Tài liệu Thuốc và hướng điều trị đột quỵ não hiện nay doc - Pdf 98

Thuốc và hướng điều trị đột
quỵ não hiện nay

Cấp cứu cho bệnh nhân bị đột quỵ não.
Đột quỵ não là vấn đề thời sự về sức khỏe của các nước đang phát
triển. 80% các rối loạn thần kinh trong một bệnh viện đa khoa là do bệnh
mạch máu não, tai biến chủ yếu của bệnh mạch máu não là đột quỵ não.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tử vong do đột quỵ đứng hàng thứ hai sau
bệnh tim, ở Mỹ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và ung thư. Những người thoát
khỏi tử vong thường để lại di chứng nặng nề cả về thể xác, tâm thần cũng như là
gánh nặng cho gia đình và xã hội Hội nghị đột quỵ châu Âu (1997) xác định “tàn
phế do đột quỵ đứng hàng đầu trong các loại bệnh”.
Điều trị đột quỵ não phải đạt được mục đích “tránh tàn phế mà không gây
tử vong”.
Điều trị tổng hợp
Điều chỉnh huyết áp (HA) tăng
- Như đã biết, vấn đề tuần hoàn máu là quan trọng đầu tiên, ở vùng này,
mạch máu giãn tối đa do cơ chế bảo vệ tự động (thành mạch mất chức năng do
thiếu ôxy, nhiễm toan). Bởi vậy, chỉ số bơm máu lên não phụ thuộc vào HA động
mạch. Nếu HA bị hạ đột ngột hoặc bị hạ nhiều sẽ gây giảm áp lực bơm máu vùng
tranh tối-tranh sáng, gây chết tế bào vĩnh viễn. Do vậy, huyết áp nên giữ ở mức
cao hợp lý.
Điều chỉnh HA thấp:
Tìm và giải quyết nguyên nhân gây huyết áp thấp (thuốc, khối lượng thải
ra, suy thất trái, bệnh thần kinh ).
- Cần ngừng, giảm các thuốc có thể là nguyên nhân gây hạ HA.
- Điều trị suy thất trái, thiếu máu.
- Loại bỏ lợi niệu và alpha-betablocker.
- Loại bỏ sự mất nước
- Bù đủ khối lượng dịch, máu căn cứ theo các xét nghiệm.
Chống phù não

Các tác nhân này làm giảm kết tập tiểu cầu, làm giảm sự lan rộng của huyết
khối động mạch (tiêu biểu là aspirin). Là thuốc cơ bản để điều trị dự phòng và điều
trị tắc mạch. Nhưng có khả năng làm tăng nguy cơ chảy máu và không có hiệu quả
trên fibrinogen hoặc độ nhớt máu.
- Ticlopidin, vẫn có nguy cơ chảy máu và có tác dụng lên fibrinogen
khoảng 10%.
- Clopidogrel.
- Aspirin + dipyridamol, có hiệu quả tương tự clopidogrel
Điều trị chống đông (anticoagulant).
Mục đích làm giảm sự tạo thành thrombin và giảm cục máu đông giàu
fibrin trong đột quỵ cấp tính, không có hiệu quả trên fibrinogen và độ nhớt máu.
Tiêu biểu có các loại sau:
- Heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp (điều trị giai đoạn cấp, bán
cấp).
- Warfarin, coumadin, lovenox , điều trị dự phòng, tiêm dưới da.
Điều trị tiêu cục huyết (thrombolitic): Làm giảm fibrinogen do khi đưa vào
tĩnh mạch sẽ biến đổi plasminogen thành plasmin, plasmin có khả năng thủy phân
fibrin, fibrinogen và các protein đông huyết tương khác làm tiêu cục huyết khối
gây tắc mạch nguyên phát hoặc thứ phát. Tuy nhiên việc sử dụng các loại thuốc
này đòi hỏi bệnh nhân đến viện sớm trước 3 – 6 giờ và tuân theo những chỉ định
rất chặt chẽ, được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên sâu có phương tiện theo dõi
các xét nghiệm tin cậy phòng tai biến chảy máu ồ ạt. Tiêu biểu có các loại sau:
rtPA (tissue plasminogen activator), thuốc này thịnh hành ở Mỹ.
Streptokinaza, urokinaza, dùng từ 3-6 giờ sau khởi phát đột quỵ.
Ancrod: chiết xuất từ nọc độc của loài rắn ở Malaysia, có tác dụng giáng
hoá fibrinogen, giảm độ quánh của máu và tăng lưu lượng dòng máu tuần hoàn.
Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh
Các nghiên cứu cho thấy có vài cơ chế cùng tồn tại song song, mục đích
giúp đỡ chuyển hóa ở mô bị rối loạn và có nguy cơ bị rối loạn dẫn đến phá hủy tế
bào thứ phát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status