Tài liệu Bệnh tiêu chảy và thuốc chữa - Pdf 98

Bệnh tiêu chảy và thuốc chữa

Vi khuẩn Samonella.
Tiêu chảy là một bệnh của hệ tiêu hóa. Trong dân gian có vùng gọi là
"thác dạ" hoặc "tháo dạ". Các triệu chứng điển hình là đi ngoài trên 3 lần
mỗi ngày, phân có nước dính, có hoặc không lẫn máu.
Tác nhân gây bệnh có nhiều nhưng chủ yếu là nhiễm khuẩn, nhiễm virut do
ăn uống không vệ sinh, ăn phải đồ thiu, mốc, đồ ăn nhiễm khuẩn, virut hoặc ăn
nhiều đồ ăn sống, nấu không kỹ. Nếu bệnh phát nhanh và khỏi trong vòng 14 ngày
thì gọi là tiêu chảy cấp còn kéo dài hơn là tiêu chảy mạn tính.
Bù nước và chất điện giải Điều trị cho trẻ bị tiêu chảy tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Ảnh: LH

Tiêu chảy là một trong những bệnh tuy không khó chữa nhưng lại là bệnh
nguy hiểm do làm mất nước, rối loạn điện giải trong cơ thể dẫn đến suy kiệt, trụy
tim mạch và tử vong. Vì thế, trong điều trị tiêu chảy, việc bù nước, chất điện giải
được coi trọng hàng đầu. Khi bị bệnh tiêu chảy, hệ nhung mao trong niêm mạc
ruột tăng tiết khiến lượng nước và chất dinh dưỡng không được hấp thu. Mặt khác,
nhu động ruột lại tăng lên vì thế khiến người bệnh thường đau bụng, tăng số lần đi
ngoài, tăng lượng phân và nước theo phân. Tuy nhiên, hệ niêm mạc này lại vẫn có
khả năng hấp thu nước nên việc bổ sung nước và chất điện giải vẫn có tác dụng rất
tốt. Mặt khác, lúc bị bệnh, bệnh nhân thường khát nên thuận lợi cho việc bổ sung
nước.
Các dung dịch bù nước thông dụng là ORS (hay Oresol), viên Hydrite,
dung dịch muối đường Pha dung dịch bù nước đúng giúp người bệnh mau hồi
phục và giảm thiểu sụt cân lúc tiêu chảy. Mỗi gói ORS pha với 1 lít nước chín để
nguội (không nên pha nửa gói ORS với nửa lít nước). Mỗi viên Hydrite pha với
200ml nước. Dung dịch muối đường pha từ 1 lít nước với 1 muỗng cà phê muối
gạt ngang và 8 muỗng cà phê đường gạt ngang. Dung dịch bù nước pha quá 12 giờ

thoát ra khi vi khuẩn bị phân hủy trong máu cũng như ở ruột, gây nhiễm độc cấp

với hội chứng rối loạn tiêu hóa khá nặng nề, nhưng chỉ sau 1-2 ngày bệnh nhân
nhanh chóng trở lại bình thường không để lại di chứng. Ở người già yếu và trẻ nhỏ
có thể nặng hơn, đôi khi có tử vong. Các chủng Samonella thông thường (gọi
chung là S.non-typhi) hay bị nhiễm vào thức ăn. Chỉ khi nhiễm một lượng lớn,
sinh ra đủ độc tố, mới gây nhiễm độc. Biểu hiện thường dữ dội (đau quặn bụng, đi
ngoài nhiều lần, sốt). Nhưng khi tách khỏi nguồn lây (thức ăn) thì bệnh không
nặng thêm. Chỉ cần dùng thuốc chữa triệu chứng. Với người khỏe mạnh, không
cần thiết dùng kháng sinh. Với trẻ nhỏ, người già nếu cần thì dùng bactrim, nếu bị
kháng thì dùng fluoroquinolon.
Riêng trường hợp nhiễm Salmonella enterica typhi (chủng thương hàn) cần
phải dùng kháng sinh đặc hiệu chữa dứt điểm, cắt đứt nguồn lây (tiệt khuẩn các
bệnh phẩm), nếu không, sẽ phát thành dịch. Ở một số vùng (xa xôi, ít dùng kháng
sinh, chưa bao giờ có dịch thương hàn) có thể dùng một trong các kháng sinh
chloramphenicol, bactrim, amoxicillin. Ở hầu hết các vùng khác (thành thị, đồng
bằng, dùng nhiều kháng sinh, đã từng có dịch thương hàn), vi khuẩn kháng hầu hết
các thuốc trên "gọi là chủng thương hàn đa kháng", phải dùng kháng sinh
fluoroquinolon (thí dụ như ofloxacin).
Kháng sinh diệt vi khuẩn làm chúng phân giải ra nhiều độc tố gây trụy tim
mạch, nên không tấn công bằng liều cao ngay ngày đầu, chỉ dùng liều bằng 2/3
liều điều trị thông thường, rồi tăng lên ở các ngày tiếp theo cho đến khi đạt yêu
cầu giảm sốt và duy trì liều ấy (xấp xỉ liều điều trị thông thường).
Sau khi dùng một đợt, bệnh khỏi, tuy nhiên có một số ít người bệnh tuy
không còn triệu chứng lâm sàng nhưng xét nghiệm phân vẫn còn vi khuẩn. Cần
dùng đợt khác kịp thời để chữa dứt điểm.
Nguyên nhân do nhiễm Shigella
Triệu chứng: tiêu chảy, sốt, đau bụng; có khi là nhẹ hoặc không có triệu
chứng, nhiều trường hợp bị bệnh không được phát hiện. Bệnh lây lan và những
người bị nhiễm Shigella có thể phát tán vi khuẩn qua phân của họ sang người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status