Tài liệu Đề tài " THỊ TRƯỜNG VIỆC LÀM VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG " - Pdf 98



LUẬN VĂN

Đề tài " THỊ TRƯỜNG VIỆC LÀM VÀ THỊ
TRƯỜNG LAO ĐỘNG "


nhiệm vụ quan trọng. Kết hợp tăng trưởng việc làm với không ngừng nâng
chất lượng lao động việc làm .Để giải quyết vấn đề việc làm và hoàn thiện thị
trường lao động, Đảng và Nhà nước đã ban hành các nghị quyết, văn kiện (nó
không chỉ dừg lại ở nhận thức mà được cụ thể hóa bằng Pháp luật) nhằm hoàn
thiiện, phát triển thị trường việc làm và thị trường lao động ở nước ta, tạo việc
làm cho lực lượng lao động dồi dào. giảm tỉ lệ thất nghiệp, phát triển kinhtế
xã hội theokịp với xu hướng CNH- HĐH và hội nhập nền kinh tế thế giới.

Do khả năng phân tích và tổng hợp còn chưa tốt nên bài viết của
em còn thiếu sót , em mong thầy hướng dẫn, sửa chữa cho bài viết của em
được hoàn chỉnh. Em xin chân thành cảm ơn.

2
CHƯƠNGI: THỊ TRƯỜNG VIỆC LÀM VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM
1. Khái niệm về việc làm
Con người là một nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế – xã hội. Họ trở thành động lực cho sự phát triển khi
họ có nhiều điều kiện sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất và tinh
thần cho bản thân họ và cho xã hội.Để sử dụng sức lao động thì người lao
động phải có việc làm.
1.1) Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và
những điều kiện cần thiết( vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử

- Quá trình tạo việc làm( sản xuất việc làm) là quá trình kết hợp sức lao
động
và các điều kiện vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.
việc làm được trao đổi khi người lao động có nhu cầu tìm việc làm và người
cung cấp việc làm thỏa thuận một mức tiền công hợp lý với sức lao động mà
người lao động bỏ ra.
3. Tiêu chuẩn đánh giá việc làm
Việc làm được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau đây:
- Tính chất địa lý của việc làm: Trong khu vực nông thôn, thành thị.
- Tính chất kỹ thuật của việc làm: Dựa trên các đặc thù về kỹ thuật và
công nghệ, ta có việc làm theo các nghành, nghề, khu vực kinh tế khác nhau.
- Tính chất thành thạo của việc làm: Các yêu cầu về năng lực và phẩm
chất của người lao động như trình độ tay nghề, kinh nghiệm.
- Tính chất kinh tế của việc làm: Vị trí của việc làm trong hệ thống
quan hệ lao động như quản lý, công nhân viên
- Điều kiện làm việc: Tính an toàn lao động và môi trường lao động và
môi trường làm việc.
- Tính chất cơ động của việc làm: Khả năng thay đổi nghề nghiệp, khả
năng làm nhiều hay ít nghề…

4

4. Phân loại việc làm :
4.1. Theo tính chất của việc làm
Phân thành hai loại một loại là việc làm theo hưởng tiền lương hoặc
tiền công và hai là việc làm tự thân có thể là cá nhân hoặc gia đình, có thể là
chủ doanh nghiệp
4.2 Theo thời gian
- Việc làm thời gian đầy đủ hoặc không đầy đủ.
- Việc làm tạm thời và cố định

