Mỹ là tính cạnh tranh còn thấp so với các nước có cùng loại sản phẩm. Để
sản phẩm nông sản Việt Nam có thể nâng cao được sức cạnh tranh, thâm nhập
được sâu hơn vào thị trường Mỹ thì cần phải có các giải pháp đúng đắn từ phía các
doanh nghiệp và cần có cả những biện pháp của nhà nước.
Về mặt chiến lược cạnh tranh:
Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp Việt Nam cần có hệ thống chiến lược
kinh doanh tổng hợp thích nghi với điều kiện của doanh nghiệp và với thị trường
Mỹ. Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản cũng như hàng khác cần cần có
chiến lược và kiên trì thực hiện gồm:
A. Cạnh tranh về giá cả:
Hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ không được ưu đãi bằng các
nước thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) do hệ thống giá ưu
đãi của mình vẫn dành ưu tiên hơn cho các nước thuộc Châu Mỹ , khối Bắc Mỹ và
các nước đã là thành viên WTO như Trung Quốc, Thái Lan …
Tuy nhiên, với mức ưu đãi sau khi Hiệp Định Thương Mại Việt Nam- Hoa
Kỳ có hiệu lực ngày 11/12/2001 mức ưu đãi để bắt đầu có thuận lợi thuận lợi hơn
trước kia. Ngay lúc chưa có ưu đãi hàng Việt Nam vẫn vào được thị trường Mỹ.
Ngày nay tuy thuận lợi hơn nhưng doanh nghiệp Việt Nam cần phấn đấu giá thành
giảm sản xuất bằng nâng cao chất lượng quản lý sản xuất và kinh doanh , giảm các
Ngày nay, có thể thực hiện qua mạng Internet, vận dụng qua thương mại
điện tử Quảng cáo là hoạt động các doanh nghiệp Việt Nam chua dùng mạnh nên
cần tăng cường khâu này.
Về các mặt hàng cụ thể.
23
Mặt hàng cà phê là mặt hàng có kim ngạch lớn nhất trong số các mặt hàng
nông sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Để khắc phục được những khó
khăn và tồn tại các doanh nghiệp cần có những giải pháp về mặt hàng này:
Nâng cao chất lượng sản phẩm: Đây có thể xem là vấn đề hàng đầu trong
chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ đối với ngành hàng cà phê, bởi lẽ chất lượng
sản phẩm sẽ quyết định mọi yếu tố cạnh tranh khác nhằm giúp Việt Nam trở thành
bạn hàng lớn nhất của Mỹ. Muốn đạt được điều đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các khâu từ chọn giống, gieo trồng, thu hoạch và chế biến thành
phẩm để cuối cùng có được chất lượng sản phẩm ổn định và tạo được niềm tin nơi
người tiêu dùng.
Chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trường và nắm bắt thông tin: thông
qua các hình thức như thành lập ngân hàng dữ liệu, thông tin, thực hiện chương
trình môi giới thương mại, cung cấp dịch vụ tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài
muốn tham gia vào việc sản xuất và kinh doanh cà phê… mục đích cuối cùng là
giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện thu thập và trao đổi đầy đủ các
thông tin về tình hình sản xuất và kinh doanh cà phê trên thế giới nói chung và ở
Mỹ nói riêng.
Vì Mỹ là thị trường mới đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt
Nam, nên việc am hiểu pháp luật và thông lệ buôn bán của người Mỹ vẫn còn hạn
chế đối với các doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần thiết phải
tìm hiểu và nắm bắt cho được các luật lệ có liên quan đéen việc kinh doanh xuất
nhập khẩu cà phê với Mỹ, thậm chí cả các trường hợp xảy ra tranh chấp, vì một sự
hiểu biết như vậy không bao giờ là thừa.