BÀI THẢO LUẬN
MÔN:LOGISTIC
GVHD:NGUYỄN VỊNH
ĐỀ TÀI: “ MÔ HÌNH SCOR TRONG CHUỖI CUNG ỨNG”
NHÓM 9
1. Trần Thị Ngọc Loan
2. Lê Thị Dương
3. Đào Thị Bích Hà
A- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Chuỗi cung ứng (logistic) có vai trò rất quan trọng trong việc kinh doanh của các
doanh nghiệp.Một chuỗi cung ứng bao gồm nhiều quá trình, nhiều công đoạn. Do đó dể
có thể vận dụng một cách triệt để chuỗi cung ứng vào doanh nghiệp thì đòi hỏi nhà quản
trị phải có tư duy tốt trong việc phân tích, áp dụng các mô hình của chuỗi logistic.
Một doanh nghiệp hoạt động được thì đòi hỏi phải có các yếu tố bên ngoài và yếu
tố bên trong. Các yếu tố bên trong như hệ thống thông tin quản lý. Để vận chuyển hàng
hoá hay cách lưu chuyển hàng hoá như thế nào để dể dàng, ít tốn kém và đem lại lợi
nhuận cao thì doanh nghiệp phải áp dụng mô hình 3A, 80-20, bullwhip… Nhưng làm sao
để có được quy trình, hay có thể xây dựng được cơ sở vật chất tốt thì cần phải áp dụng
mô hình Scor trong chuỗi cung ứng. Mô hình Scor cung cấp một bộ các công cụ để giúp
công ty xây dựng bảng vẽ thiết kế chuỗi cung ứng, mô hình này còn định ra các thực
hành tốt nhất, các thước đo hiệu quả hoạt động và các yêu cầu chức năng . Mô hình
SCOR cung cấp cấu trúc nền tảng, thuật ngữ chuẩn để giúp các công ty thống nhất nhiều
công cụ quản lý, như tái thiết quy trình kinh doanh, lập chuẩn so sánh, và phân tích thực
hành tốt nhất. Các công cụ của SCOR tạo khả năng cho công ty phát triển và quản lý cấu
trúc chuỗi cung ứng hiệu quả.
Với mô hình này việc thiết kế chuỗi cung ứng tưởng chừng cực kì khó khăn phức tạp, trở
thành bình thường, đơn giản. Chính vì tầm quan trọng đó mà nhóm 9 đã lựa chọn mô
hình Scor làm đề tài.
B- NỘI DUNG :
I. Tìm hiểu về chuỗi cung ứng :
Logistic cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến
khách hàng.
Logistic có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp.
II. Mô hình SCOR :
1. Giới thiệu sơ lược về mô hình scor:
Mô hình SCOR là mô hình tổng quan, đưa ra hướng dẫn khung để phát triển cấu
trúc chuỗi cung ứng. Bên cạnh SCOR, còn có các mô hình bổ sung khác được phát triển
tương thích với từng tình hình cụ thể của các ngành công nghiệp và chi tiết đến mức ứng
dụng – chẳng hạn như yêu cầu chuẩn về dữ liệu.
Mô hình chuỗi cung ứng bao gồm bốn quy trình: hoạch định, mua hàng, sản xuất và
phân phối. Để đặt chỉ tiêu và quản lý hiệu quả hoạt động, cần định ra bảng các chỉ tiêu
đánh giá cho từng quy trình và cho hiệu quả của tổng thể chuỗi cung ứng.
Phạm vi của chuỗi cung ứng bao gồm các mối tương tác “từ nhà cung cấp của nhà
cung cấp đến khách hàng của khách hàng” – một mạng lưới các tổ chức, công ty kết nối
với nhau bởi các dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính, được tạo ra để đáp ứng nhu
cầu của người sử dụng cuối.
Muốn đảm bảo các chuỗi cung ứng có thể được mô tả một cách trung thực, thống
nhất, tái cấu trúc để đạt được lợi thế cạnh tranh, có thể đo lường, quản lý, kiểm tra và tinh
chỉnh cho phù hợp với mục đích cụ thể.