văn hóa, chuyên môn, sức khỏe…)
2.3) Giá cả việc làm.
Cũng giống như TTLĐ sự tác động của cung cầu việc làm hình thành nên giá
cả sức việc làm. Theo em hiểu giá cả việc làm cũng chính là giá cả sức lao
động, nó được thể hiện ở khoản thu nhập mà người sử dung lao động trả cho
người lao động.Thu nhập là tổng số tiền mà người lao động nhận được trong
một thời gian nhất định, từ các nguồn khác nhau.Các nguồn thu nhập đó có
thể là từ cơ sở sản xuất (tiền lương, từ thưởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp)
trong đó tiền lương là khoản chính mà người lao động nhận được từ người lao
động sau khi hoàn thành một công việc nhất định hoặc sau một thời lao động
nhất định.
Giá cả việc làm phụ thuộc vào tính chất của việc làm , mức độ giản
đơn hay phức tạp của công việc đòi hỏi trình độ cao hay thấp, điều kiện làm
việc…
2. Vai trò của TTVL.
Cung cấp thông tin về việc làm để người cung cấp việc làm và người cần
việc làm có thể gặp gỡ, trao đổi … thỏa thuận với nhau. Người đi tìm việc
làm sẽ có những thông tin cần thiết cụ thể về việc làm đó để xác định xem có
phù hợp với họ không.
Tạo điều kiện cho người lao động phát huy đúng khả năng, năng lực của
bản thân từ đó nâng cao năng suất lao động xã hội.
Giúp ổn định, nâng cao đời sống cho người lao động, phát triển kinh tế đất
nước.

6

Giải quyết vấn đề bức xúc của xã hội đó là tình trạng thất nghiệp, giảm
những tệ nạn của xã hội.
II. Thị trường lao động (TTLĐ)
1. Khái niệm về TTLĐ

người trên tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào qui
mô. Cơ cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ
văn hóa, cơ cấu ngành nghề, sức khỏe… phong tục, tập quán xã hội của một
nước và chính sách phát triển nguồn nhân lực của nước đó.
2.2 Cầu lao động
Cầu lao động là lượng lao động mà người sử dụng lao động có thể thuê
ở mỗi mức giá, có thể chấp nhận được.
Trong nền kinh tế thị trường cầu lao động là cầu dẫn xuất. Lao động là
yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất ra một khối lượng hàng hóa vật phẩm
nhất định, do vậy quy mô của nó phụ thuộc vào mức nhu cầu của hàng hóa do
lao động sản xuất ra cũng như giá cả của hàng hóa đó trên thị trường.
Cầu về lao động được hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức… hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài.
Cầu lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên của
một nước, qui mô, trình độ công nghệ, cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế,
mức tiền công, phong tục tập quán, tôn giáo… và chính sách phát triển kinh
tế.
2.3 Giá cả sức lao động
Sự tác động qua lại giữa cung và cầu về lao động hình thành giá cả sức
lao động được thể hiện trực tiếp ở khoản thù lao mà người lao động nhận
được
Giá cả hay tiền công lao động(W
0
) và số lượng lao động(L
0
) sẽ được
xác định tại điểm giao nhau của hai đường cung và cầu về lao động. E
0
gọi là
điểm cân bằng cung cầu lao động, tại điểm E

tốt hơn. Đây là nét đặc trưng cơ bản, khác với thị trường khác của kinh tế thị
trường
Hai là người lao động là người giữ quyền kiểm soát số lượng và chất
lượng sức lao động, cho nên mối quan hệ lao động là mối quan hệ khá lâu dài.
Để nâng cao năng suất và hiệu quả của quá trình lao động thì việc giữ vững và
phát triển các mối quan hệ lao động là rất cần thiết. Do đó người sử dụng lao
động phải xây dựng một cơ chế khuyến khích, tạo động lực đối với người lao
động một cách phù hợp. Ngoài khuyến khích về tiền công, tiền thưởng, phúc
lợi thì cần kích thích người lao động cả về mặt tinh thần.
Ba là chất lượng lao động của người lao động không đồng nhât. Nó phụ
thuộc vào giới tính, tuổi tác, thể lực, trí thông minh về trình độ chuyên môn,
kinh nghiệm, vv… Vì vậy việc đánh giá chất lao động của người lao động

9

trong quá trình tuyển dụng, trả công phù hợp với từng người gặp khó khăn,
phức tạp.
Bốn là, lao động vừa là đầu vào của quá trình sản xuất, vừa quy định số
lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra. Cho nên, các
chính sách, các quy định về tuyển dụng, tiền lương, bảo hiểmvv… vừa ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, vừa ảnh hưởng đến các chỉ
tiêu kinh tế vĩ mô như giá cả, việc làm.
Năm là thị trường lao động luôn có giới hạn về địa lý theo cung về
chuyên môn theo ngành, nghề. Vì vậy phải nghiên cứu sự chuyển dịch và sự
liên kết giữa các thị trường được phân đoạn theo các dấu hiệu (tiêu thức) khác
nhau giữa các vùng, các nghề…
Sáu là TTLĐ cũng giống như các loại thị trường khác trong hệ thống
thị trường đều chịu sự tác động của pháp luật. Các thể chế, quy chế được luật
hóa và các quy định thành văn bản có tác động đến hành vi và điều kiện của 2
chủ thể người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thỏa thuận

