Tài liệu Sự điều chỉnh số lượng quần thể - Pdf 98



Sự điều chỉnh số
lượng quần thể Quần thể cũng như bất kỳ cá thể
sinh vật nào sống trong môi trường,
không phải chỉ thích nghi một cách bị
động với những thay đổi của môi trường
mà còn cải tạo môi trường theo hướng có
lợi cho mình. Quần thể hay ở mức tổ
chức cao hơn (quần xã, hệ sinh thái) sống
trong môi trường vật lý xác định đều có
cơ chế riêng để duy trì trạng thái cân
bằng của mình với sức chịu đựng của
môi trường, trước hết là điều chỉnh kích
thước của chúng. Dư thừa dân số là điều
rất bất lợi cho quần thể sống trong môi
trường có giới hạn. Do đó, điều
chỉnh số lượng phù hợp với dung tích
sống của môi trường là một chức năng
rất quan trọng đối với bất ký quần thể
nào.
Sự điều chỉnh số lượng của quần thể phải
được xem là chức năng của hệ sinh thái
mà quần thể chỉ là một bộ phận cấu
thành. Vì vậy, nếu cô lập quần thể khỏi
hệ thống (quần xã , hệ sinh thái) chắc
chắn ta không đủ cơ sở để hiểu được cơ
chế điều chỉnh số lượng của quần thể.

chế tổng quát điều chỉnh số lượng của
quần thể chính là mối quan hệ nội tại
được hình thành ngay trong các cá thể
cấu trúc nên quần thể và trong mối quan
hệ của các quần thể sống trong quần xã
và hệ sinh thái. G.V. Nikolski (1961,
1974), khi nghiên cứu về sự điều chỉnh
số lượng ở các quần thể cá đã cho rằng,
nếu điều kiện môi trường suy giảm, nhất
là mức độ đảm bảo thức ăn, thì trong
quần thể xảy ra:
+ Biến dị kích thước của các cá thể, tức
là một bộ phận cá thể tăng trưởng bình
thường, bộ phận còn lại chậm lớn, có khi
còn hình thành dạng còi. Hiệu quả trước
hết là giảm cạnh tranh thức ăn trong nội
bộ loài.
+ Do phân ly về kích thước mà dãy tuổi
bước vào sinh sản lần đầu được mở rộng,
tức là bộ phận có kích thước nhỏ sẽ tham
gia vào đàn đẻ trứng muộn hơn, làm
giảm số trứng đẻ ra trong cùng thế hệ.
+ Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
cũng giảm ở những cá thể tham gia vào
đàn sinh sản, nhất là ở nhóm tuổi cao.
+ Chất lượng sản phẩm sinh dục thấp,
khả năng thụ tinh kém, tỷ lệ trứng ung
(thối) cao, sức sống của con non thấp.
+ Tăng mức tử vong của con non và
những cá thể trưởng thành gầy yếu, già

Con mồi => vật dữ 1 => vật dữ 2
ở đây vật dữ là yếu tố tỉa đàn, khi con
mồi bị khai thác thì đồng thời lượng thức
ăn do nó sử dụng cũng được giải phóng,
lúc đó nguồn thức ăn của vật dữ lại giảm.
Do vậy vật dữ buộc phải giảm số lượng
nhờ cơ chế nội tại. Con mồi của chúng
lại có cơ hội khôi phục lại số lượng, như
vậy điều kiện dinh dưỡng của vật dữ lại
được cải thiện. Quan hệ trên tạo nên
trong thiên nhiên một cân bằng động
giữa số lượng vật dữ và con mồi.
- Ký sinh - vật chủ cũng là mối quan hệ
vật dữ - con mồi, có tác dụng điều chỉnh
số lượng quần thể trong mối quan hệ đó.
- Cạnh tranh xảy ra trong nội bộ loài như
một yếu tố phụ thuộc mật độ. Các cá thể
trong quần thể bao giờ cũng có chung
nguồn sống vì thế cạnh tranh là điều khó
tránh khỏi. Khi mật độ của quần thể gia
tăng, nhất là những loài có tính lãnh thổ
cao, sức chống chịu của môi trường càng
lớn, thì mức sinh sản giảm, mức tử vong
tăng và dĩ nhiên số lượng cá thể của quần
thể giảm. Cũng cần chú ý rằng trong quá
trình tiến hoá, các cá thể trong loài đã
trang bị cho mình tiềm năng phân ly ổ
sinh thái, có thể giải quyết được hiện
tượng cạnh tranh loại trừ, từng xuất hiện
trong mối cạnh tranh khác loài (phân ly

trở nên xấu và cạnh tranh trở nên gay gắt
lại xuất hiện nhiều con cái có cánh.
Chúng ưu thế trong cuộc cạnh tranh nhờ
khả năng rời khỏi nơi chúng sinh ra.
Hoặc như nhiều loài chuột (gồm cả
Lemmus lemmus, L. sibericus ) lập
chương trình di cư để tìm đến nơi thuận
lợi hơn khi mật độ quần thể tăng hoặc khi
xuất hiện những hiệu ứng phụ do mật độ
quá cao như sự thay đổi ngưỡng nội tiết.
Một trong những ví dụ điển hình là sự di
cư của châu chấu (Locustra migratoria),
khi mật độ đông chúng có những biến đổi
nhiều về đặc tính sinh lý, sinh hoá và tập
tính, trong quần thể gồm hai dạng sống.
Một dạng là những cá thể của “pha di
cư” gồm những cá thể thích sống theo
đàn và dễ bị kích động bay khi có mặt, và
nhất là mùi của những cá thể khác, chúng
có cánh dài hơn, hàm lượng mỡ cao hơn,
hàm lượng nước thấp hơn và màu tối hơn
so với những cá thể thuộc “pha không di
cư”, thích sống đơn độc. Khi mật độ
thấp, những cá thể của “pha không di cư”
chiếm ưu thế, nhưng khi mật độ cao, bộ
phận cánh dài, ưa sống đàn tăng lên. Khi
mật độ của nhóm cánh dài tăng đủ mức
thì pheromon của những cá thể trong
quần thể cũng đủ để kích thích như một
tín hiệu khởi động cho sự di cư của pha

nơi ở, nguồn thức ăn dồi dào. Giống như
hệ thống con mồi - vật dữ, vật chủ - ký
sinh mật độ của kiến ảnh hưởng đến
mật độ quần thể cây chủ và ngược lại.
Những ví dụ về mối quan hệ hỗ sinh còn
gặp ở nhiều loài động vật và thực vật
khác nhau.
Hương Thảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status