Tài liệu Sự sinh sản của thực vật bậc cao (Thể giao tử) - Pdf 98


Sự sinh sản của
thực vật bậc cao
(Thể giao tử)
B. Thể giao tử của thực vật Hạt kín .
Sự nảy mầm của bào tử bé và bào tử lớn
của Quyết dị bào tử dẫn đến hình thành
nguyên tản đực hay cái, thể giao tử mang
túi tinh hoặc túi noãn. Cũng có nguồn
gốc như các nguyên tản này, sản phẩm
nảy mầm của bào tử bé và bào tử lớn của
thực vật có hạt là cùng nguồn với Quyết
dị bào tử.
+ Hạt phấn là thể giao tử đực.
Sự hình thành của các bào tử bé, bắt đầu
trong túi bào tử bé và thường kết thúc tại
đây, dẫn đến hình thành hạt phấn.
- Sự chuyển từ bào tử bé sang hạt phấn
Sự chuyển từ bào tử bé sang hạt phấn
luôn luôn diễn ra bởi sự phân bào nguyên
nhiễm, các tế bào ít nhiều được sắp xếp
khác so với hạt phấn sự phát tán và nảy
mầm. Sau khi thụ phấn bầu nhụy phồng
lên, góp phần vào việc hình thành quản.
- Sự đa hình hạt phấn. (H.40)
Các kiểu hạt phấn khác nhau thường gặp
trong các nhóm thực vật có hạt, ở thực
vật Hạt kín, các vách bào tử khác nhau

sporopollenic không có, bề mặt của các
hạt phấn như thế được bao bọc một màng
mỏng đường và protein chứa enzim
esteraza có nguồn gốc của tầng nuôi
dưỡng. Mặc dù tiêu giảm, tuy nhiên nó
vẫn tồn tại cấu tạo và thành phần hóa
sinh giống nhau giữa các hạt phấn của
thực vật thủy sinh và hạt phấn của thực
vật ở cạn.
Trong vách hạt phấn, có các điểm núm là
các vùng ít bền, cho phép thay đổi khối
lượng hạt phấn, tại các điểm núm này
exin được phân hóa và ở ống phấn làm
nhô ra phía ngoài. Số lượng và vị trí các
điểm núm là thay đổi từ loài này đến loài
khác.
+ Túi phôi, thể giao tử cái của thực vật
Hạt kín. Tùy theo số lượng của các bào
tử lớn tham gia hình thành túi phôi,
người ta phân biệt các trường hợp khác
nhau như sau:
- Sự hình thành và sự khác nhau của các
túi phôi.
• Túi phôi đơn mầm nguyên tản (hay túi
phôi đơn bào tử). Chỉ một bào tử lớn nảy
mầm, thông thường là bào tử ở phía dưới.

Túi phôi tám nhân là phổ biến nhất (đa số
thực vật Hai lá mầm và một số thực vật
Một lá mầm): gọi là kiểu Polygonum.

bổ sung của các nhân đối cực như ở họ
Hoà thảo, sự hợp nhất của các túi phôi
bên cạnh, sự len lõi xâm nhập vào túi
phôi của các nhân phôi tâm). (H.41)

• Túi phôi hai mầm nguyên tản (hay túi
phôi hai bào tử). Hai bào tử lớn hoạt
động, túi phôi do sự kết hợp của hai
nguyên tản. Nó còn có thể có 8 nhân và
được xây dựng trên kiểu túi phôi cổ điển
(Allium và Scilla/họ Hành. Nó là do
cộng sinh của hai nguyên tản như trường
hợp của hình 42.