quyết định về tiền lương, việc làm. Hiệu quả kinh tế trong thị trường này
được bảo đảm thông qua việc phân bố và sử dụng nguồn lực rất hợp lý nhưng
vẫn chưa chú ý đúng mức đến hiệu quả xã hội:
- Hệ thống thị trường kế hoạnh hóa tập trung: Nhà nước là người giữ vị
trí quan trọng, trực tiếp trong việc điều chỉnh các mối quan hệ lao động xã hội
vơi mục tiêu bảo đảm việc làm đầy đủ cho mội thành viên trong xã hội. Vai
trò của người lao động, người sử dụng lao động (doanh nghiệp, tổ chức) rất
thấp, từ đó việc sử dụng nguồn lực lao động kém hiệu quả.
- Hệ thống thị trường hỗn hợp: Đây là thị trường mà ở đó vừa có sự can
thiệp của Chính Phủ thông qua kế hoạch hóa tập trung, vừa sự điều tiết của
hệ thống thị trường. Tùy vào đặc trưng về kinh tế, chính trị mà hệ thống thị
trường hỗn hợp ở mỗi nước không giống nhau.
IV. Mối quan hệ giữa TTVL và TTLĐ.
1. TTVL và TTLĐ không tương tác

11

Ở đây TTVL và TTLĐ có sự tách biệt, không liên hệ với nhau. Nó là
hai chủ thể độc lập. Lượng lao động trên TTLĐ không tìm thấy hoặc không
đáp ứng cung cầu việc làm trên TTVL. Với mối quan hệ này trên TTLĐ thì
thừa lượng lao động đang có nhu làm việc còn TTVL số việc làm được tạo ra
vẫn còn trống. Giữa TTVl và TTLĐ có tình trạng như vậy có thể là do sự mất
cân đối hay chênh lệch về chất lượng lao động trên TTLĐ và yêu cầu của việc
làm trên TTVL, Nguyên nhân của tình trạng này là do nguồn nhân lực chưa
được đào tạo đúng với ngành nghề. Một nước mà giữa TTVL và TTLĐ có
mối quan hệ như trên thì tỷ lệ thất nghiệp là rất lớn, gây khó khăn cho toàn
xã hội, nền kinh tế phát triển chậm hoặc không phát triển.
2.TTVL và TTLĐ tương đối đồng nhất.
Nghĩa là giữa TTVL và TTLĐ có sự liwn kết chặt chẽ, có thể xảy ra 2
trường hợp.
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ THỊ TRƯỜNG VIỆC LÀM VÀ THỊ TRƯỜNG
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
I. Thực trạng thị trường việc làm
Đường lối đổi mới, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã tạo ra nhiều điều kiện thuậ lợi để người
lao động có cơ hội tạo việc làm và có việc làm đáp ứng nhu cầu bức xúc về
đời sống, góp phần ổn định đời sống tình hình kinh tế xã hội. Giải quyết vấn
đề lao động việc làm trong 15 năm đổi mới vừa qua đã có những bước tiên
vững chắc, có thể có đánh giá khái quát như sau.
Một là, số việc làm mới được tạo ra ngày càng lớn, theo số liệu báo cáo
chính thức của tổng cục thống kê: việc làm đã tăng từ 30,2 triệu trong năm
1990 lên 40,6 triệu trong năm 2000, bình quân mỗi năm tăng thêm 1
triệu.Trong thời gian 5 năm (1996-2000) số người có việc làm tăng từ 34,6
triệu lên 40,6 tăng 6 triệu ( 17,6%) bình quân hằng năm tăng khoảng 3,2%.
Năm 2001-2003 tạo ra 4,3 triệu việc làm và năm 2004 tạo thêm 1,59 triệu
việc làm. Theo số liệu trên nhận thấy số việc làm ( cung việc làm )được tạo
ra trong nền kinh tế quốc dân có xu hướng gia tăng đáp ứng số lao động tăng
thêm hàng năm trên TTLĐ.