SCOR –CÔNG CỤ HỔ TRỢ XÂY DỰNG CẤU TRÚC QUY TRÌNH
2.Vai trò của mô hình SCOR trong thực tiễn:
Nhận thấy nhu cầu về một chuẩn thống nhất giữa các ngành, vào năm 1995 PRTM đã
phối hợp làm việc với AMR, một hãng nghiên cứu độc lập chuyên cung cấp các phân tích
trung thực trong lĩnh vực công nghệ phần mềm công ty. PRTM và AMR đã cùng nhau
lập ra Hội Đồng Chuỗi Cung Ứng (the Supply-Chain Council – SCC), ban đầu với 69
công ty thành viên. Trong vòng hơn một năm, ba tổ chức này (PRTM, AMR và SCC), đã
phát triển một tiêu chuẩn gọi là Mô Hình Tham Chiếu Hoạt Động Chuỗi Cung Ứng
1
của năm trước đó. SCOR xác định tỷ lệ tài chính nào gần với kết quả đánh giá kiểm tra
và sử dụng mối quan hệ đó để dự báo các tỷ lệ tương lai. Bằng cách xác định tỷ lệ nào là
có mối liên hệ đối với kết quả đánh giá kiểm tra, phương pháp SCOR cố gắng nhận diện
tỷ lệ nào mà người kiểm tra xem là có ý nghĩa nhất và vì thế có thể được giải thích như là
một nỗ lực để hiểu được ý định của kiểm tra viên.
SCOR sử dụng tiến trình phân tích theo mô hình bậc thang để loại trừ các tỷ lệ mà
mối quan hệ của nó với đánh giá xếp loại của kiểm tra không nhất quán (có nghĩa là, các
tỷ lệ này không có ý nghĩa quan trọng về thống kê). Tóm lại, các tiến trình bậc thang loại
bỏ từng bước các biến tương quan.
Mô hình được phát triển với độ dốc thấp nhằm tránh các vấn đề khai thác dữ liệu
quá mức. Vấn đề này xuất hiện do người ta có thể tìm thấy một sự trùng khớp ngẫu nhiên
nào đó có ý nghĩa thống kê nếu người đó được xem đầy đủ các dữ liệu.
Để lựa chọn những biến như vậy cần phải sử dụng các đánh giá am tường. Các
đặc tính nguyên thủy của SCOR được chọn sau khi xem xét tài liệu về các thất bại của
ngân hàng và thảo luận với các nhân viên kiểm tra ngân hàng.Các kỹ thuật tính lần lượt
được thử nghiệm, và nếu việc kiểm nghiệm cho ra kết quả là một kỹ thuật cải tiến khả
năng của mô hình trong việc tìm ra trường hợp xuống hạng của các định chế xếp hạng 1
hoặc 2 xuống loại 3 hoặc thấp hơn thì các đặc tính đó sẽ được cập nhật.
Bảng 2: Các biến của SCOR và các tỷ lệ của một ngân hàng giả thuyết
Các biến SCOR %/Tổng TSC
1. Vốn tự có 13.59
2. Dự phòng tổn thất trong cho vay và cho thuê 1.31
3. Nợ quá hạn 30-89 ngày 2.23
4. Nợ quá hạn trên 90 ngày 0.89
5. Các khoản nợ không sinh lời 1.51
6. Các tài sản cố định khác 0.45
7. Nợ xóa ròng * 1.18
8. Chi dự phòng các khoản vay không trả được nợ và rủi ro
trong thanh toán*
1.28
Mô hình SCOR bao gồm bốn cấp độ từ khái quát đến chi tiết. Ba cấp độ ban đầu –
quy trình, quy trình con, các hoạt động – được mô tả trong mô hình. Các quy trình hoạt
động cụ thể, hay cấp độ thứ 4, được diễn giải chi tiết bằng biểu đồ dòng chảy công việc,
thường được chuyên biệt hóa tùy theo chiến lược và yêu cầu cụ thể của từng công ty. Vì
thế cấp độ 4 không được bao gồm trong tài liệu xuất bản chính thức của mô hình SCOR.
