Da và các sản phẩm của da
ở lớp Chim (Aves) Cấu tạo da
Có hai lớp điển hình, phân hoá theo
lối sống:
- Lớp biểu bì mỏng, tầng sừng ở ngoài
cùng, có bề dày thay đổi tuỳ theo vị
trí của cơ thể (nơi có cọ xát nhiều
thì dày hơn). Trong cùng của biểu
bì là tầng manpighi có sắc tố, chủ
yếu là sắc tố đen và vàng nên da thú
có màu.
- Lớp bì dày hơn biểu bì, gồm mô liên
kết có nhiều mạch máu và các vi thể
cảm giác.
Cấu tạo da thú (theo Raven)
A. Lớp biểu bì; B. Lớp bì; C. Hạ bì
(đệm)
1. Lông; 2. Thụ cảm xúc giác; 3. Cơ
lông; 4. Thể Pacini (áp lực); 5. Gốc
lông; 6. Đầu mút thần kinh tự do; 7.
Mỡ; 8. Mô liên kết; 9. Động mạch;
10. Tĩnh mạch; 11. Tuyến mồ hôi; 12.
Thần kinh;
Trong tầng bì sâu có lớp hạ bì chứa
nhiều tế bào mỡ, tập hợp thành đám
hay thành lớp mỡ dưới da. Lớp mỡ
từ máu, thành phần giống nước tiểu
nhưng lượng nước nhiều. Tuyến mồ
hôi có vai trò bài tiết chất cặn bã và
điều hòa thân nhiệt.
+ Tuyến xạ (tuyến thơm) có cấu tạo
phức tạp, chất tiết có mùi đặc biệt, là
chất đánh dấu và liên quan đến hoạt
động sinh dục và bảo vệ lãnh thổ.
Tuyến này ở các vị trí khác nhau: Gần
hậu môn (cầy, cáo ), trước ổ mắt
(hươu, nai, trâu, bò…), giữa 2 ngón
chân (thú có sừng).
+ Tuyến sữa vừa là nội vừa là ngoại
tiết, có nguồn gốc từ tuyến mồ hôi.
Có hình ống (ở các loài thú thấp) hay
hình chùm (ở các loài thú cao). Có thể
tập trung thành vú, số lượng vú thay
đổi từ 2 - 14 cái. Chất tiết là sữa có
thành phần bao gồm protein, đường
lactoza, muối khoáng ).
+ Tuyến bã có hình chùm, phát triển
mạnh ở thai nhi.
- Vuốt là sản phẩm sừng của vỏ da, có
chức năng bảo vệ các ngón chân hay
là bộ phận để tấn công kẻ thù của
nhiều loài thú (họ mèo). Móng là
phần phụ đặc trưng của bộ khỉ hầu.
Guốc phát triển ở các loài di chuyển
bằng đầu ngón chân trên đất cứng, đó
là các tấm sừng cuốn thành ống hay
thay thế khi bị gãy.
Quỳnh Hoa