13

Với tốc độ phát triển kinh tế của nước ta trong 5 năm qua (2001-2005) luôn
giữ ở mức trên 7% đã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút lao động vào các
ngành kinh tế.Từ đầu năm 2000 đến tháng 9 năm 2003 có 76 601 doanh
nghiệp đăng kí với số vốn kinh doanh qui đổi là 9,5 tỷ USD gấp 1,7 lần về số
doanh nghiệp và hơn 4 lần về số vốn đăng kí so với giai đoạn 1991 -1999.
Năm 2002 tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đã lên tới 6 triệu
người chiếm 16% tổng số lao động. Trong 4 năm (2001-2004) các hoạt động

việc làm ở nông nghiệp vẫn chưa đáp ứng số lao động dư thừa , và việc làm
chưa có tính ổn định cao(chủ yếu là việc làm theo thời gian ngắn, tạm thời) tỉ
lệ thất nghiệp trá hình còn khá cao.
Bốn là các hình thức của TTVL.
Để giải quyết mối quan hệ cung cầu việc làm, TTVL đã có sự vận động
mạnh mẽ với sự ra đời và hoạt động của các hình thức sau
- Các hội chợ việc làm.
Hội chợ việc làm là một hoạt động mới và hữu ích trong việc thông tin
TTVL ở nước ta. Việc tổ chức hội chợ việc làm trong thời gian vừa qua được
tiến hành khá phong phú và đa dạng với những hoạt động chính là
- Hoạt động giới thiệu và quảng cáo về sự phát triển của
doanh ngiệp qua băng hình, biểu đồ, tờ rơi…
- Hoạt động trao đổi trực tiếp bằng hình thức diễn đàn giữa
người sử dụng lao động, doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề và cơ quan nhà nước
với người lao động, học sinh, sinh viên.
- Hoạt động phỏng vấn, tuyển lao động trực tiếp tại hội chợ
việc làm.
Từ năm 2000 đến nay, cả nước đã tổ chức 20 lần hội chợ việc làm ở các
địa phương khác nhau: TP.HCM, TP.Đà Nẵng, TP. Hà Nội , tỉnh Quảng
Ninh…Các hoạt động của hội chợ việc làm bước đầu đã đem lại kết quả đáng
khích lệ.
Một là nâng cao nhận thức cho các đối tượng xã hội, đặc biệt của người
lao động, người sử dụng lao động và cộng đồng về quỳên và nghĩa vụ của
mình về việc làm.

15

Hai là hội chợ việc làm là nơi cung cấp và trao đổi thông tin về việc
làm nghề nghiệp, đào tạo nghề và đem lại các kết quả tích
- Trao đổi và cung cấp thông tin nhiều chiều từ phía người sử

tổ chức thực hiện. Đến nay đã có khoảng 140 trung tâm dịch vụ việc làm
trong cả nước, bao gồm cả các trung tâm thuộc hội phụ nữ, Tổng liên đoàn lao
động Việt Nam, Hội nông dân, TƯ đoàn. Các trung tâm này hoạt động theo
chức năng của pháp luật quy điịnh, đồng thời còn tổ chức dạy nghề và tổ chức
sản xuất. Hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm hoạt động từ năm 1992 đến
năm 2000 đã tư vấn cho 2 triệu lượt người , dạy nghề gắn với việc làm và bổ
túc nghề cho 70 vạn ngưỡi, giới thiệu việc làm và bổ túc nghề cho 70 vạn
ngưỡi, giới thiệu việc làm và cung ứng việc làm cho 87 vạn người. Trong giai
đoạn 2001-2004 hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm hằn năm đã tư vấn nghề
và tư vấn đào tạo cho 20 vạn lượt người, giới thiệu việc làm và cung ứng việc
làm cho 8 vạn người, đào tọa ngắn hạn và bổ túc nghề cho 10 vạn người.
Mặc dù đã giải quyết được một số lượng đáng kể viẹc làm cho người
lao động nhưng hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm chưa có một cấu trúc tổ
chức thành lập rõ ràng, quy mô hoạt độngcủa hệ thông còn hạn chế, nhỏ bé,
chưa đảm bảo trng bị vạt chất cần thiết và độ ngũ cán bộ không đồng bộ chỉ
mới phục vụ được một tỉ lệ nhỏ số ngừời có nhu cầu việc làm. Các trung tâm
còn chưa thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp nên chưa
có sự gặp gỡ kịp thời giữa cung cầu lao động trên TTLĐ.
II. Quá trình hình thành thị trường lao động ở Việt Nam.
Một trong những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam là quá
trình biến đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và tinh thần cao
nhất, sức lao động không phải là hàng hóa đem trao đổi mua bán. Việc hình
thành TTLĐ tại Việt Nam không phải là một quá trình dễ dàng. Vì được thừa
nhận tương đối muộn hơn, nên TTLĐ hình thành chậm và yếu hơn và trải qua
các giai đoạn sau.
1. Giai đoạn trước năm 1986