1.Mô hình SCOR cấp độ 1:(QUY TRÌNH)
Ở cấp độ 1, công ty cần xác định rõ sự phù hợp của các quy trình kinh doanh với
cấu trúc kinh doanh (các đơn vị kinh doanh, các vùng, v.v…) và với các đối tác chuỗi
cung ứng. Từ đó tinh chỉnh các mục tiêu chiến lược của chuỗi cung ứng – những ưu tiên
kinh doanh mà chuỗi cung ứng phải hỗ trợ đắc lực. Cấp độ 1 tập trung vào năm quy trình
chuỗi cung ứng chính (hoạch định(plan), mua hàng (source), sản xuất(make), phân phối
(delivery) và thu hồi(return).
Khi sử dụng các quy trình này, sự tương thích giữa quy trình và các bộ phận của tổ
chức được thiết lập, nhờ đó thấy được các quy trình nào cần phải được chuẩn hóa trong
toàn bộ tổ chức. Các lựa chọn ở cấp độ 1 sẽ quyết định chi phí của hệ thống công nghệ
thông tin, bởi các quy trình xuyên suốt các bộ phận của công ty thường liên quan đến
nhiều ứng dụng, và đi kèm với nó là các chi phí triển khai thực hiện và bảo trì. Hơn nữa,
các quyết định ở cấp độ 1 sẽ chỉ ra cho công ty liệu có thể ứng dụng được những thực
hành tốt nhất nào. Ví dụ như liệu quy trình mua hàng có cần được chuẩn hóa giữa hai hay
nhiều đơn vị kinh doanh hay không? Nếu mục tiêu là gom hàng mua chung của nhiều
đơn vị kinh doanh để tạo sức mạnh đàm phán với các nhà cung cấp, thì quy trình mua
hàng cần được chuẩn hóa.Một khi các quy trình kinh doanh và các bộ phận của tổ chức được thống nhất, bước quan
trọng tiếp theo là định ra các chỉ tiêu hoạt động cho từng mảng của các quy trình thiết
yếu. Mô hình SCOR cung cấp bảng đo lường, cho phép xác định và quản trị hiệu quả
hoạt động chuỗi cung ứng toàn công ty. Bước này là một trong những bước quan trọng
nhất, và cũng khó nhất, trong các công việc liên quan để thiết kế chuỗi cung ứng, bởi vì
nó cần sự đồng thuận trong nội bộ về các mục tiêu và ưu tiên.
có thể sản xuất theo dự đoán về nhu cầu khách hàng (sản xuất để dự trữ), chỉ sản xuất khi
có các đơn hàng trong tay (sản xuất theo đơn hàng), sản xuất trước các bộ phận và sau đó
lắp ghép thành sản phẩm hoàn thiện khi nhận được đơn hàng (cấu hình theo đơn hàng),
hoặc sản xuất hàng dựa trên đặc thù riêng của khách hàng và vì thế yêu cầu các cam kết
cụ thể trước khi bắt đầu (chế tạo theo đơn hàng).
Khi các danh mục quy trình được lựa chọn, chúng sẽ được dùng để mô tả các cấu
hình chuỗi cung ứng. Việc mô tả được thực hiện dưới hình thức một bản đồ chỉ ra chỗ
nào là khách hàng, nhà cung cấp, kho bãi, nhà máy, và nơi tiếp nhận đơn hàng, và sử
dụng danh mục quy trình để diễn giải các dòng chảy hàng hóa và thông tin chính. Về bản
chất, điều này giống như ta chọn từ danh sách các quy trình ra những loại phù hợp rồi
dùng nó vào đúng chỗ cần thiết.
Khi đã có cấu hình, bạn có thể phát triển và thử nghiệm các lựa chọn “tương lai” (“to
be” options). Tuy nhiên, hãy cẩn trọng vì phân tích SCOR cấp độ 2 có thể chỉ ra rằng
không thể tối ưu được tất cả lựa chọn “tương lai” của bạn do các hạn chế đang tồn tại,
như chí phí vận tải quá cao. Nói cách khác, bạn có thể không thể kiểm tra thử tất cả các
lựa chọn mong muốn trong một thời gian ngắn, mà cần phải có một lộ trình để chuyển
đổi dần về cấu hình mong đợi.
3.Mô hình SCOR cấp độ 3:(CÁC HOẠT ĐỘNG)
Tuỳ thuộc vào mô hình cấp độ 1 và 2 mà công ty có thể đưa ra các mô hình hoạt
động thích hợp.Mô hình này sẽ thay đổi nếu mô hình cấp 1,2 thay đổi.