Túi phôi bốn mầm nguyên tản (hay túi
phôi bốn bào tử). Bốn bào tử lớn là khởi
đầu cho bốn nguyên tản. Túi phôi có thể
gồm bốn, tám hay nhiều hơn tám tế bào
(hay nhân). Túi phôi kiểu này có nhiều
thể biến dị, chúng tôi chỉ đề cập một số
trong chúng (hình 43).
Kiểu túi phôi bốn nhân. Ở loài Tulipa
sylvestris (Họ Hành), có lúc túi phôi đơn
cực được xây dựng trực tiếp từ bốn bào
tử lớn do chúng không phân chia. Như ở
họ Rau dừa nước, nó bao gồm một noãn
cầu, hai trợ bào và một nhân trung tâm
mà trong thực tế là bốn bào tử lớn. Vì
vậy, đó chính là bào tử có vai trò của
giao tử cái (trường hợp này làm liên

nhân trung tâm.
Cuối cùng, phân họ Hành và các chi của
Hai lá mầm làm nổi bật lên bởi sự hợp
nhất của ba bào tử lớn. Phần lớn các loài
Lilium là lưỡng bội (2n = 2x = 24), hai
lần phân chia của nhân 3x = 36 được
hình thành và của nhân x = 12 còn lại kết
quả là: noãn cầu, các trợ bào và nhân
trung tâm là x = 12, nhân trung tâm khác,
cũng như ba nhân đối cực là tam bội (3x
= 36).

Túi phôi nhiều hơn tám tế bào (nhân).
Túi phôi 16 tế bào (nhân) của họ
Peneaceae và một số chi khác của Hai lá
mầm trong các họ Măng rô và họ Thầu
Dầu, do hai lần phân chia của mỗi bào tử.
Mặc dù, túi phôi này là bốn cực, chỉ một
noãn cầu hoạt động.
Túi phôi khác kiểu 16 tế bào là một cực
với một noãn cầu, hai trợ bào, hai nhân
trung tâm và mười một tế bào đối cực
đều là đơn bội, như ở loài
Chrysanthemum parthenium (Họ Cúc) vì
loài này là lưỡng bội.
Ở loài Chrysanthemum cinerariaefolium
(2n = 2x = 18), hai bào tử lớn ở mặt
phẳng xích đạo hợp nhất với nhau, rồi
thì, bổng xảy ra hai lần phân chia. Túi
phôi kiểu 12 tế bào: 8 tế bào hay các

xu hướng tiến hoá chung với các dòng
khác, xu hướng xác định bởi sự tiêu giảm
nguyên tản của cơ thể có đời sống ngắn.
Sự tiêu giảm các yếu tố cấu tạo của túi
phôi được thực hiện:
• bởi sự thui chột một số lượng bào tử
nào đó (túi phôi đơn bào tử và hai bào
tử).
• bởi giảm bớt số lượng phân bào nguyên
nhiễm kế tiếp sự phân bào giảm nhiễm.
Cũng vậy, chính túi phôi của họ Rau dừa
nước, hiện nay là một trong những túi
phôi tiến hoá nhất, bởi vì, nó là đơn bào
tử và bào tử bé chỉ trải qua hai lần phân
bào nguyên nhiễm. Trên con đường này,
kết quả của chủng loại phát sinh huỷ bỏ
một trong các lần phân bào nguyên
nhiễm, mà nó dẫn đến túi phôi hai tế bào
gồm hai nhân cần thiết cho thụ tinh kép,
giai đoạn cuối cùng không đạt tới được
(rút ngắn giai đoạn cuối).
+ Nội nguyên tản
Nếu như thể giao tử của Rêu và Quyết là
lưỡng tính, hay phân tính chúng luôn
luôn độc lập với thể bào tử có trước thể
giao tử, chúng không giống với thực vật
Tuế, Bạch quả và thực vật có hạt khác.
Với sự tiến hoá từ túi bào tử lớn đến
noãn, thì nội nhũ và túi phôi, luôn luôn
được võ noãn bao bọc. Do phôi tâm

phần lớn chất sống chủ yếu của hạt phấn
vừa để cấu tạo, vừa để nẩy mầm, nhưng
người ta không thể nói hạt phấn là nội
nguyên tản như trong dòng cái.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status