17


- Phát triển chương trình quốc gia xúc tiến việc làm và các chính sách
khung. Nhà nước từ vai trò tạo việc làm trực tiếp như thời kì trước đâysang hộ
trợ với tính ưu đãi để khuyến khích tự tạo việc làm.
- Thừa nhận lao động như thứ hàng hóa đặc biệt được trao đổi trên thị
trường và tiền lương được xác định trên cơ sở giá trị sức lao động.
- Quy định mức tiền lương tối thiểu(năm 1993) cho các khu vực kinh tế
trong nước, từng bước hình thành mạng lưới an toàn xã hội cho người lao
động trong điều kiện kinh tế thị thường.
Các cải cách kinh tế và thể chế trên đã tạo điều kiện cho TTLĐ dần dần
được hình thành và phát triển. Hình thức việc làm đầy đủ đang mất dần trong
thời kì này và thay bằng hệ thống hoạt động kinh tế mới của dân cư, các quan
hệ xã hội lao động với sự có mặt của hệ thống việc làm độc lập , sự kinh
doanh, lao động làm thuê và thất nghiệp.
3. TTLĐ Việt Nam thời kì 1993 đến nay.
Trong thời kì này, TTLĐ Việt Nam chuyển sang một bước phát triển
mới, đặc biệt sự ra đời Bộ luật lao động (1994) đã thể chế hóa các quan niệm
về việc làm cũng như các quy định có liên quan đến thị trường lao động, sự
can thiệp của chính phủ đối với TTLĐ, nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống
cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, tác động đồng bộ đến
cung-cầu lao động: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, an toàn vệ
sinh lao động, tiền lương và chế độ trả lương, BHXH, xuất khẩu lao động Bộ
luật lao động cũng đã cụ thể hóa các quy định của hiến pháp nhà nước Cộng
Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về lao động, quản lý lao động, về
mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động về nghĩa vụ,
quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia TTLĐ. Bộ luật lao động đã tạo
điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho sự hình thành và phát triển một thị
trường lao động thống nhất, linh hoạt trên phạm vị cả nước.
TTLĐ Việt Nam được công nhận chính thức từ khi Bộ luật lao động
của nước CHXHCN Việt Nam được thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực


2000 2001 2002 2003
I. Châu Âu 2915 5300 29 -

20

II. Châu Á 27793 28898 45548 74095
1. Hàn Quốc 7316 3910 1190 4226
2.Lào 10698 13731 9000 -
3.Nhật Bản 1329 3249 2202 2264
4.Singapore 84 203 - -
5.Malaysia - 23 19965 39624
6. Đài Loan 7865 7782 13191 27981
7.Các nước khác 501 - - -
III. Châu Phi, Trung Đông 326 700 381 -
IV. Châu Mỹ - 545 - -
V. Các nước khác 935 725 164 1605
Tổng cộng 31468 36168 46122 75700