IV. MỤC TIÊU CỦA MÔ HÌNH SCOR:
Mục tiêu chính của Hệ thống SCOR là nhận diện chính xác các định chế xếp
loại 1 và 2 đang trong nguy cơ xuống hạng 3 hoặc kém hơn. Hay nói cách khác mục tiêu
của SCOR là đưa ra đánh giá xếp hạng sao cho dễ hiểu và dễ phân tích hơn xếp hạng
CAEL.
Sự chính xác của hệ thống đưa ra được phân tích cả 2 kiểu sai lầm, thông thường
được gọi là sai lầm loại 1 và sai lầm loại 2. Sai lầm loại 1 là lỗi tiêu cực hay thông thường
hơn là “phóng thích cho tội phạm”. Trong trường hợp này, một lỗi tiêu cực là không phát
hiện ra được trường hợp xuống hạng nào đó trước khi nó xảy ra, vì vậy mức sai lầm loại
1 là tỷ lệ phần trăm các ngân hàng xuống hạng mà mô hình không xác định được.
áp dụng như thế nào?
GS. Kaplan: Thực tế cho thấy có nhiều DN đã không thể triển khai Bảng điểm cân
bằng trong thời điểm thuận lợi, vì dù không có hệ thống quản trị mạnh, thì DN vẫn đang
thành công và kết quả doanh thu vẫn tăng. Đối với những DN đang gặp khó khăn, nhu
cầu áp dụng Bảng điểm cân bằng trở nên bức thiết hơn. Họ cần một hệ thống quản trị
mang tính nguyên tắc, có cơ sở, nền tảng, để chỉ đạo những vấn đề DN có thể làm và đưa
ra những quyết định ưu tiên hết sức khó khăn.
Ví dụ, khi bạn có một quy trình, bạn cần xác định biện pháp, xác định các ý tưởng
chiến lược để triển khai và cần ngân quỹ cho việc triển khai các ý tưởng chiến lược đó.
Thật không may, vào thời điểm khó khăn, rất nhiều ý tưởng phải bị xem lại và bỏ sang
một bên cùng với việc cắt giảm ngân sách.
Những DN tốt nhất biết rằng khi khủng hoảng chấm dứt, họ phải ra khỏi khủng hoảng
để tiến tới giai đoạn phát triển tiếp theo, thậm chí còn khó khăn hơn trước. Muốn đạt
được điều đó, họ cần phải tiếp tục đầu tư vào năng lực con người, quan hệ khách hàng và
các sáng kiến cải tiến.
Trong khó khăn, DN có thể ngừng thực hiện nhiều sáng kiến, ý tưởng, có thể giảm đầu
tư vào một số vấn đề, sa thải một số nhân viên để tồn tại và thoát ra khỏi thời điểm ngặt
nghèo, nhưng họ phải tiếp tục theo đuổi việc xây dựng năng lực nhân sự, ngay cả trong
giai đoạn đi xuống, để xây dựng một DN mạnh hơn. Bạn cần xác định phải tập trung
nguồn lực vào vấn đề, mục tiêu, dự án nào nhằm có được năng lực tốt hơn cho tương lai.
C.KẾT LUẬN:
Qua quá trình tìm hiểu về mô hình SCOR,nhóm 9 nhận thấy rằng mô hình này khá
thú vị.Nó ra đời từ rất lâu ở các nước phát triển va bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam khá
mạnh mẽ trong những năm gần đây.Tất cả các mô hình của chuỗi cung ứng Logistic đều
có những chức năng , mục tiêu,và cách thức thực hiện khác nhau.Nhưng đều chung một
mục đích là tạo nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ khi bắt đầu áp dụng các mô hình này vào kinh doanh,các doanh nghiệp đã có rất
nhiều thuận lợi trong việc kinh doanh của mình.Tuy nhiên,nếu không biêt áp dụng các
mô hình một cách chính xác,hợp lý thi doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn.Mô hình
SCOR cũng vậy,đòi hỏi rất cao sự nhạy bén và hiểu biết của các nhà quản lí trong việc