Theo bảng trên năm 2000 tổng số lao động xuất khẩu là 31.468 triệu người,
năm 2001 tăng 4.700 người, năm 2003 tổng số xuất khẩu là 75.700 người, gấp
2,4 lần so với năm 2000, trung bình hàng năm thời kỳ 2000 – 2003 tăng 36 %/
năm với quy mô tăng là 14.744 người / năm. Khu vực thị trường lao động
được mở rộng nhưng cầu ở khu vực Châu Á vẫn chiếm tỷ lệ lớn đặc biệt là
Malaysia chiếm 53,47%.
1.3 Tình trạng mất cân đối cung cầu trên TTLĐ ngày càng được thu
hẹp
Kết quả điều tra lao động – việc làm 1/7/2004 cho thấy lực lượng lao
động từ đủ 15 tuổi trở lên ở khu vực thành thị có 5,4 % thất nghiệp; khu vực
nông thôn có 1,1% thất nghiệp. so với thời điểm 1/7/2001 tỷ lệ thất nghiệp
của lực lượng lao động nói chung ở khu vực thành thị giảm 0,73%, ở khu vực

chung, nước ta sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo nghành và khu vực kinh
tế đã có sự chuyển biến tích cực. Tuy lực lượng lao động vẫn chiếm tỷ lệ lớn
(>50%) nhưng đã có sự tăng lên của lực lượng lao động trong nghành công
nghiệp – xây dựng và dịch vụ.
Bảng 2. Lao động có việc làm chia theo nhóm ngành
kinh tế 1996 - 2003
số lượng cơ cấu
năm năm

1996 2002 2003 1996 2002 2003
Cả nước 33,978

39,29 39,585

100 100 100

22

Nông-Lâm –Ngư nghiệp 23,431

24,023

25,099

68,96

61,14 58,35
Công nghiệp- xây dựng 3,698 5,912 6,713 10,88

15,05 16,96


23

thời gian qua. Tuy nhiên chất lượng lao động Việt Nam vẫn còn hạn chế về
trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và ý thức nên giảm tính hấp dẫn so với nguồn
nhân lực của các nước khác: Trung Quốc, Philippin, Indonexia.
2 Những mặt hạn chế trên TTLĐ
2.1 Chất lượng lao động còn thấp
Thứ nhất về mặt sức khỏe, thể lực người lao động Việt Nam còn kém
xa
so với các nước trong khu vực về cân nặng, chiều cao, sức bền…
Thứ hai là chất lượng nước ta còn thấp thể hiện rõ qua trình độ văn hóa
và cơ cấu trình độ đào tạo của lao động tham gia hoạt động kinh tế.
Bảng 3. Cơ cấu lao động từ 15 tuổi tham gia hoạt động
kinh tế theo trình độ văn hóa(%)
1996 1997 1998
Chưa biết chữ 5,8 5,1 3,8
Chưa tốt nghiệp cấp I 20,9 20,3 18,5
Đã tốt nghiệp cấpI 27,8 28,1 29,4
Đã tốt nghiệp cấp II 32,3 32,4 32,1
Đã tốt nghiệp cấp III 13,5 14,1 16

Qua số liệu bảng trên, tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm, số lao động
chưa tốt nghiệp cấp I mặc dù giảm nhưng vẫn còn cao, trong khi cơ cấu lao
động theo trình độ cấp I, II, và III chuyển biến chậm, cơ cấu theo trình độ
chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu kinh tế phát triển. Đại bộ phận lực lượng
lao động nước ta không có chuyên môn, nghiệp vụ tập chung chủ yếu ở nông
thôn. Số lượng công nhân được đào tạo nghề giảm sút nghiêm trọng, chỉ có
42% đội ngũ công nhân được qua đào tạo, số công nhân không có tay nghề
hoặc thợ bậc thấp chiếm gần 56% và khoảng 20% lao động không có chuyên

Qua phân tích thực trạng của TTVL và TTLĐ ở nước ta như trên cho
thấy giữa TTVl vàTTLĐ có mối quan hệ qua lại lẫn nhau.TTVL đã hình
thành và phát triển giúp giải quyết lượng khá lớn lực lượng lao động. Hàng
năm đã tạo ra gần một nghing chỗ làm việc cho nền kinh tế quốc dân.với sự
phát triển mạnh mẽ của các loại hình kinh tế đặc biệt là các loại hình doang
nghiệp ngoài quốc doanh và kinh tế hộ gia đình đã tạo ra nhiều việc làm mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status